Thứ Ba, ngày 06/01/2026, 10:32

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay

NGÔ QUANG HUY
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

(GDLL) Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Bài viết bàn về thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam thời gian tới.

Việt Nam - Áo khai mở cơ hội cho nguồn nhân lực chất lượng cao (Ngày 10/12/2025, tại thành phố Krems, Đại sứ quán Việt Nam tại Áo phối hợp với Đại học Khoa học ứng dụng Krems (IMC Krems), Phòng Kinh tế Liên bang (WKO) và Cơ quan xúc tiến kinh doanh, lao động (ABA) tổ chức Diễn đàn Hợp tác Việt Nam - Áo về lao động có tay nghề và đào tạo nghề)(nguồn news.vnanet.vn)


Đặt vấn đề

Chất lượng nguồn nhân lực (NNL) là nhân tố quan trọng, được dùng làm thước đo đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Vì vậy, các quốc gia phát triển đều xác định việc phát triển NNL là nhiệm vụ hàng đầu. Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coi con người là trung tâm của sự phát triển. Trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, để phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị khẳng định: “Tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”[1].

1. Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) phải xuất phát trực tiếp từ khái niệm NNL và thực tiễn đất nước, địa phương, lĩnh vực trong những giai đoạn cụ thể. Theo đó, NNLCLC là lực lượng lao động có học vấn, trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng sáng tạo, linh hoạt, thích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, của ngành nghề.

Từ phân tích trên, có thể hiểu NNL CLC là một bộ phận của NNL nói chung, nhưng là bộ phận đặc biệt, bao gồm những người có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên hoặc những người có kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ, có khả năng giải quyết vấn đề tốt, đang làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, có đóng góp tích cực cho phát triển cộng đồng.

Nhận thức rõ vai trò của NNLCLC đối với sự phát triển đất nước, Đảng sớm có chủ trương đúng đắn về phát triển NNLCLC, nhất là từ Đại hội XI trở lại đây.

Tại Đại hội XI (năm 2011), Đảng nhấn mạnh: Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Quan điểm này đánh dấu bước phát triển trong nhận thức của Đảng về vai trò của nhân tố con người trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đảng coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Đại hội XII (năm 2016) của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao, thông qua quan điểm: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu. Trên cơ sở đó, Đại hội XII đề ra phương hướng, nhiệm vụ: Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành.

Kế thừa tinh thần các đại hội trước, Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục xác định: Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo là một trong ba đột phá chiến lược. Đại hội cũng đặt ra yêu cầu phải đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu). Đây là chủ trương hết sức đúng đắn, thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời kỳ mới.

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về phát triển NNL tập trung vào đột phá chất lượng nhân lựcphát huy sức mạnh của con người Việt Nam, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, như một động lực quan trọng cho sự phát triển bền vững trong tiến trình hội nhập quốc tế.

2. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay

Đánh giá của Tổng cục Thống kê năm 2023 cho thấy bức tranh toàn cảnh của Việt Nam về dân số và cơ cấu lao động. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2023 đạt 52,4 triệu người. Số lao động có việc làm đạt 51,3 triệu người, số người thất nghiệp là 1,07 triệu, tỷ lệ thất nghiệp 2,287%. Tính đến năm 2023, lực lượng lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp, chứng chỉ đạt 14,1 triệu người, chiếm 27% dân số[4].

Để tăng tính cạnh tranh cho lao động Việt Nam, lao động nghề giản đơn cần được hỗ trợ để học nghề hoặc đào tạo lại để những lao động này có thể dịch chuyển từ khu vực nghề đòi hỏi kỹ thuật sơ cấp sang khu vực chuyên môn, kỹ thuật trung cấp. Bên cạnh đó cần bồi dưỡng lao động thuộc nhóm thợ lắp ráp, thợ thủ công và thợ khác (hiện nhóm lao động này đang chiếm 1/4 tổng số lao động) thành thợ lành nghề có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao cấp. Đây là sự chuyển dịch tích cực và tất yếu theo xu thế phát triển kinh tế thế giới, đặc biệt gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Chất lượng lao động Việt Nam trong những năm qua từng bước được nâng lên, phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động. Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam có đủ khả năng làm chủ khoa học - công nghệ, đảm nhận được các vị trí công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách khách quan, dù cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động đang diễn ra một cách nhanh chóng, nhưng nhìn chung chất lượng NNL còn một số hạn chế. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, chất lượng NNL Việt Nam đạt 3,79 điểm (trên thang điểm 10) xếp hạng thứ 11/12 quốc gia được khảo sát với một số hạn chế cụ thể như:

Thứ nhất, chất lượng NNL của Việt Nam một số chưa đáp ứng được nhu cầu của mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, yêu cầu về NNL CLC do hội nhập tác động, cũng chưa được đáp ứng. Theo dự báo về nhu cầu NNL trong năm 2021 do FALMI (Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh) cung cấp, nhu cầu về nhân lực qua đào tạo chiếm 79,17%, nhu cầu nhân lực có trình độ sơ cấp nghề, công nhân kỹ thuật lành nghề chiếm 22,77%, trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ 19,93%, cao đẳng chiếm 15,80%, đại học chiếm 20,67% [3]. Điều đó cho thấy, lao động giản đơn, lao động phổ thông đang có xu hướng ngày một giảm. Thậm chí, sẽ có giai đoạn những lao động đó cũng cần phải qua đào tạo. Đặc biệt, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy cơ cấu ngành nghề tích hợp công nghệ cao trở thành xu thế bắt buộc đối với NNL.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư chắc chắn sẽ tạo ra những thay đổi lớn về cung - cầu lao động cũng như cơ cấu lao động. Trong một số lĩnh vực, tỷ lệ hữu cơ sẽ có sự thay đổi, máy móc, robot, trí tuệ nhân tạo dần thay thế sức lao động của con người. Điều này chắc chắn tác động lớn đến lực lượng lao động hiện hữu, bộ phận không bắt kịp sự thay đổi buộc phải chuyển nghề hoặc thất nghiệp. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Cách mạng công nghiệp 4.0. Hiện Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về chất lượng NNL như trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động còn thấp, chỉ chiếm hơn 20% lực lượng lao động. Việc nhận thức được sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong thời gian tới giúp chúng ta có sự chủ động, góp phần quan trọng trong việc xây dựng những chính sách phù hợp nhằm phát triển NNL CLC, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, muốn phát triển bền vững, cần giải pháp đúng đắn và mang tính dài hạn giải quyết những hạn chế bất cập của yếu tố NNL.

Thứ hai, về thể lực, tầm vóc của người lao động Việt Nam vẫn còn thấp, sức bền, sức dẻo dai còn hạn chế.Theo kết quả báo cáo của Bộ Y tế ngày 30/12/2020, cuộc khảo sát do Tổng cục Thống kê và Viện Dinh dưỡng quốc gia thực hiện trong năm 2019 - 2020 cho thấy, nam giới ở nước tachiều cao trung bình là 168,1cm (thấp hơn 11cm so với chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới - WHO), nữ giới là 156,2cm (thấp hơn 7cm so với chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới - WHO) [4]. Trên tổng thể, sức bền chung và các chỉ số sức khỏe, thanh thiếu niên của Việt Nam xếp loại rất kém so với thanh thiếu niên của các nước trong khu vực, đặc biệt khi so với Nhật Bản. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất tiêu cực đến chất lượng NNL trong thời kỳ hội nhập.

Thứ ba, về năng lực hội nhập, lao động

Việt Nam mặc dù thông minh, khéo léo, cần cù, nhưng khả năng sử dụng ngoại ngữ và các kỹ năng thực hành xã hội còn hạn chế. Theo tổ chức giáo dục Education First của Thụy Sĩ đối với các quốc gia không sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ, năng lực sử dụng tiếng Anh của người Việt Nam đứng thứ 7 trong khu vực châu Á, sau các quốc gia Singapore, Philippines, Malaysia, Ấn Độ, Hồng Kông, Hàn Quốc. Khảo sát trên còn chỉ ra mức độ thành thạo tiếng Anh ở Việt Nam đã có nhiều cải thiện, cho thấy thanh niên Việt Nam đã bắt đầu hòa nhập vào xu thế toàn cầu. Tuy nhiên, để đáp ứng tốc độ hội nhập của quốc gia, thì việc sử dụng thành thạo tiếng Anh vẫn là một rào cản rất lớn đối với đại bộ phận người lao động. Đây là thách thức lớn trong quá trình hội nhập, đặc biệt là khi thị trường lao động đang phải mở rộng cửa cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Thứ tư, về tinh thần trách nhiệm và ý thức, một bộ phận người lao động vẫn còn thiếu ý thức trong việc chấp hành các quy định. Ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận người lao động Việt Nam còn những hạn chế nhất định trong việc chấp hành các quy định của doanh nghiệp, đặc biệt quy định về an toàn lao động... Điều đó đã tạo nên những hệ quả không tốt, ảnh hưởng đến sự vận hành của toàn bộ hệ thống sản xuất của doanh nghiệp, tác động đến tâm lý đầu tư, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngước ngoài.

3. Một số giải pháp cơ bản phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hội nhập kinh tế quốc tế trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Một là, nâng cao năng lực dự đoán và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế, đẩy mạnh công tác phân luồng, tuyên truyền, định hướng nghề nghiệp cho học sinh các cấp

Để làm tốt công tác này, trước hết cần thực hiện tốt việc tổng kết, đánh giá đảm bảo phản ánh đúng bản chất thực trạng, đó là cơ sở quan trọng để vạch ra khuynh hướng phát triển trong tương lai. Từ đó đề ra mục tiêu và lựa chọn giải pháp, công cụ phù hợp nhằm đạt được những mục tiêu đó. Tham khảo, học tập mô hình phát triển kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới cũng là một kênh đáng quan tâm. Tuy nhiên, việc học tập mô hình cũng cần phát huy tính năng động, sáng tạo trong vận dụng, tránh máy móc, siêu hình. Có thực hiện tốt công tác dự đoán và hoạch định mới có thể đánh giá được chính xác nhu cầu của thị trường đối với NNL và có sự đầu tư xứng tầm cho việc phát triển NNL nước ta trong thời gian tới.

Trên cơ sở công tác dự đoán, hoạch định phải xác định cụ thể các lĩnh vực ngành nghề trọng tâm của quá trình hội nhập trong thời gian tới. Từ đó, truyền thông định hướng cho học sinh từ các cấp học nhỏ, để các em dần hình thành những định hướng ban đầu về nghề nghiệp. Đến giai đoạn cuối cấp học phổ thông, cần tổ chức những buổi tư vấn, hướng nghiệp cho các em lựa chọn ngành nghề phù hợp với nhu cầu thị trường, hạn chế tình trạng “nơi thiếu, nơi thừa”. Làm được điều này giúp kiểm soát tốt nguồn lực lao động, đồng thời phát triển nguồn lực đó theo đúng chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia, hạn chế sự dàn trải trong đầu tư phát triển NNL.

Hai là, hoàn thiện các cơ chế chính sách liên quan đến giáo dục và công tác quản lý giáo dục, quan tâm phát triển thể chất người lao động

Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững, là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục đồng nghĩa nâng cao, phát triển NNL. Đẩy mạnh xã hội hoá, đa dạng nguồn lực cho phát triển giáo dục, giúp giảm tải gánh nặng đối với nguồn lực tài chính của Nhà nước. Thu hút nguồn lực nước ngoài cũng là một giải pháp hiệu quả. Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, là thị trường tiềm năng thu hút đầu tư phát triển các dịch vụ giáo dục từ nguồn vốn FDI. Bối cảnh toàn cầu hóa là cơ hội rất tốt để giáo dục Việt Nam nhanh chóng hòa nhập với thế giới, tận dụng được kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế. Việt Nam muốn nâng cao chất lượng NNL bắt buộc phải đổi mới hoạt động giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Đổi mới giáo dục, trước hết nên bắt đầu từ công tác lập pháp. Cần sửa đổi, bổ sung, hợp nhất nhiều văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục nhằm đảm bảo công tác quản lý nhà nước về giáo dục được thống nhất, giảm thiểu sự cồng kềnh của bộ máy quản lý. Thực hiện cải cách các chính sách đãi ngộ, chế độ tiền lương cho đội ngũ giáo viên, giảng viên. Đây là lực lượng tiên phong, nòng cốt trong việc nâng cao chất lượng đào tạo NNL tương lai cho đất nước.

Mặc dù, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 641/QĐ-TTg Về việc phê duyệt đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030, nhưng đến nay kết quả đạt được hạn chế. Cần có sự chung tay của toàn xã hội trong tuyên truyền và áp dụng chế độ dinh dưỡng khoa học, thúc đẩy các phong trào vận động nâng cao sức khỏe cộng đồng. Quan tâm phát triển thể chất sớm cho trẻ em, xây dựng nền tảng thể lực tốt, phản xạ giúp gia tăng sự thích nghi với môi trường. Đối với người lao động, thể chất tốt t lệ thuận với khả năng thích nghi với môi trường làm việc, nhạy bén, sáng tạo, phản ánh năng lực cạnh tranh của NNL.

Ba là, cải tiến nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chặt chẽ đối với các đơn vị đào tạo

Nội dung chương trình, giáo trình đào tạo phải được xây dựng một cách cô đọng, sát với từng ngành nghề và có tính chuyên môn cao, tránh kiến thức thừa, kiến thức lạc hậu hoặc quá hàn lâm, đồng thời chú trọng đào tạo năng lực ngoại ngữ, các k năng thực hành xã hội, đạo đức nghề nghiệp, văn hóa truyền thống và đặc biệt quan tâm đến hoạt động giáo dục thể chất, hình thành thói quen vận động trong học sinh, sinh viên. Đồng thời, kích thích sự liên thông giữa các cơ sở đào tạo với thị trường thông qua các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo nghề. Cần phát triển mô hình trường nghề thuộc doanh nghiệp, đã được nhiều nước áp dụng trong đào tạo NNL. Hướng tới xây dựng những chương trình liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, trao đổi chuyên môn và trải nghiệm làm việc với các đơn vị nước ngoài, nhằm tạo điều kiện tiếp xúc sớm với môi trường lao động công nghiệp hiện đại. Tích cực học tập kinh nghiệm cải cách giáo dục của các nước trên thế giới. Cương quyết loại bỏ phương pháp dạy học kinh viện, nặng tính lý thuyết hàn lâm. Đổi mới phương pháp dạy học phải theo hướng kết hợp nhiều phương pháp linh hoạt nhưng trọng tâm phải phát huy vai trò tích cực, chủ động của người học.

Về cơ sở vật chất, có thể áp dụng các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo theo chuẩn khu vực, quốc tế. Về chất lượng chuẩn đầu ra, cần rà soát, thống nhất các tiêu chí, tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng. Siết chặt công tác kiểm tra đánh giá kết quả đầu ra của các đơn vị đào tạo, trước mắt tập trung vào các nghề trọng điểm. Đánh giá chuẩn đầu ra cần quan tâm đánh giá các yếu tố: kỹ năng ngoại ngữ; kỹ năng thực hành xã hội; đạo đức... Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, giảng viên cần rà soát tổng thể đối với đội ngũ quản lý và lực lượng giáo viên, giảng viên, tiến tới xây dựng lộ trình chuẩn hóa để đáp ứng mục tiêu phát triển NNL.

Kết luận

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu khách quan của các quốc gia trên thế giới. Đối với Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế; tạo ra các nguồn lực quan trọng để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc. Những giải pháp từ nhận thức đến hành động phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hội nhập kinh tế, quốc tế là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau. Trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ thể, lực lượng của hệ thống chính trị và toàn xã hội đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo đảm tối thượng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: hội nhập kinh tế được xác định là trung tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế với ưu tiên hàng đầu là cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số.

Tài liệu tham khảo:

[1] Ban Chấp hành Trung ương (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, https://baochinhphu.vn

[2] Những chuyển dịch trong cơ cấu lao động, ngày 6-12-2020, https://vcci-hcm.org.vn

[3] Nhu cầu nhân lực thay đổi xu hướng, sinh viên và các trường đại học đang có sự dịch chuyển, ngày 17-9-2023, https://danviet.vn.

[4] Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2023, https://www.gso.gov.vn

[5]Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc: Chiều cao của thanh niên Việt Nam có sự thay đổi, ngày 15-4-2021, https://dantocmiennui.baotintuc.vn.

Đọc thêm

Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm với khu vực và thế giới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tác giả: TRIỆU QUANG MINH

(GDLL) Bài viết chỉ ra cơ sở xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; những thách thức trong quá trình hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân hiện đại ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại theo nội dung văn kiện Đại hội XIV cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV - bước phát triển về tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên mới

Tác giả: PHẠM THỊ TRỌNG HIẾU

(GDLL) Sau 40 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, hình thành hệ thống “Lý luận về đường lối đổi mới”. Bài viết phân tích tính tất yếu, nội dung cốt lõi của lý luận về đường lối đổi mới và vai trò, ý nghĩa của việc bổ sung thành tố lý luận này vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới - bước phát triển tất yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội và định hướng chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VIỆT HÀ

(GDLL) Bài viết phân tích những điểm mới trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam về “hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Từ đó góp phần làm rõ Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là bước tiến quan trọng về lý luận của Đảng, khẳng định vị trí trung tâm của thể chế đối với các đột phá phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đẩy mạnh đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc tổ quốc trước mọi tình huống nhất là chú trọng công nghệ cao trong Dự thảo VĂn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VĂN ĐỨC

(GDLL) Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại trong đó chú trọng công nghệ cao là nhiệm vụ trọng yếu để bảo vệ Tổ quốc...

Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGUYỄN TIẾN SÁNG - ĐẶNG THỊ TỐ TÂM

(GDLL) Kinh tế tư nhân hiện nay đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trên cơ sở nội dung Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết phân tích vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đề xuất giải pháp phát huy vai trò động lực của khu vực này đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số, gắn với yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.