Thứ Hai, ngày 17/06/2024, 09:06

Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

Trần Thị Thanh Mai
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) - Chính quyền địa phương là chủ thể có vai trò quan trọng trong tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người. Trước yêu cầu bảo vệ, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam, việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương là yêu cầu cấp thiết đang được đặt ra. Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương. Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương trong giai đoạn mới.

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học: “Thành tựu thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam” nhân kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người 1948 và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên 1993  (Ảnh: Văn Điệp, nguồn: vnanet.vn)


Đặt vấn đề

Tổ chức thực hiện tốt pháp luật về quyền con người, là thực thi “tinh thần thượng tôn pháp luật” của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, theo Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII “chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết còn hạn chế, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp”[1; 90]. Hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc quyền con người không được tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy đầy đủ trong thực tiễn. Trong khi, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là một trong những đặc trưng quan trọng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người thuộc trách nhiệm của nhiều chủ thể, nhưng trực tiếp và thường xuyên là chính quyền địa phương. Việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay là đòi hỏi cấp thiết, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

1. Khái quát chung về tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương

Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý đời sống xã hội, nhưng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, pháp luật cũng là phương tiện ghi nhận và bảo đảm quyền con người.

Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người, bao gồm:

1) Hướng dẫn thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người; 2) Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người; 3) Tạo điều kiện cần thiết để các chủ thể liên quan tự mình thực hiện các quy định pháp luật về quyền con người; 4) Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật quyền con người.

Như vậy, tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương là quá trình bao gồm nhiều hoạt động do các cơ quan nhà nước của chính quyền địa phương thực hiện theo thẩm quyền, nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo quy định của pháp luật.

2. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

2.1. Những kết quả đạt được

Về hướng dẫn thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người, chính quyền địa phương sẽ ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo phạm vi thẩm quyền hoặc khi được uỷ quyền quy định chi tiết vấn đề được giao trong Luật hoặc các văn bản khác của cơ quan nhà nước ở Trung ương. Ngoài ra, chính quyền địa phương còn ban hành văn bản hành chính thông thường dưới dạng các thông báo, hướng dẫn,… hoặc trực tiếp hướng dẫn các cá nhân, tổ chức trong quá trình thực hiện pháp luật về quyền con người. Nhìn chung, việc hướng dẫn thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương có nhiều thay đổi về tính kịp thời, chất lượng văn bản hướng dẫn và cách thức thực hiện. Đến nay, tình trạng văn bản trái pháp luật, không hợp hiến, hợp pháp đã được cải thiện đáng kể. Các hình thức hướng dẫn thực hiện pháp luật về quyền con người ngày càng chuyên nghiệp, dễ tiếp cận hơn. Chẳng hạn như việc xây dựng bộ thủ tục hành chính, đang được sắp xếp theo các trường thông tin để các cá nhân tổ chức dễ tiếp cận và thực hiện.

Về phổ biến, giáo dục pháp luật, nhìn chung, các địa phương đều rất coi trọng công tác này, nhất là các địa bàn có trình độ dân trí thấp, sinh hoạt không tập trung. Việc phổ biến, giáo dục pháp luật, đang được thực hiện với nhiều phương pháp, nội dung tin bài đa dạng,... phù hợp hơn với các đối tượng khác nhau.

Về tạo điều kiện cần thiết các cá nhân, tổ chức có thể tự mình thực hiện các quy định pháp luật, đây là công việc khó, cần sự chủ động, có liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau và cần có nguồn lực vềcon người, vật chất. Hiện nay, các điều kiện về kinh tế - xã hội, hạ tầng về giao thông, điện, trường,...; sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, tính chuyên nghiệp trong quản lý nhà nước đã ngày càng được cải thiện, là những thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện pháp luật. Chẳng hạn, bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do đi lại cho công dân, các địa phương đã có một hệ thống giao thông ngày càng hoàn thiện, kết nối đến từng hộ gia đinh. Chất lượng đường giao thông cũng bảo đảm tính an toàn tốt hơn; các phương tiện giao thông cũng không ngừng phát triển với nhiều tiện ích đa dạng, giá thành dễ tiếp cận. Trong các dịp lễ tết, để phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, các địa phương có nhiều biện pháp huy động xã hội chung tay để có chuyến xe “không đồng” đưa công nhân về quê ăn tết,...

Về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật khi các điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì các hành vi vi phạm pháp luật cũng ngày càng đa dạng, phức tạp, khó kiểm soát. Các hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước thời gian qua cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 20 - CT/TTG ngày 17/5/2017 về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp. Theo đó, một mặt, các cơ quan nhà nước thực hiện tốt công tác phối hợp trong thanh tra, kiểm tra để tránh chồng chéo, và các đối tượng thanh tra, kiểm tra không mất quá nhiều thời gian, nhân lực phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra. Luật Thanh tra năm 2022 đã có quy định về việc các cơ quan thanh tra, kiểm toán có thể sử dụng kết quả của nhau, tránh việc trùng lặp nội dung thanh tra, kiểm toán giữa các cơ quan gây khó cho doanh nghiệp. Các cơ chế kiểm soát, phối hợp xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đã được các cơ quan, chính quyền tích cực triển khai. Thông qua đó, bảo vệ và thúc đẩy có hiệu quả các quyền con người trong thực tiễn

2.2. Hạn chế và nguyên nhân

Về hướng dẫn thực hiện pháp luật về quyền con người, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc hướng dẫn thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương vẫn còn bộc lộ những bất cập như: các văn bản pháp luật về quyền con người do chính quyền địa phương ban hành, nhằm chi tiết hóa vấn đề được giao hoặc quy định những vấn đề được phân cấp theo thẩm quyền, vẫn còn những văn bản chưa phù hợp, khả thi, tính hiệu lực và hiệu quả chưa cao.

Thực tiễn, nhiều quy định pháp luật, hướng dẫn còn phức tạp, làm cho người dân gặp khó khăn khi thực hiện quyền của mình. “Theo phản ánh của người dân, doanh nghiệp ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương nhất là ở cơ sở vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu phát sinh thêm thủ tục hành chính, hồ sơ, giấy tờ không đúng quy định; một số dịch vụ công trực tuyến thực hiện còn phức tạp, không đơn giản, thuận lợi;...”[2].

Về phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người, mặc dù công tác phổ biến giáo dục pháp luật luôn được các địa phương coi trọng, nhưng hiệu quả của công tác phổ biến giáo dục pháp luật về quyền con người còn hạn chế “do thiếu hiểu biết pháp luật nên quyền lợi của người dân đôi khi bị xâm hại, nhiều trường hợp cán bộ, công chức nhà nước thực thi công vụ không đúng pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân nhưng người dân vẫn không biết và không biết sử dụng pháp luật để đòi hỏi, yêu cầu các cơ quan bảo vệ pháp luật bảo vệ quyền lợi cho mình. Hạn chế nhận thức pháp luật khiến cho nhiều người không biết đâu là đúng, đâu là sai, đòi hỏi, đưa ra những yêu cầu không có căn cứ pháp lý, hoặc gây ra những tranh chấp, khiếu kiện không cần thiết”[4]. Hạn chế trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới việc tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người trong thực tiễn. Vì thiếu hiểu biết pháp luật nên trong nhiều trường hợp người dân dễ bị lợi dụng, bị kích động, lôi kéo vào các hành vi bất hợp pháp, thậm chí tự tập đông người ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Do thiếu hiểu biết pháp luật về quyền con người nên người dân cũng gặp khó khăn trong thực hiện quyền của mình và dễ bị các chủ thể có liên quan xâm phạm.

Hạn chế trong việc tạo các điều kiện bảo đảm để người dân thực hiện pháp luật về quyền con người. Nhìn chung, các cơ quan thuộc chính quyền địa phương với chức năng, nhiệm vụ của mình, luôn quan tâm đến việc tạo các điều kiện để người dân có thể thực hiện được các quyền của mình theo pháp luật. Tuy nhiên, việc bảo đảm các điều kiện để người dân thực hiện được pháp luật về quyền con người, hiện nay còn nhiều bất cập:

Thứ nhất, có những quyền đã được Hiến pháp ghi nhận, nhưng lại thiếu cơ sở pháp lý để thực hiện, như quyền biểu tình, quyền lập hội,...

Thứ hai, việc tổ chức thực hiện pháp luật còn gây nhiều khó khăn cho các cá nhân, tổ chức khi thực hiện quyền của mình. Theo khảo sát chỉ số PCI năm 2022, chưa tới ⅓ các doanh nghiệp được khảo sát đồng ý rằng: Chi phí cấp phép kinh doanh có điều kiện không vượt quy định, thời gian làm thủ tục không kéo dài… “việc phối hợp trong xử lý hồ sơ thủ tục hành chính còn chưa hiệu quả; chưa kịp thời tiếp nhận, xử lý khó khăn, vướng mắc của người dân, doanh nghiệp,...”[5].

Đối với các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, nhiều người dân còn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ, như chi phí tiếp cận, khoảng cách quá xa, đi lại khó khăn, chất lượng dịch vụ chưa bảo đảm, còn có sự chênh lệch giữa các vùng, miền trong tiếp cận dịch vụ.

Hạn chế trong thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật, nhiều vi phạm pháp luật về quyền con người chưa được phát hiện, xử lý kịp thời, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Nhiều tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ không đảm bảo chất lượng, an ninh, an toàn không được phát hiện, xử lý kịp thời. Chẳng hạn, một số cơ sở thẩm mỹ, phòng khám tư nhân, cơ sở kinh doanh ăn uống, dịch vụ khác,... vi phạm các quy định trong cung cấp dịch vụ, an ninh, an toàn cho người sử dụng dịch vụ. Thậm chí có những cơ sở đã bị phát hiện, xử lý vi phạm, nhưng lại không được xử lý triệt để, nên tiếp tục vi phạm, cũng xảy ra không ít.

Những hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương, có thể được lý giải từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan sau:

- Pháp luật về quyền con người còn nhiều bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp,... gây khó khăn cho quá trình thực hiện. Chẳng hạn, “việc xây dựng và ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình, các cơ quan trung ương đã mất nhiều thời gian để thực hiện. Kể từ khi Quốc hội phê duyệt Nghị quyết số 120/2020/QH14 đến nay, hệ thống văn bản hướng dẫn từng bước được ban hành và sửa đổi, song đến thời điểm hiện tại vẫn chưa đầy đủ, nhiều văn bản còn thiếu rõ ràng, không phù hợp với thực tiễn. Do đó, quá trình triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gặp rất nhiều vướng mắc, dẫn đến chậm tiến độ, tạo ra sức ép rất lớn cho địa phương, nhất là cấp cơ sở”[6].

- Quyết tâm chính trị trong tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người ở địa phương có nơi, có lúc còn chưa cao. Còn tình trạng, vì mục tiêu thu ngân sách địa phương hàng năm, mà chưa quyết liệt trong kiểm soát an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn môi trường trong sản xuất, kinh doanh,...

- Một số cán bộ, công chức địa phương còn nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân trong thực hiện pháp luật về quyền con người; chưa thực sự làm hết trách nhiệm của mình trong phát hiện và xử lý vi phạm.

- Nhận thức của cán bộ, công chức và nhân dân về quyền con người và pháp luật về quyền con người còn hạn chế. Từ đó, công dân chưa ý thức hết về nghĩa vụ, trách nhiệm công dân của mình, nên còn thiếu tự giác trong thực hiện pháp luật. Đồng thời, cán bộ, công chức khi tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người chưa thực sự xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của nhân dân, nên trong nhiều trường hợp xuất hiện xung đột giữa nhân dân và chính quyền, gây mất lòng tin của nhân dân vào chính quyền, cán bộ, công chức.

- Việc phòng chống tham nhũng, lãng phí, kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương còn chưa hiệu quả. Việc lạm quyền trong sử dụng quyền lực nhà nước, xâm phạm đến quyền và lợi ích của nhân dân chưa được kiểm soát hiệu quả; những quyết định hành chính chưa hợp lý, chưa hiệu quả chưa được phát hiện và xử lý trách nhiệm kịp thời.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật của chính quyền địa phương ở Việt Nam trong giai đoạn mới

3.1. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền con người

Sau hơn 10 năm thực hiện Hiến pháp năm 2013, hệ thống pháp luật đã có nhiều thay đổi, nhất là các văn bản luật của Quốc hội, theo hướng hiệu lực, hiệu quả hơn trong bảo đảm quyền con người; hạn chế những sự tùy tiện trong ban hành các quy định pháp luật hạn chế quyền con người. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của đất nước, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới. Hệ thống pháp luật đứng trước các yêu cầu mới “xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo”[3]. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cần tiếp cận đầy đủ hơn từ góc độ, tạo lập cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

3.2. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương, quyền làm chủ của nhân dân trong tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người

Hiến pháp năm 2013 và luật do Quốc hội ban hành hiện nay đã thể hiện khá rõ nét tư duy, tiếp cận từ góc độ quyền con người và bảo đảm cho các quyền con người được hiện thực hóa. Tuy nhiên, tư duy này cần phải được thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, thì pháp luật về quyền con người mới được thực hiện đầy đủ trong thực tiễn. Hiện nay, việc tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người là trách nhiệm của chính quyền địa phương, nhưng hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật ở địa phương, còn phụ thuộc vào sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp ủy Đảng, sự vào cuộc của các tổ chức chính trị, xã hội, các hội quần chúng và nhận thức về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân. Trong đó, sự chỉ đạo thống nhất của cấp ủy đảng đối với các chủ thể trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật phải tiếp cận từ góc độ bảo đảm cao nhất các quyền con người của nhân dân địa phương, trên cơ sở các quy định pháp luật. Sự nhất quán này có ý nghĩa rất quan trọng trong nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy phải thể hiện được quyết tâm chính trị, đó là sự nhất quán về đường lối lãnh đạo, công tác tuyên giáo, dân vận, kiểm tra, giám sát, nêu gương,... của đảng viên và các tổ chức đảng đối với các thiết chế trong hệ thống chính trị.

3.3. Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức và nhân dân về quyền con người và pháp luật về quyền con người

Trong khi chúng ta đang xây dựng và tổ chức thực hiện là pháp luật về quyền con người, thì phần lớn cán bộ, công chức lại không được tập huấn, bồi dưỡng về quyền con người và pháp luật về quyền con người. Đây là một tồn tại rất lớn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền con người. Vì vậy, cần có quy định thống nhất về yêu cầu bắt buộc đối với cán bộ, công chức phải được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về quyền con người và pháp luật về quyền con người. Ngoài ra, có thể có chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức lý luận và thực tiễn hàng năm.

Đồng thời, nâng cao nhận thức của nhân dân về quyền con người là điều kiện quan trọng thúc đẩy việc thực hiện pháp luật về quyền con người. Hiện nay, đề án đưa giáo dục nhân quyền vào chương trình học phổ thông là một bước đi quan trọng, nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về quyền con người. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức về quyền con người và pháp luật về quyền con người, cần được thực hiện thông qua phổ biến, giáo dục pháp luật.

3.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quyền con người

Các cấp ủy địa phương cần triển khai thực hiện nghiêm túc Quy định 131-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán và Quy định 132 - QĐ/TW kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Từ đó, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, nhằm phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quyền con người của cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn trong quá trình tổ chức thực thi pháp luật về quyền con người. Đồng thời, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quyền con người của tất cả các cá nhân, tổ chức trên địa bàn. Nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện hành chính, hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tố cáo. Thông qua đó, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm túc những vi phạm pháp luật về quyền con người.

Kết luận

Tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người là một nội dung lớn và phức tạp. Việc nâng cao hiệu quả trong tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người đã được triển khai thực hiện trong thực tiễn. Quá trình này cần tiếp tục hoàn thiện nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong thực tiễn.

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đạị biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2023), Chỉ thị số 27 - CT/TTG ngày 27/10/2023 Về tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp cải cách và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công phục vụ người dân, doanh nghiệp.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới, Hà Nội, ngày 9/11/2022.

[4] Đặng Văn Cường (2021), Nâng cao ý thức pháp luật của người dân: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng, https://lsvn.vn.

[5] Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI(2022)), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2022, https://pcivietnam.vn

[6] Quốc hội, Báo cáo kết quả giám sát việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Đọc thêm

Nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Lã Minh Tuyến

(GDLL) - Bảo đảm an sinh xã hội trở thành vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước. Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã cơ bản xây dựng được một hệ thống an sinh xã hội đồng bộ, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập. Bài viết tập trung làm rõ thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối với chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Phát triển nguồn lực lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Lê Quang Hiển

(GDLL) - Nguồn lực lao động có vai trò trọng yếu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trên cơ sở phân tích chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực trạng sử dụng nguồn lực lao động Việt Nam hiện nay trên ba khía cạnh: số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn lực lao động, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.

Chính sách an sinh xã hội đối với việc làm bền vững của lao động di cư ở Việt Nam - thực trạng và một số vấn đề đặt ra

Tác giả: Nguyễn Đình Quỳnh - Trương Bảo Thanh

(GDLL) - Di cư được xem là cơ hội thúc đẩy sự phát triển đồng đều, rộng khắp và giảm sự khác biệt vốn có giữa các vùng. Lao động di cư được coi là lực lượng rất quan trọng cho nền kinh tế - xã hội của đất nước. Bài viết làm rõ quan điểm về việc làm bền vững và đặc điểm sinh kế của lao động di cư, chính sách của Đảng và Nhà nước cho lao động di cư ở Việt Nam hiện nay, nêu lên một số thành tựu, chỉ ra hạn chế và đưa ra kiến nghị điều chỉnh chính sách giúp lao động di cư tiếp cận với việc làm bền vững.

Giải pháp thực hiện Cam kết của Việt Nam về "Net zero" vào năm 2050

Tác giả: Phạm Tú Tài

(GDLL) - Tại Hội nghị các Bên tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP 26), Việt Nam đã ký cam kết đạt mức phát thải ròng khí nhà kính bằng không vào năm 2050 (Net Zero). Bài viết tập trung phân tích những tác động của phát thải khí nhà kính, dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu; nỗ lực của Việt Nam trong giảm phát thải khí nhà kính và đề xuất một số giải pháp Việt Nam cần thực hiện trong lộ trình "Net Zero" vào năm 2050.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu Chính phủ số ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Vũ Thị Hoài Phương

(GDLL) - Trong quá trình xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam, đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò hết sức quan trọng. Thời gian qua, đội ngũ cán bộ, công chức đã nỗ lực hết mình để thực hiện chuyển đổi số, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại. Bài viết nghiên cứu về thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, góp phần xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam hiện nay.