Thứ Ba, ngày 10/05/2022, 14:30
Lượt xem: 1555

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đối với cán bộ, đảng viên của Học viện Chính trị khu vực I hiện nay

NGUYỄN VĨNH THANH
Học viện Chính trị khu vực I

(GDLL) - Bài viết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa đạo đức cách mạng, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân đối với cán bộ, đảng viên tại Học viện chính trị khu vực I.

Từ khoá: Chủ nghĩa cá nhân; đạo đức cách mạng; tư tưởng Hồ Chí Minh.

 Ảnh: https://baotanghochiminh.vn

Đặt vấn đề

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng tới công tác xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân là vấn đề cốt yếu, quan trọng đảm bảo cho Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”. Đây cũng là điểm nổi bật, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và thực hành đạo đức trong Đảng cũng như trong xã hội. Hiện nay, tư tưởng đó của Người vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn, có giá trị to lớn trong việc vận dụng vào nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. 

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân

Tư tưởng về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm, ngay từ những ngày đầu chuẩn bị thành lập Đảng, trong cuốn Đường Kách mệnh (1927), Người nêu 23 tiêu chí làm nên tư cách của một người cách mạng chân chính, thể hiện tập trung trên ba mối quan hệ: Đối với mình, đối với người và đối với việc. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng tiếp tục được đề cập trong nhiều văn phẩm, trước tác, đặc biệt là các tác phẩm: Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (1945), Đời sống mới (1947), Sửa đổi lối làm việc (1947), Cần, kiệm, liêm, chính (1949), Phải tẩy sạch bệnh quan liêu (1950), Chống quan liêu, tham ô, lãng phí (1952), Đạo đức cách mạng (1955), (1958), Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969), Di chúc (1969)... Xuyên suốt các tác phẩm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập tới quan niệm về đạo đức cách mạng, nâng cao đạo đức cách mạng, về tính thống nhất trong tu dưỡng đạo đức của con người và Người yêu cầu đó phải là một quá trình thực chất, phục vụ cho sự phát triển của cả cá nhân và xã hội.

Thứ nhất, về nâng cao đạo đức cách mạng

Trước hết, nâng cao đạo đức cách mạng cần thực hành nghiêm các chuẩn mực đạo đức cách mạng: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương con người, sống có tình, có nghĩa và tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một quy luật: “Quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí”[1]. Người yêu cầu: “Đảng ta từ trên đến dưới phải chú trọng việc giáo dục đạo đức cách mạng, tăng cường tinh thần cảnh giác, mở rộng tự phê bình và phê bình”[2], từ đó Người nhấn mạnh: “Phải ra sức học tập chính trị, quân sự, chuyên môn và văn hoá. Phải trau dồi đạo đức cách mạng, phải thường xuyên phê bình và tự phê bình”[3]. Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, nâng cao đạo đức cách mạng là yêu cầu có tính quy luật trong bảo vệ, xây dựng và phát triển Đảng. Nâng cao đạo đức cách mạng có mối liên hệ mật thiết, không thể tách rời với đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong Đảng.

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chủ thể nâng cao đạo đức cách mạng đó là đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Theo Người: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Vì vậy, những người làm trong các công sở càng phải làm gương đời sống mới cho dân bắt chước. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”[4]. Đây là những căn dặn đối với việc thực hành đạo đức cách mạng khi cán bộ, đảng viên nắm giữ những trọng trách liên quan đến quyền lực. Người hết sức lo lắng về sự tha hóa của quyền lực. Quyền lực khi được sử dụng đúng sẽ mang lại hiệu quả to lớn với nhân dân. Ngược lại, nếu quyền lực bị tha hóa sẽ gây ra hậu quả khôn lường đối với sự nghiệp cách mạng, trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của dân chúng và tai hại hơn nữa là làm suy giảm niềm tin của nhân dân với những người được ủy quyền và dẫn tới sự sụp đổ của chế độ.

Đối với tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới vai trò chủ thể của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nâng cao nhận thức và thực hành đạo đức cách mạng. Theo Người: “Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân”[5]. Hồ Chí Minh còn yêu cầu, trong quá trình lãnh đạo: “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”[6]. Với vai trò là chủ thể quan trọng nhất của quá trình nâng cao đạo đức cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cần phải phát huy hiệu quả vai trò tiên phong, gương mẫu của mình, phải lấy tự phê bình và phê bình là nguyên tắc quan trọng nhất để nâng cao đạo đức cách mạng. Lấy đoàn kết làm động lực. Lấy kỷ luật làm thước đo đánh giá tính tự giác trong thực hành đạo đức cách mạng của tổ chức đảng và đảng viên. Lấy niềm tin của nhân dân là thước đo đánh giá hiệu quả thực tế của quá trình nâng cao đạo đức cách mạng và xây dựng văn hóa chính trị của Đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân là lực lượng rất quan trọng trong kiểm tra, giám sát và là động lực để Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng. Mỗi công việc của Đảng phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát. Nếu không vậy thì không biết nắm vững các cách thức tranh đấu và các cách thức tổ chức, không biết liên hợp lợi ích ngày thường và lợi ích lâu dài của dân chúng”[7]. Để phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, Hồ Chí Minh hết sức lưu ý tới việc đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân.

Ba là, về phương pháp nâng cao đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra những phương pháp cơ bản, có tính nguyên tắc để làm cho quá trình này đạt được những hiệu quả tốt nhất, đó là: Phát huy vai trò của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hành nâng cao đạo đức cách mạng; phải tin dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, Người cho rằng: “Cán bộ muốn cho xứng đáng, phải làm được việc. Muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc giây leo trời”[8]. Do đó, Đảng và cán bộ có phương pháp đúng đắn để thực hành đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức, trách nhiệm, hiệu quả phục vụ nhân dân.

Theo Hồ Chí Minh, nâng cao đạo đức cách mạng gắn với quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đảm bảo và thực hành phương pháp “xây” đi đôi với “chống”. Đây là phương pháp quan trọng hàng đầu trong quá trình nâng cao đạo đức cách mạng của tất cả các chủ thể, nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, cần coi trọng quá trình tự tu dưỡng, tự rèn luyện, bởi theo Người, đây là phương pháp quan trọng để nâng cao đạo đức cách mạng.

Thứ hai, về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân và biện pháp phòng, chống

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu phải phòng, chống, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân trong mỗi cán bộ, đảng viên và coi đó là một trong những nội dung quan trọng để xây dựng một Đảng Mácxít cách mạng chân chính. Theo Người, chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch “nội xâm”; là vết tích xấu xa của xã hội cũ, “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”[9]. Đó là thứ vi trùng mẹ, đẻ ra nhiều bệnh khác như lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô... không chỉ đối lập với đạo đức cách mạng mà còn là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại, dù ít hay nhiều cũng vẫn sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên nỗ lực “một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng” và chừng đó nguy cơ về sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn. Chừng nào những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa vẫn còn xâm nhập vào “nội bộ Đảng” thì chừng đó nguy cơ phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ vẫn hiện hữu và chừng đó vẫn sẽ làm giảm nguồn sức mạnh nội lực của Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng cầm quyền và chế độ ta. Vì vậy, thường xuyên, liên tục phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân chính là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức cơ sở đảng.

Nhận diện rõ về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh đã chỉ ra các chủ thể và biện pháp nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Các biện pháp này trở thành những vấn đề mang tính sống còn, những nhiệm vụ bắt buộc để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Đối với tổ chức đảng, Người cho rằng: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”[10].Đồng thời, Đảng phải tiến hành các giải pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức từ trong Đảng nhằm làm cho Đảng là môi trường cho sự hoàn thiện đạo đức cách mạng của đảng viên, là nơi không có bất cứ điều kiện và cơ hội nào cho chủ nghĩa cá nhân phát tác. Muốn vậy, cần thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt Đảng, thường xuyên đấu tranh tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén và rất cần thiết.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương thức tự phê bình và phê bình như là yếu tố cơ bản để hoàn thiện nhân cách người đảng viên. Thực hiện thường xuyên, nghiêm túc tự phê bình và phê bình là một trong những cách thức hữu hiệu để chống lại chủ nghĩa cá nhân như Người từng chỉ rõ: “Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân”[11].

Bên cạnh đó, cần đảm bảo các nguyên tắc trong quá trình đấu tranh tẩy trừ chủ nghĩa cá nhân như: Tính hệ thống, toàn diện, hiệu quả và quét sạch chủ nghĩa cá nhân phải đảm bảo tính thường xuyên, liên tục, đồng tâm, quyết tâm cao độ; tôn trọng, tạo điều kiện phát huy những động lực cá nhân chính đáng của người lao động phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa nâng cao đạo đức cách mạng và quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Đây là những nguyên tắc căn cốt trong đấu tranh phòng, chống và loại bỏ chủ nghĩa cá nhân.

2. Giải pháp nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đối với cán bộ, đảng viên của Học viện Chính trị khu vực I hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương, trong những năm vừa qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bước đầu tạo chuyển biến tích cực, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên; góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, tiêu cực trong Đảng.

Trong thời gian qua, Đảng bộ Học viện Chính trị khu vực I đã đặc biệt coi trọng, tăng cường nhận thức và tích cực vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân gắn với việc học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Bộ Chính trị và Trung ương. Đặc biệt là Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Đồng thời, tích cực thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nhằm nâng cao hiệu quả học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu lý luận và công tác phục vụ của cán bộ, đảng viên ở Học viện Chính trị khu vực I.

PGS.TS. Nguyễn Vĩnh Thanh, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện thông qua báo cáo đề dẫn tại Hội thảo "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân cho cán bộ, viên chức, người lao động của Học viện Chính trị khu vực I theo tư tưởng Hồ Chí Minh", ngày 14/12/2020 tại Học viện Chính trị khu vực I.


Vận dụng những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh để nâng cao hơn nữa đạo đức cách mạng, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân đối với cán bộ, đảng viên tại Học viện chính trị khu vực I, trong thời gian tới, cần thực thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, mỗi cán bộ, giảng viên, viên chức, người lao động của Học viện cần thống nhất nhận thức và ý thức sâu sắc về sứ mệnh, tầm nhìn và giá trị cốt lõi của quá trình đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Chính trị khu vực I. Từ nhận thức đó, mỗi quyết sách, hành động cụ thể của mỗi cán bộ, viên chức, người lao động trong thực thi nhiệm vụ được giao cần hướng vào đảm bảo và tuân thủ tuyệt đối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng, giữ vững bản chất trường Đảng, lập trường, bản lĩnh chính trị.

Mỗi cán bộ, viên chức, người lao động của Học viện cần nhận thức đúng về phòng, chống và tẩy trừ chủ nghĩa cá nhân đi liền với chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu. “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”[12]. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, nhất là người đứng đầu cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc rà soát, hoàn thiện hệ thống quy định, quy chế, nội quy công tác của cơ quan, đơn vị; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ; cụ thể hóa quyền hạn, trách nhiệm của tập thể và cá nhân. Thời gian tới, Học viện Chính trị khu vực I cần chú trọng xây dựng, ban hành nghị quyết hướng dẫn về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” gây mất đoàn kết trong nội bộ theo nguyên tắc lấy “phòng” làm chủ yếu, cơ bản, lâu dài, nếu phải chống thì đảm bảo không có vùng cấm, kiên quyết, triệt để, đúng người, đúng tội, “kiên quyết chống những hiện tượng phớt kỷ luật, phớt tổ chức[13].

Thứ hai, cần đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất để nâng cao chất lượng của công tác xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay. Đảng uỷ tiếp tục cụ thể hóa nội dung công tác xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân tại Học viện Chính trị khu vực I cho phù hợp với từng đối tượng. Tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề còn tồn tại, yếu kém, gây bức xúc trong cán bộ, viên chức, người lao động tại các đơn vị trực thuộc. Gắn thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị với việc triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Nghị quyết của Đảng bộ Học viện Chính trị khu vực I cũng như các nhiệm vụ được giao.

Thứ ba, thực hiện nghiêm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, đơn vị. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu phải không ngừng tự tu dưỡng, rèn luyện, xây dựng ý thức đúng đắn về trách nhiệm phục vụ nhân dân; tự quản lý, kiểm soát chính mình trước cám dỗ vật chất và tham vọng quyền lực; đề cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự; chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Chú trọng việc xây dựng hình ảnh người cán bộ, đảng viên trường Đảng trung thành, tận tụy, liêm khiết, gần dân, trọng dân, hết lòng phục vụ nhân dân, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc, có niềm tin, bản lĩnh vượt qua những khó khăn, thách thức vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Về trí tuệ phải là những người có đủ năng lực để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, không ngừng học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt. Về uy tín phải là những người có phẩm chất đạo đức, nhân cách và tác phong mẫu mực, nói đi đôi với làm, được nhân dân tin yêu, là tấm gương cho nhân dân noi theo. Về đạo đức, phải đi đầu trong thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích tập thể, dám xả thân cống hiến cho lý tưởng của Đảng, hạnh phúc của nhân dân.

Thứ tư, phát huy mạnh mẽ vai trò tự tu dưỡng, tự giác rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân của cán bộ, đảng viên. Để phát huy sức mạnh từ sự tự tu dưỡng, tự giác của mỗi người trong xây dựng Đảng tại Học viện thì mỗi cán bộ, đảng viên cần phải không ngừng rèn luyện tính Đảng. Đây là nhiệm vụ có tính thường xuyên, có ý nghĩa lớn lao, trực tiếp để giải quyết các vấn đề đặt ra từ thực tiễn công tác hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ “cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”[14], coi đây là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên trong mọi mặt công tác. Qua đó, giúp cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trí lực, thể lực và tâm lực để khơi dậy tiềm năng, trí tuệ và phát huy sự sáng tạo trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Kết luận

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng tại Học viện Chính trị khu vực I hiện nay chính là sự quán triệt nghị quyết của Đảng và sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và những chỉ dẫn quý báu của Người về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân nói riêng. Mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cấp uỷ, đơn vị phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng; giữ vững lập trường, tư cách đạo đức, lối sống và phong cách, chuẩn mực của những nhà giáo, xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng của Đảng. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên, từng cấp ủy đảng phải tích cực rèn luyện phẩm chất đạo đức, nghiên cứu đề xuất những giải pháp thiết thực để quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng: Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ [15]. 

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tập: 5, 8, 9, 10, 11, 15.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.



[1] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tập 8, tr.35.

[2] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 9, tr.509.

[3] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 10, tr.99.

[4] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 5, tr.122.

[5] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 5, tr.289.

[6] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 5, tr.290.

[7] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 5, tr.289.

[8] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 5, tr.240.

[9] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 11, tr.602.

[10] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 15, tr.547.

[11] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 11, tr.608-609.

[12] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 15, tr.547.

[13] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 8, tr.280.

[14] Hồ Chí Minh (2011), Sđd, tập 15, tr.547.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II, tr.237.