Thứ Ba, ngày 10/05/2022, 14:16
Lượt xem: 284

Học viện Chính trị khu vực I xây dựng khối đoàn kết, thống nhất theo tư tưởng Hồ Chí Minh

NGUYỄN VĨNH THANH
Học viện Chính trị khu vực I

(GDLL) - Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Vì thế, việc vận dụng những chỉ dẫn của Người vào xây dựng khối đoàn kết, thống nhất tại Học viện Chính trị khu vực I hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, sứ mệnh, tầm nhìn và mục tiêu xây dựng Học viện ngày càng phát triển vững mạnh, đáp ứng yêu cầu đặt ra. Bài viết tập trung làm rõ những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, vận dụng tư tưởng của Người vào xây dựng khối đoàn kết, thống nhất tại Học viện Chính trị khu vực I hiện nay.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; đoàn kết; Học viện Chính trị khu vực I.

Ảnh: tuyengiao.vn

Đặt vấn đề

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết là một hệ thống quan điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tổ chức, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm đoàn kết rộng rãi các giai tầng trong xã hội, phát huy sức mạnh của dân tộc, quốc tế để thực hiện thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong thời kỳ đổi mới, việc nhận thức toàn diện, đầy đủ và vận dụng những tư tưởng này sẽ góp phần quan trọng để tăng cường sức mạnh dân tộc, tạo thế và lực của quốc gia trong xây dựng, phát triển đất nước và đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch. Với giá trị và ý nghĩa quan trọng đó, Học viện Chính trị khu vực I (Học viện) luôn nỗ lực xây dựng khối đoàn kết, thống nhất theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, sứ mệnh, tầm nhìn và mục tiêu xây dựng Học viện ngày càng phát triển vững mạnh và bền vững.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết gồm những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, về vai trò, vị trí của đại đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng

Hồ Chí Minh khẳng định đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là mục tiêu nhiệm vụ hàng đầu, xuyên suốt, là yêu cầu khách quan, nhân tố quyết định mọi thành công của sự nghiệp cách mạng. Người luôn căn dặn, trong từng thời kỳ cách mạng, phải điều chỉnh chính sách, cách thức tập hợp, đoàn kết lực lượng phù hợp với yêu cầu, đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn của cách mạng, điều này được Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta, đoàn kết là thắng lợi của chúng ta”[3, tr.145]; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”[5, tr.186]; “Bây giờ còn một điểm rất quan trọng cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết”[5, tr.589]; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”[4, tr.120].

Thứ hai, về lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc

Đại đoàn kết toàn dân tộc theo Hồ Chí Minh là đại đoàn kết toàn dân. Người đã sớm khai thác, phát huy sức mạnh kết hợp nội lực với ngoại lực để tạo thành sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam. Đoàn kết toàn dân là đoàn kết với tất cả nhân dân không phân biệt dân tộc thiểu số hay đa số, tín ngưỡng, trai, gái, giàu, nghèo. Đoàn kết với mỗi người dân cụ thể, với toàn thể đông đảo quần chúng, Người khẳng định: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”[3, tr.244]. Người chỉ rõ, đoàn kết trong Đảng phải là hạt nhân để đoàn kết toàn dân tộc. Và để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là phải tôn trọng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, luôn ý thức được rằng giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Thứ ba, về hình thức tổ chức đại đoàn kết

Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất với mục đích là nhằm đoàn kết rộng rãi tất cả các tổ chức yêu nước vào một khối thống nhất, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng. Người nêu rõ: “Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc. Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc”[4, tr.452]. Người chỉ rõ những nguyên tắc để xây dựng và củng cố Mặt trận là: Phải xây dựng trên nền tảng liên minh công - nông - trí. Liên minh này có vững, Mặt trận mới bền vững, lâu dài được. Đây là yếu tố cần, còn yếu tố đủ là liên minh này phải có sự đoàn kết rộng rãi với các tầng lớp nhân dân khác. Nói một cách hình tượng, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh giống như những lớp vòng tròn, xuất phát từ một tâm điểm, càng ra ngoài, các vòng tròn càng tỏa rộng; khẳng định đại đoàn kết trong Mặt trận phải do Đảng lãnh đạo mới được củng cố và phát triển bền chặt. Đảng Cộng sản Việt Nam là thành viên của Mặt trận. Đảng lãnh đạo Mặt trận thông qua tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.

Thứ tư, về nguyên tắc đại đoàn kết

Để xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc, bền chặt, theo Hồ Chí Minh cần thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản:

Một là, đại đoàn kết phải xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích quốc gia, dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai cấp, giai tầng trong xã hội. Bởi, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giai cấp dân tộc là một cấu trúc hữu cơ, không tách rời. Người khẳng định: Chỉ có thể đoàn kết nếu có chung một mục đích, chung một số phận, nếu không suy nghĩ như nhau, không theo đuổi mục đích chung, không có chung số phận thì dù có kêu gọi đoàn kết, thì đoàn kết không thể có được. Đồng thời, để đoàn kết toàn dân, Hồ Chí Minh còn chỉ ra những điểm chung là độc lập, tự do, người người ai cũng được tự do, ấm no, hạnh phúc. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của toàn dân tộc, là chìa khóa vạn năng, điểm hội tụ thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.

Hai là, phải tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân. Tiếp thu và kế thừa những quan niệm về dân, vai trò của dân trong lịch sử dân tộc Việt Nam như: Nước lấy dân làm gốc; đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân. Đồng thời, quán triệt nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Hồ Chí Minh khẳng định: “gốc có vững, cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”[2, tr.502]; Dân là chủ thể của khối đại đoàn kết, là gốc rễ, nền tảng, nguồn sức mạnh vô địch của khối đoàn kết dân tộc, dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản và hệ thống chính trị cách mạng. Vì vậy, để xây dựng được khối đoàn kết, thống nhất, Người luôn luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gần dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, học hỏi ở nơi dân, tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân.

Ba là, đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, đại đoàn kết lâu dài, chặt chẽ. Đại đoàn kết phải được dựa trên lập trường của giai cấp vô sản, theo ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin, có tổ chức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nền tảng là liên minh công - nông - trí. Sở dĩ phải như vậy vì vai trò của công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để, nông dân chiếm số lượng đông đảo và bị bóc lột nặng nề, trí thức đóng vai trò quan trọng và vẻ vang trong xây dựng chủ nghĩa xã hội... Để đấu tranh góp phần xây dựng và kiến thiết đất nước cần phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết để nó ngày càng vững chắc, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng ở mỗi thời kỳ, giai đoạn: “Nền có vững nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi”[3, tr.244].

Bốn là, đại đoàn kết phải chân thành, thẳng thắn, thân ái, đoàn kết phải gắn với tự phê bình và phê bình. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”[5, tr.362]. Trong đấu tranh, Người yêu cầu phải đề cao tính phê bình trên cơ sở chân thành, thẳng thắn, xây dựng, phê bình việc chứ không phê bình người. Người phê bình thì phải “thật thà, không nể nang, không thêm bớt”, “chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc”. “Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”[2, tr.272].

Thứ năm, về phương pháp đại đoàn kết

Hồ Chí Minh chỉ dẫn và yêu cầu thực hiện các phương pháp:

Một là, phương pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục. Mục đích của phương pháp này là để thức tỉnh mọi người, để mọi người tự nguyện, tự giác tham gia đoàn kết thành một khối để thực hiện những mục  tiêu   nhiệm  vụ  cách  mạng. Theo Hồ Chí Minh, nội dung tuyên truyền phải vừa đáp ứng những nguyện vọng, quyền lợi cơ bản của quần chúng, vừa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng. Nội dung tuyên truyền, vận động sát hợp với từng đối tượng, từng cộng đồng xã hội, từng nước. Hồ Chí Minh yêu cầu: Viết phải ngắn gọn, dễ hiểu, vừa trí thức, vừa bình dân, vừa sâu sắc, vừa giản dị; phải bằng ngôn ngữ thông thường gần gũi với mọi người dân Việt Nam. Nói để ai cũng hiểu được, hiểu được thì nhớ được, nhớ được thì làm được. Muốn quần chúng tin theo, người cán bộ tuyên truyền phải nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, là một tấm gương, một mẫu mực từ lời nói đến việc làm, có sức lôi cuốn, thu phục quần chúng.

Hai  là,  phương  pháp  tổ  chức.  Theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng và củng cố đoàn kết phải có phương pháp tổ chức khoa học, tăng cường năng lực lãnh đạo, hoạt động của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể. Đặc biệt chú ý vai trò của cấp ủy và cán bộ làm công tác mặt trận, dân tộc, các đoàn thể quần chúng...

Ba là, kết hợp đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm mở rộng đến mức cao nhất trận tuyến cách mạng và thu hẹp đến mức thấp nhất trận tuyến kẻ thù. Người lưu ý, phương pháp xử lý mối quan hệ ba chiều này là sự kết hợp giữa chiến lược, cứng rắn về nguyên tắc và mềm dẻo trong biện pháp, thực hiện phương châm dĩ bất biến ứng vạn biến.

2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết vào xây dựng khối đoàn kết, thống nhất tại Học viện Chính trị khu vực I hiện nay

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Học viện luôn coi việc giữ gìn, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quyết định sự thành bại trong thực hiện mọi nhiệm vụ chính trị được giao. Đoàn kết, thống nhất chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới những thành tựu đạt được rất đáng tự hào trong gần 70 năm xây dựng và phát triển của Học viện. Tuy nhiên, không phải khi nào, lúc nào Học viện cũng có được sự đoàn kết thống nhất, chặt chẽ, hiệu quả như mong muốn. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, Học viện đang tập trung đổi mới, sáng tạo trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, công tác quản lý thì việc vận dụng những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh vào xây dựng khối đoàn kết tại Học viện có ý nghĩa vô cùng quan trọng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, sứ mệnh, tầm nhìn và mục tiêu xây dựng Học viện ngày càng phát triển vững mạnh, đáp ứng yêu cầu đặt ra. Trong thời gian tới, để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế còn tồn tại, Học viện cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết vào xây dựng khối đoàn kết, thống nhất ở Học viện hiện nay

Các cấp uỷ đảng, cán bộ, đảng viên cần tiếp tục quán triệt sâu rộng hơn nữa về sự cần thiết và tầm quan trọng của việc xây dựng và thực hành đoàn kết rộng rãi tại Học viện. Mỗi người, trên cương vị của mình nhận thức rõ trách nhiệm, tự giác, tích cực tham gia xây dựng và thực hành đoàn kết, nhất trí từ tư tưởng cho đến hành động. Đoàn kết, đồng thuận trên cơ sở kiên định mục tiêu, lý tưởng, từ đó, vận dụng vào thực hành đầy đủ nhất, thiết thực nhất, hiệu quả nhất các giá trị cốt lõi của di sản đại đoàn kết Hồ Chí Minh, để sao cho mỗi tổ chức, cá nhân đều thấy mình là một phần quan trọng không thể thiếu, chung tay tạo dựng và hành động vì mục tiêu cao cả ấy. Bên cạnh đó, cần kiên quyết đấu tranh với các hành vi phá hoại, chia rẽ truyền thống đoàn kết, thống nhất của Học viện. Cán bộ, đảng viên phải nâng cao nhận thức trong đấu tranh chống lại căn bệnh hẹp hòi như Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo: “Bệnh này rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải. Trong, thì bệnh này ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hoá, v.v., đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”[2, tr.276]. Và, hơn lúc nào hết, cần trở về đúng với chỉ dẫn của Người: “...phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó”[2, tr.278-279].

Thứ hai, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp cán bộ, đảng viên, người lao động, củng cố và phát huy sức mạnh khối đoàn kết tại Học viện

Giải pháp này gắn với việc tăng cường vai trò của Ban Tuyên giáo Đảng ủy Học viện trong thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quan điểm, đường lối, chủ trương về xây dựng khối đoàn kết, thống nhất. Bên cạnh đó, cấp ủy, các tổ chức đoàn thể của Học viện cần tham gia, phối hợp chặt chẽ để cán bộ, đảng viên, người lao động nhận thức rõ những tư tưởng bất mãn, động cơ không trong sáng, những hành vi lệch lạc hòng chia rẽ khối đoàn kết nội bộ. Trong đó, vai trò của chi bộ ở các đơn vị rất quan trọng. Chi ủy chi bộ phải thường xuyên giáo dục, động viên, nhắc nhở đảng viên luôn nêu cao ý thức xây dựng, củng cố và phát triển khối đoàn kết trong chi bộ, góp phần đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến, tự chuyển hoá”, xây dựng chi bộ, Đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Cần nắm bắt rõ diễn biến tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên thông qua sinh hoạt tư tưởng trong mỗi kỳ sinh hoạt chi bộ thường kỳ, qua họp chuyên môn... Việc nắm bắt tư tưởng của cán bộ, đảng viên trong từng chi bộ, Khoa, Phòng, Ban phải được tiến hành thường xuyên, liên tục chứ không phải chỉ khi phát hiện có vấn đề thì mới tiến hành xử lý. Cần giải quyết khi những biểu hiện, nguy cơ gây mất đoàn kết vừa manh nha chứ không phải để sự việc trở nên phức tạp. Ngoài ra, công tác tuyên truyền còn được thể hiện thông qua tăng cường vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học, tổ chức các Hội thảo về chủ đề xây dựng khối đoàn kết, thống nhất. Sản phẩm của các đề tài khoa học, Hội thảo này sẽ cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn, góp phần thiết thực vào định hướng tư tưởng và hành động trong xây dựng khối đoàn kết, thống nhất tại Học viện.

Thứ ba, tiếp tục phát huy tinh thần gương mẫu trong xây dựng khối đoàn kết, thống nhất của cán bộ, đảng viên, người lao động, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị

Để xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ Học viện, chúng ta phải coi trọng: “phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu”, theo tinh thần “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”, nói phải đi đôi với làm. Đồng thời, Đảng bộ, Ban Giám đốc phải có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”[1, tr.293] của Học viện.

Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị phải thực sự công bằng, công tâm trong xử lý công việc, xử lý các mối quan hệ, thực sự là trung tâm đoàn kết trong tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị. Xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc của cơ quan, tổ chức đảng, xác định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân, đơn vị. Đây chính là cơ sở quan trọng bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Học viện.

Thứ tư, thường xuyên và nghiêm chỉnh thực hành tự phê bình và phê bình, coi đây là một trong những phương thức để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ Học viện

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc để phát triển Đảng, là thang thuốc “trị bệnh cứu người”, qua đó củng cố và tăng cường kỷ luật của Đảng, phát huy dân chủ và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Tự phê bình và phê bình phải trên tinh thần nêu gương, tự giác, chân thành, thẳng thắn, khách quan, trung thực, không mệnh lệnh, áp đặt... Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải gương mẫu “tự soi, tự sửa”, giúp đồng chí, đồng nghiệp “tự soi, tự sửa”, để mỗi người có tinh thần trách nhiệm hơn, đoàn kết cùng nhau hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; luôn tin tưởng, tôn trọng cán bộ của mình, lắng nghe, chia sẻ, động viên kịp thời và sẵn sàng giải quyết những kiến nghị chính đáng của đồng chí, đồng nghiệp; tiếp thu với tinh thần cầu thị ý kiến góp ý của đồng chí, đồng nghiệp, kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót; không ngừng học hỏi kinh nghiệm của đồng chí, đồng nghiệp; biết biến quyết tâm của Đảng bộ, của Học viện thành quyết tâm của mỗi cán bộ, đảng viên, viên chức và người lao động.

Thứ năm, xử lý hài hoà, thoả đáng vấn đề lợi ích ở Học viện hiện nay

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”[5, tr.547] . Từ chỉ dẫn đó của Người, chúng ta cần nhận thức rõ mối quan hệ giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích của tập thể; ý thức rõ được bổn phận, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Trong tư tưởng mỗi cá nhân phải vì mục đích chung và lợi ích chung của tập thể để cùng hướng về một mối. Mỗi cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động của Học viện phải không ngừng nỗ lực, có khát vọng phát triển Học viện, phấn đấu làm việc tốt với tinh thần cống hiến, đổi mới và sáng tạo để Học viện ngày càng phát triển vững mạnh. Về phía Học viện, bên cạnh việc tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động, thì phải không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi nhóm đối tượng trong Học viện. Đồng thời, phải đánh giá khách quan, trân trọng, tôn vinh những tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp, cống hiến cho sự nghiệp phát triển của Học viện. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện tốt nhất để tất cả cán bộ, đảng viên, người lao động trong Học viện được học tập, nghiên cứu, lao động, giải trí, phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực, từ đó góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác được giao với chất lượng, hiệu quả cao.

Thứ sáu, phải có lòng bao dung, độ lượng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau

Từng cán bộ, đảng viên, người lao động của Học viện phải thực sự sống với nhau “có lý, có tình”, bao dung, độ lượng, đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, như Hồ Chí Minh đã khẳng định: Bao dung, không có nghĩa là “che chở, bảo hộ” khiến cho đồng chí mình ngày càng “hư hỏng”, mà bao dung thì phải thường xuyên chia sẻ, hướng dẫn, giúp đỡ, gắn với kiểm tra, giám sát để đồng chí mình ngày càng tiến bộ, phát triển hơn. Còn đoàn kết cũng không có nghĩa là cả nể hay cố kết, co cụm với nhau. Đoàn kết phải gắn liền với tự phê bình và phê bình. Mỗi cán bộ, đảng viên, người lao động của Học viện phải luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như thói quen sinh hoạt mỗi ngày. Khi tự phê bình và phê bình của mỗi cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động của Học viện được thực hiện như “lẽ tự nhiên” trong sinh hoạt hàng ngày, trở thành một phần của văn hóa trường Đảng thì “khát vọng” xây dựng và phát triển Học viện ngày càng vững mạnh về mọi mặt của chúng ta sẽ sớm trở thành hiện thực.

Thứ bảy, tăng cường kiểm tra, giám sát việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Đây vừa là nhiệm vụ, vừa là giải pháp quan trọng nhằm siết chặt, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của tổ chức đảng; chủ động phát hiện, phòng ngừa, xử lý nghiêm minh những biểu hiện gây mất đoàn kết. Để thực hiện tốt giải pháp này, cần đưa nội dung thực hiện các công tác này thành một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm. Phải kiên quyết đấu tranh loại trừ những người cơ hội, kích động, xúi giục gây mất đoàn kết nội bộ. Cấp ủy phải chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát, đề cao trách nhiệm tự kiểm tra, tự soi, tự uốn nắn, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên. Phát hiện sớm và tập trung xử lý dứt điểm tình trạng mất đoàn kết từ khi những biểu hiện này mới manh nha hình thành. Đồng thời, cần thắt chặt hơn nữa mối liên hệ giữa cấp uỷ đảng, chính quyền với cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động. Đây không chỉ là trách nhiệm của riêng tổ chức đảng và thủ trưởng các đơn vị mà đó còn là trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội và của bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động. Do đó, qua hoạt động của mình, các tổ chức chính trị - xã hội cần không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đi sâu, đi sát các thành viên của tổ chức mình để củng cố mối liên hệ giữa Đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động ngày càng bền chặt hơn nữa.

Kết luận

Học tập và làm theo tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là góp phần thiết thực nâng cao nhận thức, hành động của mỗi cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động trong toàn Học viện nhằm xây dựng, củng cố khối đoàn kết, đồng thuận tại Học viện. Và để hiện thực hoá điều đó, cần thấu triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện mới. Mỗi cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động phải luôn tâm niệm, phát huy vai trò, trách nhiệm của mình trong giữ gìn, củng cố truyền thống đoàn kết trên cơ sở của tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, cùng chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị được giao, xây dựng Học viện phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[2] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[3] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 13.

[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 14, 10, 11, 15.