Thứ Hai, ngày 17/06/2024, 09:05

Chính sách an sinh xã hội đối với việc làm bền vững của lao động di cư ở Việt Nam - thực trạng và một số vấn đề đặt ra

Nguyễn Đình Quỳnh - Trương Bảo Thanh
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) - Di cư được xem là cơ hội thúc đẩy sự phát triển đồng đều, rộng khắp và giảm sự khác biệt vốn có giữa các vùng. Lao động di cư được coi là lực lượng rất quan trọng cho nền kinh tế - xã hội của đất nước. Bài viết làm rõ quan điểm về việc làm bền vững và đặc điểm sinh kế của lao động di cư, chính sách của Đảng và Nhà nước cho lao động di cư ở Việt Nam hiện nay, nêu lên một số thành tựu, chỉ ra hạn chế và đưa ra kiến nghị điều chỉnh chính sách giúp lao động di cư tiếp cận với việc làm bền vững.

Hải Dương: Truyền thông di cư an toàn, hỗ trợ phụ nữ di cư hồi hương  (nguồn: vnanet.vn)


Đặt vấn đề

Các nghiên cứu về di cư ở Việt Nam của Ngân hàng Thế giới và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc cũng chỉ ra rằng lao động di cư là một trong những lực lượng lao động chịu nhiều thiệt thòi do mô hình kinh tế tăng trưởng nhanh. Dù tham gia vào lực lượng lao động chính thức và phi chính thức nhưng nhiều lao động di cư vẫn không được hưởng những quyền lợi từ các chính sách an sinh xã hội (ASXH) như: việc làm, giảm nghèo, bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội và các dịch vụ xã hội cơ bản khác. Do đó, việc trợ giúp người lao động di cư tiếp cận với việc làm bền vững là cực kì thiết thực, giúp họ bảo đảm cuộc sống, ASXH và yên tâm cống hiến cho nền kinh tế của đất nước.

1. Quan niệm về việc làm bền vững và đặc điểm điều kiện sinh kế của lao động di cư

1.1. Việc làm bền vững

Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), việc làm bền vững/việc làm thỏa đáng (decent work) là tổng hợp những khát vọng của con người về đời sống việc làm của họ. Nó liên quan đến các cơ hội làm việc hiệu quả và mang lại thu nhập công bằng, an sinh tại nơi làm việc và bảo trợ xã hội cho mọi người; đem lại những triển vọng tốt hơn cho sự phát triển cá nhân và thúc đẩy hội nhập xã hội; được tự do thể hiện những mối quan tâm và được tổ chức, tham gia vào các quyết định ảnh hưởng tới đời sống của họ, có sự bình đẳng về cơ hội và đối xử cho tất cả nữ giới và nam giới[5].

Việc làm bền vững không chỉ là có được một công việc. Nó liên quan đến các cơ hội việc làm với năng suất lao động cao và đem lại một thu nhập công bằng, an toàn tại nơi làm việc và bảo trợ xã hội cho gia đình. Đó là gốc rễ của sự gắn kết xã hội - nơi nào thiếu vắng việc làm bền vững, nơi đó cũng tồn tại sự nghèo đói, bất bình đẳng, căng thẳng xã hội hay xung đột xã hội công khai. Việc làm mà bó buộc con người trong nợ nần, nghèo đói hay khiến họ phải đối mặt với các mối nguy hại, phân biệt đối xử và không an toàn, khiến cho các cá nhân - hay những nền kinh tế mà họ là một phần trong đó - không thể phát triển hay tận dụng được những tiềm năng của mình.

Cũng theo ILO (2017), nhiều người có việc làm bền vững sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và bao trùm hơn. Tăng trưởng được cải thiện sẽ đưa đến nhiều nguồn lực hơn để tạo ra việc làm bền vững. Việc làm bền vững vừa là động lực vừa là kết quả của sự phát triển bền vững và do đó, nó được lồng ghép trong toàn bộ Chương trình Nghị sự 2030. Chuyển đổi nền kinh tế để đạt được sự phát triển bền vững thông qua việc sử dụng người lao động trong các hoạt động ngày càng có năng suất cao hơn, đồng thời bảo đảm rằng họ có thể phát huy hết tiềm năng của mình về nhân phẩm và bình đẳng là vấn đề trọng tâm của Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển bền vững.

1.2. Đặc điểm điều kiện sinh kế của lao động di cư

Lao động di cư ở Việt Nam chủ yếu là thanh niên, di cư từ nông thôn ra thành thị và tập trung ở các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất. Đặc biệt, lao động di cư hầu như chưa được qua đào tạo nghề hay chuyên môn nghiệp vụ. Đây cũng là tình hình chung ở Việt Nam với 78% người lao động chưa qua đào tạo, do vậy:

Một là, người lao động di cư luôn thiệt thòi và ít được quan tâm hơn.

Theo Oxfam, tỷ lệ người lao động di cư thất nghiệp cao hơn lao động địa phương gấp 15 lần[1] và việc làm của họ cũng thiếu ổn định hơn. Lương thấp, thu nhập không đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu. Tăng năng suất ban đầu là khích lệ bằng thưởng, nhưng dần dần trở thành định mức và làm cho công nhân bị áp lực cao hơn trong công việc, phải làm việc nhiều hơn. Vì lương thấp, họ buộc phải chấp nhận làm thêm giờ để có thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống. Theo Dự án Better Work của ILO thì tình trạng làm thêm giờ trong các doanh nghiệp dệt may vượt quá giờ quy định của pháp luật là rất phổ biến. Thành quả 8h làm việc, 8h nghỉ ngơi và 8h vui chơi của phong trào công đoàn quốc tế đang bị bào mòn dưới hình thức phổ biến hiện nay là làm thêm giờ tự nguyện “trá hình” như trường hợp của Việt Nam[7].

Đa số người lao động di cư nghèo, nhưng không được tham gia chương trình giảm nghèo và vay vốn tạo việc làm. Do không có hộ khẩu, nên họ thường phải chi trả nhiều hơn so với người lao động địa phương liên quan tới các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, điện nước sinh hoạt….

Hai là, người lao động di cư luôn ở thế yếu và dễ bị lạm dụng.

Lao động di cư trong khu công nghiệp dễ bị lạm dụng bởi người sử dụng lao động. Do thế yếu của họ trên thị trường lao động, nên người lao động di cư thường chấp nhận điều kiện làm việc kém thuận lợi hơn để có việc làm. Rất nhiều người làm việc không có hợp đồng lao động, hay hợp đồng lao động miệng như thợ may, nhân viên bán hàng trong các cửa hàng tư nhân, nhà hàng, người lau chùi vệ sinh tự do, thợ khuân vác, cửu vạn, bốc xếp[9]...

Bên cạnh đó, lao động nữ còn dễ là nạn nhân của quấy rối tình dục nhưng vì cảm giác e ngại, sợ hãi nên họ thường giấu kín. Con em của lao động di cư cũng chịu rất nhiều thiệt thòi về cả giáo dục, y tế[9].

2. Thực trạng trợ giúp tiếp cận việc làm bền vững cho lao động di cư

2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho lao động di cư ở Việt Nam

Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước luôn chú ý tới mục tiêu tạo sự bình đẳng cho các đối tượng lao động, trong đó có lao động di cư - là nhóm dễ bị tổn thương và gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách ASXH. Gần đây nhất, Đại hội XIII của Đảng đã đặc biệt chú trọng tăng cường quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, ASXH, an ninh con người. Đại hội đề ra định hướng: “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”[4, tr.116]. Đại hội cũng xác định “xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội”[4, tr.148]. Như vậy, với chủ trương này, Đảng và Nhà nước tập trung quản lý phát triển xã hội bền vững bao gồm cả quản lý phát triển ASXH bền vững, trên cơ sở phát triển hệ thống ASXH toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế.

Cũng tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng chỉ rõ cần thực hiện theo Quyết định số 488/QĐ-TTg, ngày 14/4/2017, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án “Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội 2017 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030”. Theo đó, cần tập trung xây dựng mô hình hệ thống trợ giúp xã hội đa tầng, tiên tiến, hiệu quả, theo hướng đa dạng, toàn diện cả vật chất và tinh thần, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân; bảo đảm người dân được hỗ trợ kịp thời từ Nhà nước, các tổ chức và cộng đồng khi gặp rủi ro; phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội theo quy hoạch đáp ứng nhu cầu của đối tượng cần chăm sóc xã hội; xây dựng mô hình cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội toàn diện, hướng đến năm 2030 cứ 5.000 người dân có một nhân viên công tác xã hội, trợ giúp xã hội chuyên nghiệp[3, tr.64].

Hơn nữa, Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách liên quan tới việc làm, như: chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn; chính sách hỗ trợ tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm và các nguồn tín dụng khác; chính sách hỗ trợ phát triển tổ chức dịch vụ việc làm; các chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện; các chính sách về an toàn, vệ sinh lao động... Ngoài ra, Chính phủ triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án lớn trên phạm vi cả nước, như Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp - Việc làm và An toàn lao động giai đoạn 2021 - 2025; Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025… Và để đáp ứng những dịch vụ ASXH thiết yếu và bảo vệ quyền lợi cho lao động di cư, Chính phủ đã đưa nhóm lao động này vào đối tượng điều chỉnh của một số đạo luật, như Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Việc làm, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm y tế...

Mặt khác, Việt Nam đã có những cam kết với cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ lao động di cư trong nước thông qua việc ký và phê chuẩn một số công ước và tuyên ngôn quốc tế, như Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế, Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa... Chẳng hạn như Điều 12 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: “Bất cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó”[2, tr.7].

Có thể thấy rằng, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới chính sách ASXH nói chung và việc trợ giúp xã hội cho người lao động di cư nói riêng. Điều này thể hiện sự đúng đắn, sáng suốt của Đảng vì dù có làm bất kì ngành nghề nào thì lực lượng lao động này lại đang đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, do vậy, họ xứng đáng được nhận những chính sách tốt nhất, thuận lợi nhất để họ yên tâm làm việc, ổn định sinh kế.

2.2. Thực trạng trợ giúp tiếp cận việc làm bền vững cho lao động di cư ở Việt Nam

2.2.1. Thành tựu

Từ cuối năm 2021 đến năm 2022, với những điều chỉnh về chủ trương, chính sách và dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, địa phương, cộng đồng quốc tế, tình hình dịch bệnh được kiểm soát, cả nước thực hiện thích ứng an toàn, linh hoạt, từng bước bình thường mới các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.

Kết quả, từ năm 2022 đến đầu năm 2023 thị trường lao động Việt Nam có nhiều điểm sáng, lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập của người lao động đều tăng lên; tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm và tỷ lệ lao động phi chính thức đều có xu hướng giảm. Điều này cho thấy dưới sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ và cả hệ thống chính trị nhằm phục hồi kinh tế, hỗ trợ người lao động, doanh nghiệp đang gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid - 19, thị trường lao động nói chung, lao động di cư nói riêng đang từng bước phục hồi.

Tính trong ba tháng đầu năm 2023, lực lượng lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên là 51,1 triệu người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 26,4%, cao hơn 0,3% so với ba tháng đầu năm 2022. Trong đó, lao động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 39,0%, tương đương gần 20,0 triệu người, tiếp đến là lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 33,9%, tương đương 17,3 triệu người. Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng thấp nhất, 27,1%, tương đương 13,8 triệu người. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,25%, giảm 0,07% so với năm 2022[8]. Cũng tính trong thời gian này, thu nhập bình quân của người lao động là 7,0 triệu đồng, tăng 640 nghìn đồng so với năm 2022[8].

Về bảo hiểm cho người lao động, tính đến hết năm 2022, diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tự nguyện tiếp tục được mở rộng và vượt chỉ tiêu đề ra. Có khoảng 17,5 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, đạt 38,08% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 14,3 triệu người tham gia bảo hiểm tự nguyện, đạt 31,18% lực lượng lao động trong độ tuổi[6]. Năm 2023, chính sách về bảo hiểm cho người lao động đã có nhiều sự thay đổi tích cực, có lợi hơn cho người lao động, điều này giúp họ yên tâm trong công việc và hưởng đầy đủ các chính sách an sinh cũng như phúc lợi xã hội. Là cơ sở để có “việc làm bền vững”.

Kết quả này đạt được là nhờ có sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ trong việc triển khai các chính sách hỗ trợ người dân, người lao động và người sử dụng lao động, đặc biệt là lao động di cư.

2.2.2. Hạn chế

Rào cản lớn nhất của lao động di cư vẫn là vấn đề nhập khẩu, lao động di cư phải trình hộ khẩu cho các thủ tục hành chính khi đăng ký sở hữu quyền sử dụng đất, đăng ký xe, vay vốn ngân hàng, tiếp cận với chăm sóc y tế có bảo hiểm, thanh toán tiền điện, nước... hoặc các chương trình mục tiêu xóa đói, giảm nghèo. Đặc biệt, việc nhập học cho con cái tại nơi nhập cư khá khó khăn. Không ít gia đình nhập cư phải chấp nhận trả tiền học phí cao hơn cho con học ở những trường tư. Trong điều kiện thu nhập hết sức ít ỏi, nhiều gia đình phải để con ở lại quê cùng người thân. Thêm vào đó, nhà ở cũng là một khó khăn đối với người lao động di cư “lao động di cư ra thành thị và các khu công nghiệp chủ yếu đi thuê nhà, chiếm tới 86,3%. Tỷ lệ lao động di cư hiện đang sở hữu nhà rất thấp, chỉ chiếm 2,9% và khoảng 10,8% lao động di cư đi ở nhờ nhà của người thân, họ hàng. Diện tích nhà ở và tiện nghi sinh hoạt hết sức hạn chế”[10].

Thông tin tuyên truyền, cập nhật còn hạn chế, theo nghiên cứu của Oxfam, có đến 67,2% lao động di cư không biết nơi cung cấp thông tin và tư vấn về Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế[10]. Chính vì vậy, chính sách về bảo hiểm cho người lao động chưa được thực hiện triệt để, hầu hết đều chưa có hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động chưa rõ ràng nên người lao động di cư chịu rất nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận với các phúc lợi cũng như chính sách xã hội.

3. Kiến nghị điều chỉnh chính sách việc làm bền vững cho lao động di cư

Thứ nhất, tạo cơ hội việc làm ở nơi lao động xuất cư.

Nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy xu hướng lao động di cư là lý do kinh tế, người lao động di cư ra thành thị, khu công nghiệp là do các lực đẩy từ nông thôn; đó là thiếu đất canh tác, năng suất lao động nông nghiệp thấp dẫn đến thu nhập của người dân bấp bênh, cuộc sống không ổn định. Do đó, cần tạo việc làm cho khu vực nông thôn, điều này sẽ làm giảm dòng di cư. Hơn nữa, phân tán, phát triển các khu công nghiệp về khu vực nông thôn và các đô thị nhỏ sẽ giảm dòng di cư lao động này.

Thứ hai, bảo đảm tính pháp lý định cư đối với nơi nhập cư lao động.

Lao động nhập cư có vai trò rất quan trọng, họ đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội nơi họ mới đến. Nhưng về việc nhập cư đối với họ còn nhiều khó khăn, rào cản lớn nhất của họ vẫn là hộ khẩu thường trú. Do đó, việc quan tâm đến vấn đề nhập cư của các đối tượng này sẽ bảo đảm ổn định cuộc sống cho họ về nhà ở, con cái được học hành, khám chữa bệnh và sử dụng các dịch công khác. Đây là yếu tố rất quan trọng để người lao động di cư có sự bền vững trong công việc.

Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính theo hướng thuận lợi, công bằng cho lao động di cư.

Cũng như chính sách nhập cư, người lao động di cư thường gặp nhiều khó khăn, hay bị phân biệt đối xử trong việc hưởng thụ các dịch vụ công vì vậy cần thay đổi các thủ tục hành chính, bảo đảm cho lao động di cư được thực hiện một cách thuận lợi, công bằng. Nếu như vậy, bản thân lao động di cư cũng sẽ thấy được tôn trọng và lợi ích hợp pháp của họ cũng được bảo đảm để họ yên tâm ổn định sinh kế. Chính quyền địa phương, chủ sở hữu lao động tại các khu công nghiệp cũng cần cung cấp nhà ở với chi phí hợp lý cho công nhân, để họ có điều kiện nuôi dạy con cái trong môi trường lành mạnh.

Thứ tư, đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về an sinh xã hội

Cần nghiên cứu xây dựng và sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động, Luật Cư trú, Luật Dạy nghề, Luật Công đoàn, Luật Nhà ở, Luật Giáo dục, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế...; nghiên cứu ban hành các văn bản pháp luật nói chung về ASXH cộng đồng nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện đồng bộ, nghiêm túc, hiệu quả các quy định, chính sách, chế độ ASXH cho lao động di cư. Phối hợp đồng bộ chính sách ASXH cho lao động di cư với các chính sách kinh tế - xã hội khác, như chính sách việc làm, chính sách tiền lương và thu nhập, thực hiện các chương trình hỗ trợ tích cực, các chương trình mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững.

Kết luận

Cùng với sự phát triển của xã hội, việc người dân di cư lao động là tất yếu, theo thời gian, xu hướng này có thể sẽ tiếp tục gia tăng. Đảng và Nhà nước cũng có rất nhiều chính sách để giúp lao động di cư tiếp cận với việc làm bền vững. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong quá trình thực hiện dẫn đến kết quả chưa thật sự được như mong đợi. Chính vì thế, trong giai đoạn mới để bảo đảm quyền lợi hợp pháp, công bằng cho lực lượng lao động quan trọng này, Đảng và Nhà nước cần điều chỉnh chính sách ASXH, bảo đảm cho họ có việc làm ổn định, bền vững, thu nhập tốt. Có vậy, họ mới có thể yên tâm lao động, chung tay phát triển đất nước giàu mạnh.

Tài liệu tham khảo:

[1] Báo cáo lao động Việt Nam, http://www.oxfamblogs.org/vietnam

[2] Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1976), Điều 12, Mục 1 (Được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Có hiệu lực ngày 23/3/1976, căn cứ theo điều 49).

[3] Nguyễn Hữu Dũng (2021), “Quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững giai đoạn 2021 - 2030”, Tạp chí Cộng sản, (số 970), tr.61-67.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[5] Https://www.ilo.org/global/topics/decent-work/lang-en/lang--en/index.htm

[6] Hoạt động hệ thống bảo hiểm xã hội, https://baohiemxahoi.gov.vn

[7] Oxfam International (2004), Trading Away Our Rights: Women working in global supply chain, http://laodong.com.vn

[8]Tổng cục Thống kê (2023), Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý I năm 2023, Hà Nội, https://www.gso.gov.vn

[9] Thực trạng lao động di cư trong nước và sinh kế của họ ở Việt Nam hiện nay, http://congdoan.vn

[10] Xây dựng hệ thống an sinh xã hội bảo đảm cho lao động nông thôn di cư hòa nhập xã hội thành thị chuyển đổi nghề nghiệp ổn định và bền vững, https://www.tapchicongsan.org.vn

Đọc thêm

Nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Lã Minh Tuyến

(GDLL) - Bảo đảm an sinh xã hội trở thành vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước. Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã cơ bản xây dựng được một hệ thống an sinh xã hội đồng bộ, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập. Bài viết tập trung làm rõ thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối với chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Phát triển nguồn lực lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Lê Quang Hiển

(GDLL) - Nguồn lực lao động có vai trò trọng yếu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trên cơ sở phân tích chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực trạng sử dụng nguồn lực lao động Việt Nam hiện nay trên ba khía cạnh: số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn lực lao động, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.

Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Trần Thị Thanh Mai

(GDLL) - Chính quyền địa phương là chủ thể có vai trò quan trọng trong tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người. Trước yêu cầu bảo vệ, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam, việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương là yêu cầu cấp thiết đang được đặt ra. Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương. Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương trong giai đoạn mới.

Giải pháp thực hiện Cam kết của Việt Nam về "Net zero" vào năm 2050

Tác giả: Phạm Tú Tài

(GDLL) - Tại Hội nghị các Bên tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP 26), Việt Nam đã ký cam kết đạt mức phát thải ròng khí nhà kính bằng không vào năm 2050 (Net Zero). Bài viết tập trung phân tích những tác động của phát thải khí nhà kính, dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu; nỗ lực của Việt Nam trong giảm phát thải khí nhà kính và đề xuất một số giải pháp Việt Nam cần thực hiện trong lộ trình "Net Zero" vào năm 2050.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu Chính phủ số ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Vũ Thị Hoài Phương

(GDLL) - Trong quá trình xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam, đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò hết sức quan trọng. Thời gian qua, đội ngũ cán bộ, công chức đã nỗ lực hết mình để thực hiện chuyển đổi số, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại. Bài viết nghiên cứu về thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, góp phần xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam hiện nay.