Thứ Sáu, ngày 29/08/2025, 16:59

Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của Quốc dân Đại hội Tân Trào

PGS, TS Nguyễn Danh Tiên
Viện Lịch sử Đảng,Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(LLCT) - Cách đây 80 năm, Quốc dân Đại hội được triệu tập ở Tân Trào, Tuyên Quang. Đây là sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đại hội Quốc dân Tân Trào đã thông qua những quyết sách quan trọng, tạo cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt nền móng cho sự ra đời của Quốc hội Việt Nam sau này. Bài viết làm rõ tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của Quốc dân Đại hội Tân Trào đối với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Đại hội Quốc dân tại đình Tân Trào (Tuyên Quang)_ Tranh tư liệu

1. Mở đầu

Ngày 16 và 17 - 8 - 1945, giữa thời điểm cả nước sục sôi khí thế chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tại đình Tân Trào, huyện Sơn Dương, diễn ra Đại hội đại biểu Quốc dân, nay gọi là Quốc dân Đại hội. Đại hội chủ trương tiến hành Tổng khởi nghĩa và cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng. Quốc dân Đại hội Tân trào mang tầm vóc lịch sử của một Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là thắng lợi của nghệ thuật chớp đúng thời cơ của Đảng, Tổng bộ Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh và là điển hình sáng tạo của Người trong việc vận dụng và thực thi từng bước tư tưởng dân quyền ngay trong tiến trình đấu tranh giành quyền độc lập. 80 năm đã trôi qua, Quốc dân Đại hội Tân Trào vẫn còn nguyên giá trị, mang tầm vóc lịch sử và có ý nghĩa to lớn đối với tiến trình cách mạng Việt Nam.

2. Nội dung

Thứ nhất, việc tổ chức Quốc dân Đại hội Tân Trào là chủ trương đúng đắn của Đảng, Tổng bộ Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách của lịch sử dân tộc

Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, ngày 14-8-1945, phát xít Nhật chấp nhận đầu hàng Đồng minh. Ở trong nước, sau khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh, quân Nhật ở Đông Dương hoàn toàn bị tê liệt, Chính phủ Trần Trọng Kim và tay sai thân Nhật hoang mang, rệu rã, dẫn đến thời cơ có một không hai để giải phóng dân tộc đã chín muồi. Trước cơ hội “ngàn năm có một” để tiến hành giải phóng dân tộc, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã gửi thư cho quốc dân đồng bào, thông báo chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu Quốc dân để thành lập “một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân… do một cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”(1).

Thực hiện chủ trương đó, ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành chính quyền trước khi quân Đông minh vào Đông Dương và ngay đêm 13-8-1945, Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đã hạ mệnh lệnh khởi nghĩa. Ủy ban khởi nghĩa cũng đã ra Quân lệnh số 1. Quân lệnh viết: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!... chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta”(2).

Trong bối cảnh đó, trong hai ngày 16 và 17-8-1945, tại đình Tân Trào, thôn Tân Lập, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang diễn ra Quốc dân Đại hội. Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu, đại diện cho các dân tộc ở ba miền Bắc - Trung - Nam, đại diện cho các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc, các dân tộc, tôn giáo và một số kiều bào ta ở nước ngoài. Việc tổ chức Quốc dân Đại hội là chủ trương đúng đắn của Đảng, Tổng bộ Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh nhằm phát động quần chúng nhân dân đứng lên “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, đánh đuổi phát xít Nhật, giành độc lập cho dân tộc.

Thứ hai, Quốc dân Đại hội đã đại diện cho toàn dân quyết định những vấn đề cấp bách, đáp ứng yêu cầu của lịch sử và nguyện vọng của nhân dân, góp phần tạo nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Tại Quốc dân Đại hội, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương đã đọc bản báo cáo, nhấn mạnh hai vấn đề lớn: Tổng khởi nghĩa và cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng. Đảng chủ trương lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của Nhật, giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật trên đất Đông Dương.

Đại hội đã nghe đồng chí Hoàng Quốc Việt báo cáo về phong trào Công nhân, đồng chí Trần Đức Thịnh báo cáo về tình hình nông dân, đồng chí Nguyễn Đình Thi báo cáo về tình hình văn hóa, đồng chí Hoàng Đạo Thúy báo cáo về Hướng đạo, v.v… Trên cơ sở đó, Đại hội đã tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương và Tổng bộ Việt Minh; đồng thời, nhất trí thông qua 10 chính sách của Việt Minh, gồm:

“1. Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập.

2. Võ trang nhân dân. Phát triển quân Giải phóng Việt Nam.

3. Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tùy từng trường hợp sung công làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo.

4. Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.

5. Ban bố những quyền của dân cho dân.

- Nhân quyền.

- Tài quyền (quyền sở hữu).

- Dân quyền: Quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền.

6. Chia lại ruộng công cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân.

7. Ban bố Luật lao động; ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.

8. Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở quốc gia ngân hàng.

9. Xây dựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp. Kiến thiết nền văn hóa mới.

10. Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ của họ”(3).

Quốc dân Đại hội quyết định thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Thường trực của Ủy ban gồm 5 người: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng và Dương Đức Hiền. Đồng thời, Đại hội cũng quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng 5 cánh ở giữa và Quốc ca là bài “Tiến quân ca”.

Trong Lễ bế mạc Đại hội, thay mặt Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên thệ: “Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, không lùi bước”(4).

Trước giờ phút đấu tranh quyết liệt và khẩn trương, Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng đã gửi thư kêu gọi quốc dân, trong đó nhấn mạnh:

“...Hỡi đồng bào yêu quý!

Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”(5).

Sau Quốc dân Đại hội, các đại biểu khẩn trương trở về địa phương lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền theo ba nguyên tắc: tập trung, thống nhất, kịp thời và hành động mau lẹ để chớp thời cơ, vì: “Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập: Nhiều sự gay go trở ngại sẽ gây ra. Chúng ta phải khôn khéo và kiên quyết. Khôn khéo để tránh những sự không lợi cho ta. Kiên quyết để giành cho được nền hoàn toàn độc lập... Một dân tộc quyết tâm và nhất trí đòi quyền độc lập thì nhất định được độc lập. Chúng ta sẽ thắng lợi” (6).

Khi nhận được “Quân lệnh số 1” và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước từ nông thôn đến thành thị, từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, không phân biệt già trẻ, trai gái, giai cấp, dân tộc, tôn giáo... triệu người như một, nhất tề đứng lên, tạo thành cơn bão táp cách mạng. Nhờ sự chủ động, sáng tạo của Đảng và các đảng bộ địa phương, chỉ trong 15 ngày cuối tháng 8 -1945, cao trào cách mạng của quần chúng đã nhấn chìm và cuốn phăng ách thống trị của thực dân, đế quốc và tay sai, lập nên chính quyền nhân dân trên cả nước. Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là một trong những “chiến công hiển hách và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc Việt Nam”(7) trong thế kỷ XX, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, Quốc dân Đại hội là một tiến bộ lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc

Quốc dân Ðại hội Tân Trào “là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử tranh đấu giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay”(8), mang tầm vóc lịch sử như một Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Ủy ban dân tộc giải phóng (sau đó chuyển thành Chính phủ cách mạng lâm thời) của nước Việt Nam được Quốc dân Đại hội bầu ra ngày 16 - 8 - 1945 là người đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam để thực hiện những quyết sách lớn nhằm thực hiện sứ mệnh của dân tộc. Quốc dân Đại hội Tân Trào đã thể hiện tinh thần đoàn kết nhất trí của dân tộc Việt Nam quyết tâm tiến hành tổng khởi nghĩa, xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến, đặt nền móng pháp lý đầu tiên cho một chế độ mới - nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Việc tổ chức thắng lợi Quốc dân Ðại hội nhằm xoay chuyển vận nước bằng cuộc Tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng có tính chất như một Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một điển hình sáng tạo của Hồ Chí Minh về việc xây dựng cơ sở pháp lý đầu tiên cho chế độ dân chủ cộng hòa. Đề cập đến vấn đề này, Archimedes L. Apatti - một sĩ quan tình báo Mỹ có mặt ở Việt Nam lúc bấy giờ cho rằng, khi được tin sự sụp đổ của phátxít Nhật, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng chân vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng Ông phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào”(9). Quốc dân Đại hội Tân Trào được tổ chức thành công, đã khẳng định bước tiến lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, phù hợp với xu thế phát triển của nền văn minh nhân loại, khẳng định quyền tự do, dân chủ của một quốc gia độc lập, có chủ quyền.

Thứ tư, Quốc dân Đại hội Tân Trào đã để lại những giá trị to lớn về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và đối với hoạt động của Quốc hội hiện nay

Quốc dân Đại hội Tân Trào đã để lại những giá trị to lớn về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, là nền tảng vững chắc cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đại hội đã thể hiện tinh thần đoàn kết, nhất trí cao độ của mọi tầng lớp nhân dân, từ các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, đến các đảng phái chính trị, cùng hướng tới mục tiêu chung là giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Quốc dân Đại hội Tân Trào đã tạo ra một diễn đàn để mọi người dân cùng nhau thảo luận, đóng góp ý kiến, đưa ra quyết định, từ đó xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái. Đại hội đã khơi dậy lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự cường của toàn dân, thôi thúc toàn dân tộc chung sức, đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để giành lại độc lập cho dân tộc.

Đại hội Quốc dân Tân Trào mang tầm vóc lịch sử như hội nghị Diên Hồng của cách mạng Việt Nam. Đó là sáng tạo độc đáo của Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh trong việc phát huy ý chí, sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, là khởi nguồn cho những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước sau này.

Tiếp nối thành công của Quốc dân Đại hội Tân Trào, sau khi giành được độc lập, nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và xây dựng Hiến pháp của nước Việt Nam độc lập. Như vậy, hơn 4 tháng sau khi Quốc dân Đại hội Tân Trào, chúng ta có tổng tuyển cử và có Quốc hội khóa I - Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thời gian đã lùi xa nhưng Quốc dân Đại hội Tân Trào đã để lại những giá trị to lớn đối với hoạt động của Quốc hội hiện nay, trong đó, đặc biệt là bài học về phát huy ý chí, sức mạnh dân tộc; đáp ứng kịp thời những nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ lịch sử; thể hiện tinh thần dân chủ, quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; khẳng định vị trí, vai trò là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân trong xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đề cập đến vấn đề này, tại Lễ kỷ niệm 70 năm Quốc dân Đại hội Tân Trào, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định: “Trải qua gần 70 năm, từ Quốc dân Đại hội Tân Trào tiến tới sự ra đời của Quốc hội khóa I đến nay, 13 khóa Quốc hội là quá trình liên tục kế thừa, không ngừng đổi mới cả về tổ chức và hoạt động, Quốc hội đã phát huy vai trò, vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đóng góp to lớn và quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”(10).

Những giá trị mà Quốc dân Đại hội để lại sẽ tiếp tục được vận dụng sáng tạo trong quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, bảo đảm “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”. Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo hướng: Tăng cường năng lực lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương gắn với cuộc sống người dân; hoàn thiện cơ chế bầu cử, tuyển chọn đại biểu thực sự đại diện cho ý chí, nguyện vọng và tiếng nói của nhân dân; đổi mới cơ chế phản biện xã hội, công khai - minh bạch trong hoạt động nghị trường; tăng cường hiệu lực - hiệu quả hoạt động, gắn với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đổi mới mô hình phát triển đất nước trong thời đại số và hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công một nước Việt Nam: hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

3. Kết luận

80 năm đã trôi qua, Quốc dân Đại hội Tân Trào mãi là mốc son chói lọi, được ghi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc như đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vừa đây Việt Minh lại triệu tập “Việt Nam quốc dân đại biểu Đại hội”, cử ra ỦY BAN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG VIỆT NAM để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên quyết đấu tranh kỳ cho nước được độc lập. Đó là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử tranh đấu giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay”(11).

(nguồn lyluanchinhtri.vn)

Ngày nhận bài: 5-8-2025; Ngày bình duyệt: 11-8-2025; Ngày duyệt đăng: 21-8-2025.

Email tác giả: ngdanhtien@gmail.com

(1), (5), (8), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.537, 596, 595, 595.

(2), (3), (6) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.421, 559-560, 559.

(4) Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 263.

(7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2001, tr.6.

(9) Archimedes L. APatti: Tại sao Việt Nam? Nxb Ðà Nẵng, 1995, tr.146.

(10) Xem: Bài phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tại Lễ kỷ niệm 70 năm Quốc dân Đại hội Tân Trào, ngày 16-8-2015.

Tin liên quan

Đọc thêm

Nghiên cứu, đề xuất xây dựng chuẩn chương trình bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay

Tác giả: TRƯƠNG BẢO THANH

(GDLL) - Xây dựng chuẩn chương trình bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng, là căn cứ để cơ sở đào tạo tiến hành xây dựng, thẩm định, ban hành, thực hiện, đánh giá và cải tiến các chương trình bồi dưỡng trên thực tế. Bài viết tập trung nghiên cứu cơ sở chính trị, pháp lý, cơ sở thực tiễn, đề xuất xây dựng chuẩn chương trình bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thích ứng linh hoạt với đại dịch Covid 19 tại Việt Nam

Tác giả: CHU THỊ LÊ ANH

(GDLL) - Đại dịch COVID-19 đã gây ra nhiều hậu quả tiêu cực tới đời sống xã hội và làm giảm sút tăng trưởng kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bài viết phân tích các chính sách phục hồi và phát triển kinh tế ứng phó tác động của dịch bệnh COVID-19 tới nền kinh tế Việt Nam, từ đó đề xuất một số khuyến nghị chính sách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thích ứng linh hoạt với dịch bệnh trong thời gian tới nhằm thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Giải pháp thực hiện các chính sách hỗ trợ tài chính để doanh nghiệp vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19

Tác giả: NINH THỊ MINH TÂM

(GDLL) - Đại dịch Covid-19 đã tạo ra cú sốc đối với nền kinh tế Việt Nam và tác động tiêu cực đến “sức khỏe”, tiềm lực và khả năng chống chịu của nhiều doanh nghiệp, dẫn đến nguy cơ phá sản. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ tài chính nhằm giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Bài viết tập trung phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ tài chính nhằm tăng “sức bền” và hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp bị tác động tiêu cực bởi dịch bệnh.

Tổn thương của doanh nghiệp Việt Nam sau cú sốc đại dịch Covid-19 - thực trạng và khuyến nghị

Tác giả: HOÀNG VĂN HOAN

(GDLL) - Khủng hoảng thường tạo cú sốc cho doanh nghiệp xét về cả kết quả kinh doanh thực tế và kỳ vọng. Các cú sốc có thể tích cực (hữu ích) hoặc tiêu cực (có hại) gây tổn thương cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Để có những biện pháp đối phó nhằm ngăn chặn sớm cũng như giảm bớt những tác động bất lợi của các cú sốc gây tổn thương cho doanh nghiệp cũng như xã hội, đặc biệt sau cú sốc đại dịch COVID -19, bài viết giúp nhận diện các cú sốc, mức độ tổn thương của doanh nghiệp Việt Nam sau cú sốc bất lợi từ đại dịch COVID-19 trong giai đoạn vừa qua, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách.

Phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc - một số vấn đề đặt ra

Tác giả: Tạ Thị Đoàn

(GDLL) - Phát triển du lịch cộng đồng đã và đang mang lại nhiều lợi ích cho các tỉnh vùng Tây Bắc, qua đó góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc thời gian qua, bài viết chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc trong thời gian tới.