
Việt Nam - Áo khai mở cơ hội cho nguồn nhân lực chất
lượng cao (Ngày 10/12/2025, tại thành phố Krems, Đại sứ quán
Việt Nam tại Áo phối hợp với Đại học Khoa học ứng dụng Krems (IMC Krems), Phòng
Kinh tế Liên bang (WKO) và Cơ quan xúc tiến kinh doanh, lao động (ABA) tổ chức
Diễn đàn Hợp tác Việt Nam - Áo về lao động có tay nghề và đào tạo nghề)(nguồn news.vnanet.vn)
Đặt vấn đề
Chất lượng nguồn nhân lực (NNL) là nhân tố
quan trọng, được dùng làm thước đo đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Vì
vậy, các quốc gia phát triển đều xác định việc phát triển NNL là nhiệm vụ hàng
đầu. Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coi con
người là trung tâm của sự phát triển. Trong quá trình hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng, để phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới,
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị khẳng định: “Tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và
đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”[1].
1. Quan điểm của Đảng về
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao
(NNLCLC) phải xuất phát trực tiếp từ khái niệm NNL và thực tiễn đất nước, địa
phương, lĩnh vực trong những giai đoạn cụ thể. Theo đó, NNLCLC là lực
lượng lao động có học vấn, trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng sáng
tạo, linh hoạt, thích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản
xuất, của ngành nghề.
Từ phân tích trên, có thể hiểu NNL CLC là một bộ phận
của NNL nói chung, nhưng là bộ phận đặc biệt, bao gồm những người có trình độ học
vấn từ cao đẳng, đại học trở lên hoặc những người có kinh nghiệm, tinh thông
nghiệp vụ, có khả năng giải quyết vấn đề tốt, đang làm việc trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội, có đóng góp tích cực cho phát triển cộng đồng.
Nhận thức rõ vai trò của NNLCLC đối với sự phát triển đất nước, Đảng sớm có chủ trương đúng đắn về phát
triển NNLCLC, nhất là từ Đại hội XI trở lại
đây.
Tại Đại hội XI (năm
2011), Đảng nhấn mạnh: Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là
một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng
khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và
là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả
và bền vững. Quan điểm này đánh dấu bước phát triển trong nhận thức của Đảng về
vai trò của nhân tố con người trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững đất
nước. Đảng coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển đất
nước trong thời kỳ mới.
Đại hội XII (năm 2016) của
Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao,
thông qua quan điểm: Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy
khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ
yếu. Trên cơ sở đó, Đại hội XII đề ra phương hướng, nhiệm vụ: Xây dựng chiến lược
phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những
giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn
nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, chú trọng
nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành.
Kế thừa tinh thần các đại
hội trước, Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục xác định: Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho
công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo
bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn
với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển
giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo là một trong ba đột phá chiến lược. Đại hội cũng đặt ra yêu cầu phải đào tạo con người theo hướng
có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng
sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy
sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu). Đây là chủ trương hết sức
đúng đắn, thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng về phát triển nguồn nhân lực,
nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững
đất nước trong thời kỳ mới.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về phát triển NNL tập trung vào đột phá chất lượng nhân lựcvàphát huy sức mạnh của con người Việt Nam, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, như một động lực
quan trọng cho sự phát triển bền vững trong tiến trình hội nhập quốc tế.
2. Thực trạng nguồn nhân lực
chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
Đánh giá của Tổng cục
Thống kê năm 2023 cho thấy bức tranh toàn cảnh của Việt Nam về dân số và cơ cấu
lao động. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2023 đạt 52,4 triệu người.
Số lao động có việc làm đạt 51,3 triệu người, số người thất nghiệp là 1,07 triệu,
tỷ lệ thất nghiệp 2,287%. Tính đến năm 2023, lực lượng lao động đã qua đào tạo,
có bằng cấp, chứng chỉ đạt 14,1 triệu người, chiếm 27% dân số[4].
Để tăng tính cạnh tranh cho lao động Việt Nam, lao động
nghề giản đơn cần được hỗ trợ để học nghề hoặc đào tạo lại để những lao động
này có thể dịch chuyển từ khu vực nghề đòi hỏi kỹ thuật sơ cấp sang khu vực
chuyên môn, kỹ thuật trung cấp. Bên cạnh đó cần bồi dưỡng lao động thuộc nhóm
thợ lắp ráp, thợ thủ công và thợ khác (hiện nhóm lao động này đang chiếm 1/4 tổng
số lao động) thành thợ lành nghề có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao cấp. Đây
là sự chuyển dịch tích cực và tất yếu theo xu thế phát triển kinh
tế thế giới, đặc biệt gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Chất lượng lao động Việt Nam trong những năm qua từng
bước được nâng lên, phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường
lao động. Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam có đủ khả
năng làm chủ khoa học - công nghệ, đảm nhận được các vị trí công việc phức tạp
trong sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách khách quan, dù cho
sự chuyển dịch cơ cấu lao động đang diễn ra một cách nhanh chóng, nhưng nhìn
chung chất lượng NNL còn một số hạn chế. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, chất
lượng NNL Việt Nam đạt 3,79 điểm (trên thang điểm 10) xếp hạng thứ 11/12 quốc
gia được khảo sát với một số hạn chế cụ thể như:
Thứ nhất, chất lượng NNL của Việt Nam
một số chưa đáp ứng
được nhu cầu của mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền sản xuất và
hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, yêu cầu về NNL CLC do hội nhập tác động,
cũng chưa được đáp ứng. Theo dự báo về nhu cầu NNL trong năm 2021 do FALMI
(Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường
lao động Thành phố Hồ Chí Minh) cung cấp, nhu cầu về nhân lực qua đào tạo
chiếm 79,17%, nhu cầu nhân lực có trình độ sơ cấp nghề, công nhân kỹ thuật lành
nghề chiếm 22,77%, trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ 19,93%, cao đẳng chiếm
15,80%, đại học chiếm 20,67% [3]. Điều đó
cho thấy, lao động giản đơn, lao động phổ thông đang có xu hướng ngày một giảm.
Thậm chí, sẽ có giai đoạn những lao động đó cũng cần phải qua đào tạo. Đặc biệt,
tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy cơ cấu ngành nghề
tích hợp công nghệ cao trở thành xu thế bắt buộc đối với NNL.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư chắc chắn sẽ tạo ra những
thay đổi lớn về cung - cầu lao động cũng như cơ cấu lao động. Trong một số
lĩnh vực, tỷ lệ hữu cơ sẽ có sự thay đổi, máy móc, robot, trí tuệ nhân tạo dần
thay thế sức lao động của con người. Điều này chắc chắn tác động lớn đến lực lượng
lao động hiện hữu, bộ phận không bắt kịp sự thay đổi buộc phải chuyển nghề hoặc
thất nghiệp. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Việt Nam là một trong những
nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Cách mạng công nghiệp 4.0. Hiện
Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về chất lượng NNL như trình độ
chuyên môn kỹ thuật của lao động còn thấp, chỉ chiếm hơn 20% lực lượng lao động.
Việc nhận thức được sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong thời gian tới giúp
chúng ta có sự chủ động, góp phần quan trọng trong việc xây dựng những chính
sách phù hợp nhằm phát triển NNL CLC, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập
kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, muốn phát triển bền vững, cần giải pháp đúng đắn và
mang tính dài hạn giải quyết những hạn chế bất cập của yếu tố NNL.
Thứ hai, về thể lực, tầm vóc của người
lao động Việt Nam vẫn còn thấp, sức bền, sức dẻo dai còn hạn chế.Theo kết quả báo cáo của Bộ Y tế ngày
30/12/2020, cuộc khảo sát do Tổng cục Thống kê và Viện Dinh dưỡng quốc gia thực
hiện trong năm 2019 - 2020 cho thấy, nam giới ở nước ta
có chiều cao trung bình là
168,1cm (thấp hơn 11cm so với chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới - WHO), nữ giới là 156,2cm (thấp
hơn 7cm so với chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới - WHO) [4]. Trên tổng thể, sức bền chung và các chỉ số sức khỏe,
thanh thiếu niên của Việt Nam xếp loại rất kém so với thanh thiếu niên của các
nước trong khu vực, đặc biệt khi so với Nhật Bản. Đây là một trong những yếu tố
ảnh hưởng rất tiêu cực đến chất lượng NNL trong thời kỳ hội nhập.
Thứ ba, về năng lực hội nhập, lao động
Việt Nam mặc dù thông minh, khéo léo, cần cù, nhưng
khả năng sử dụng ngoại ngữ và các kỹ năng thực hành xã hội còn hạn chế. Theo tổ
chức giáo dục Education First của Thụy Sĩ đối với các quốc gia không sử dụng tiếng
Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ, năng lực sử dụng tiếng Anh của người Việt Nam đứng thứ 7
trong khu vực châu Á, sau các quốc gia Singapore, Philippines, Malaysia, Ấn Độ,
Hồng Kông, Hàn Quốc. Khảo sát trên còn chỉ ra mức độ thành thạo tiếng Anh ở Việt
Nam đã có nhiều cải thiện, cho thấy thanh niên Việt Nam đã bắt đầu hòa nhập vào
xu thế toàn cầu. Tuy nhiên, để đáp ứng tốc độ hội nhập của quốc gia, thì việc sử
dụng thành thạo tiếng Anh vẫn là một rào cản rất lớn đối với đại bộ phận người
lao động. Đây là thách thức lớn trong quá trình hội nhập, đặc biệt là khi thị
trường lao động đang phải mở rộng cửa cạnh tranh với các nước trong khu vực và
trên thế giới.
Thứ tư, về tinh thần trách nhiệm và
ý thức, một bộ phận người lao động vẫn còn thiếu ý thức trong việc chấp hành
các quy định. Ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận người lao động Việt Nam còn
những hạn chế nhất định trong việc chấp hành các quy định của doanh nghiệp, đặc
biệt quy định về an toàn lao động... Điều đó đã tạo nên những hệ quả không tốt,
ảnh hưởng đến sự vận hành của toàn bộ hệ thống sản xuất của doanh nghiệp, tác động
đến tâm lý đầu tư, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngước ngoài.
3. Một số giải pháp cơ bản
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hội nhập kinh tế quốc tế trong kỷ
nguyên vươn mình của dân tộc
Một là, nâng cao
năng lực dự đoán và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế, đẩy mạnh công tác
phân luồng, tuyên truyền, định hướng nghề nghiệp cho học
sinh các cấp
Để làm tốt công tác này,
trước hết cần thực hiện tốt việc tổng kết, đánh giá đảm bảo phản ánh đúng bản
chất thực trạng, đó là cơ sở quan trọng để vạch ra khuynh hướng phát triển
trong tương lai. Từ đó đề ra mục tiêu và lựa chọn giải pháp, công cụ phù hợp nhằm
đạt được những mục tiêu đó. Tham khảo, học tập mô hình phát triển kinh tế của
các nước trong khu vực và trên thế giới cũng là một kênh đáng quan tâm. Tuy
nhiên, việc học tập mô hình cũng cần phát huy tính năng động, sáng tạo trong vận
dụng, tránh máy móc, siêu hình. Có thực hiện tốt công tác dự đoán và hoạch định
mới có thể đánh giá được chính xác nhu cầu của thị trường đối với NNL và có sự
đầu tư xứng tầm cho việc phát triển NNL nước ta trong thời gian tới.
Trên cơ sở công tác dự đoán, hoạch định phải xác định
cụ thể các lĩnh vực ngành nghề trọng tâm của quá trình hội nhập trong thời gian
tới. Từ đó, truyền thông định hướng cho học sinh từ các cấp học nhỏ, để các em
dần hình thành những định hướng ban đầu về nghề nghiệp. Đến giai đoạn cuối cấp
học phổ thông, cần tổ chức những buổi tư vấn, hướng nghiệp cho các em lựa chọn ngành nghề phù hợp với
nhu cầu thị trường, hạn chế tình trạng “nơi thiếu, nơi thừa”. Làm được điều này
giúp kiểm soát tốt nguồn lực lao động, đồng thời phát triển nguồn lực đó theo
đúng chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia, hạn chế sự dàn trải trong đầu
tư phát triển NNL.
Hai là, hoàn thiện các cơ chế chính
sách liên quan đến giáo dục và công tác quản lý giáo dục, quan tâm phát triển thể chất người lao động
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững,
là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục đồng nghĩa nâng cao, phát triển NNL.
Đẩy mạnh xã hội hoá, đa dạng nguồn lực cho phát triển giáo dục, giúp giảm tải
gánh nặng đối với nguồn lực tài chính của Nhà nước. Thu hút nguồn lực nước
ngoài cũng là một giải pháp hiệu quả. Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào,
là thị trường tiềm năng thu hút đầu tư phát triển các dịch vụ giáo dục từ nguồn
vốn FDI. Bối cảnh toàn cầu hóa là cơ hội rất tốt để giáo dục Việt Nam nhanh
chóng hòa nhập với thế giới, tận dụng được kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và
phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế. Việt
Nam muốn nâng cao chất lượng NNL bắt buộc phải đổi mới hoạt động giáo dục, đặc
biệt là giáo dục đại học. Đổi mới giáo dục, trước hết nên bắt đầu từ công tác lập
pháp. Cần sửa đổi, bổ sung, hợp nhất nhiều văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục
nhằm đảm bảo công tác quản lý nhà nước về giáo dục được thống nhất, giảm thiểu
sự cồng kềnh của bộ máy quản lý. Thực hiện cải cách các chính sách đãi ngộ, chế
độ tiền lương cho đội ngũ giáo viên, giảng viên. Đây là lực lượng tiên phong,
nòng cốt trong việc nâng cao chất lượng đào tạo NNL tương lai cho đất nước.
Mặc dù, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 641/QĐ-TTg Về việc phê duyệt đề án tổng
thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030, nhưng đến nay kết quả
đạt được hạn chế. Cần có sự chung tay của toàn xã hội trong tuyên truyền và áp
dụng chế độ dinh dưỡng khoa học, thúc đẩy các phong trào vận động nâng cao sức
khỏe cộng đồng. Quan tâm phát triển thể chất sớm cho trẻ em, xây dựng nền tảng
thể lực tốt, phản xạ giúp gia tăng sự thích nghi với môi trường. Đối với người
lao động, thể chất tốt tỷ lệ thuận với khả năng thích nghi với môi trường làm
việc, nhạy bén, sáng tạo, phản ánh năng lực cạnh tranh của NNL.
Ba là, cải tiến
nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chặt
chẽ đối với các đơn vị đào tạo
Nội dung chương trình, giáo trình đào tạo phải được
xây dựng một cách cô đọng, sát với từng ngành nghề và có tính chuyên môn cao,
tránh kiến thức thừa, kiến thức lạc hậu hoặc quá hàn lâm, đồng thời chú trọng
đào tạo năng lực ngoại ngữ, các kỹ năng thực hành xã hội, đạo đức
nghề nghiệp, văn hóa truyền thống và đặc biệt quan tâm đến hoạt động giáo dục
thể chất, hình thành thói quen vận động trong học sinh, sinh viên. Đồng thời,
kích thích sự liên thông giữa các cơ sở đào tạo với thị trường thông qua các
chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo nghề. Cần
phát triển mô hình trường nghề thuộc doanh nghiệp, đã được nhiều nước áp dụng
trong đào tạo NNL. Hướng tới xây dựng những chương trình liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, trao đổi
chuyên môn và trải nghiệm làm việc với các đơn vị nước ngoài, nhằm tạo điều kiện
tiếp xúc sớm với môi trường lao động công nghiệp hiện đại. Tích cực học tập
kinh nghiệm cải cách giáo dục của các nước trên thế giới. Cương quyết loại bỏ
phương pháp dạy học kinh viện, nặng tính lý thuyết hàn lâm. Đổi mới phương pháp
dạy học phải theo hướng kết hợp nhiều phương pháp linh hoạt nhưng trọng tâm phải
phát huy vai trò tích cực, chủ động của người học.
Về cơ sở vật chất, có thể áp dụng các tiêu chuẩn về
cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo theo chuẩn khu vực, quốc tế. Về chất lượng chuẩn
đầu ra, cần rà soát, thống nhất các tiêu chí, tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng. Siết
chặt công tác kiểm tra đánh giá kết quả đầu ra của các đơn vị đào tạo, trước mắt
tập trung vào các nghề trọng điểm. Đánh giá chuẩn đầu ra cần quan tâm đánh giá
các yếu tố: kỹ năng ngoại ngữ; kỹ năng thực hành xã hội; đạo đức...
Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, giảng viên cần rà soát tổng thể đối với đội ngũ quản
lý và lực lượng giáo viên, giảng viên, tiến tới xây dựng lộ trình chuẩn hóa để
đáp ứng mục tiêu phát triển NNL.
Kết luận
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu khách quan của các quốc gia
trên thế giới. Đối với Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước
trên trường quốc tế; tạo ra các nguồn lực quan trọng để phát huy sức mạnh khối
đại đoàn kết dân tộc. Những giải pháp từ nhận thức đến hành động phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao để hội nhập kinh tế, quốc tế là một chỉnh thể thống nhất,
có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau. Trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ thể, lực lượng của hệ thống
chính trị và toàn xã hội đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo đảm tối
thượng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng nền kinh tế
độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng chí Tổng Bí thư
Tô Lâm đã chỉ rõ: hội nhập kinh tế được xác định là trung tâm, hội nhập trên
các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế với ưu tiên hàng đầu
là cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số.
Tài
liệu tham khảo:
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, https://baochinhphu.vn
[2] Những chuyển dịch trong cơ cấu lao động, ngày 6-12-2020, https://vcci-hcm.org.vn
[3] Nhu cầu nhân lực thay đổi xu hướng, sinh viên và các trường đại học đang
có sự dịch chuyển, ngày 17-9-2023, https://danviet.vn.
[4] Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động,
việc làm quý IV và năm 2023, https://www.gso.gov.vn
[5]Tổng điều tra dinh dưỡng
toàn quốc: Chiều cao của thanh niên Việt Nam có sự thay đổi, ngày 15-4-2021, https://dantocmiennui.baotintuc.vn.