
Học sinh Trường Tiểu học Thành Công A
phấn khởi, vui tươi chào đón năm học mới_Ảnh:
QĐND
1. Mở đầu
Giáo
dục luôn giữ vai trò nền tảng trong sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt
trong bối cảnh thế giới đang bước vào kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập toàn
cầu. Tại Việt Nam, công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đang diễn ra
sâu rộng nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo và
phát triển bền vững. Tuy nhiên, để đổi mới và phát triển thành công, Việt Nam
không chỉ học hỏi kinh nghiệm quốc tế mà cần tìm hiểu thấu đáo các kinh nghiệm
của quá khứ, trước hết và trực tiếp là từ giáo dục Việt Nam qua các thời kỳ lịch
sử cân, hiện đại và nhất là nền giáo dục cách mạng.
Việc
nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm trong các thời kỳ sẽ giúp xác lập cơ sở lý luận
và thực tiễn cho việc đề xuất các định hướng chiến lược và giải pháp cụ thể nhằm
phát triển nền giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng hiện nay.
Đây cũng là cách để phát huy giá trị truyền thống trong quá trình kiến tạo
tương lai, thể hiện quan điểm kế thừa và phát triển kinh nghiệm quá khứ cho hiện
tại và tương lai một cách hài hòa, khoa học.
2. Nội dung
2.1. Giáo dục thời Pháp thuộc (1858 - 1945) và giáo dục ở miền Nam
dưới thời Việt Nam Cộng hòa (1945 - 1975)
Hệ
thống giáo dục thuộc địa kết hợp giữa khai mở và hạn chế. Chính quyền thực dân
Pháp thiết lập nền giáo dục thuộc địa nhằm phục vụ mục tiêu cai trị, khai thác
thuộc địa và đồng hóa văn hóa. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng trong quá
trình này, một hệ thống giáo dục hiện đại theo kiểu phương Tây đã được đưa vào Việt
Nam. Theo Brocheux P. và Hemery D., nhà trường thuộc địa là nơi “đồng thời mở
ra một cánh cửa văn minh và cũng là công cụ kiểm soát xã hội”(1). Hệ thống giáo dục này gồm các cấp học
rõ ràng: tiểu học, trung học và đại học(2).
Lần đầu tiên tại Việt Nam, một chương trình giáo dục có tổ chức, quản lý và thi
cử chặt chẽ được thực hiện.
Bên
cạnh các trường cao đẳng trong Đại học Đông Dương, chính quyền thuộc địa còn
cho thành lập các trường dạy nghề và kỹ thuật, như Trường Cơ khí Hải Phòng, nhằm
đào tạo lao động kỹ thuật, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ chuyên môn cho nền
kinh tế thuộc địa. Mô hình giáo dục nghề nghiệp của Pháp chú trọng thực hành nhằm
hình thành tư duy nghề nghiệp thực tế cho người học. Việc thành lập các trường
dạy nghề, dù số lượng chưa nhiều ở Việt Nam thời Pháp thuộc, đã tạo nên một diện
mạo mới cho giáo dục của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu hiện đại hóa và
tăng cường hiệu quả đào tạo thông qua mối quan hệ giữa trường học với thị trường
lao động, kết nối trường nghề với doanh nghiệp và nhà tuyển dụng(3).
Tuy
có mục đích phục vụ bộ máy cai trị, nhưng giáo dục thuộc địa dựa trên các
nguyên tắc quản lý hiện đại, tinh thần kỷ luật học vụ, và đặc biệt là mô hình
giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp. Những yếu tố này được
kế thừa có chọn lọc, trong đó nổi bật là: (i) Hệ thống giáo dục phân tầng/cấp học
rõ ràng, mang tính chuyên môn hóa; (ii) Gắn kết đào tạo lý thuyết với thực tiễn
sản xuất và nhu cầu thị trường lao động; (iii) Xây dựng hệ thống trường đào tạo
nghề hiện đại, có sự phối hợp giữa nhà nước và doanh nghiệp.
Giáo dục thời Việt Nam Cộng hòa (1955 - 1975)
Luật
Giáo dục Quốc gia năm 1969 của Việt Nam Cộng hòa nêu mục tiêu: phát triển con
người: Có đạo đức và luân lý; Có tinh thần quốc gia và dân tộc; Có ý thức dân
chủ và tinh thần cộng đồng; Có khả năng phục vụ quốc gia, xã hội và nhân loại(4). Về triết lý giáo dục, Luật quy định: Nền
giáo dục Việt Nam dựa trên ba nguyên lý là : Nhân bản, Dân tộc, Khai phóng(5). Triết lý giáo dục được thể hiện rõ
trong chương trình học, nội dung đào tạo giáo viên và phương pháp giảng dạy. Việc
kết hợp hài hòa giữa tính dân tộc và khai phóng góp phần giữ gìn các giá trị
truyền thống và tiếp cận xu hướng hiện đại của giáo dục thế giới.
Trong
giai đoạn này, hệ thống giáo dục đại học hiện đại và mở rộng(6). Nhiều trường đại học theo mô hình
phương Tây như Viện Đại học Sài Gòn, Đà Lạt, Cần Thơ... đã hình thành. Các trường
này có quan hệ hợp tác với nhiều đại học ở Mỹ, Pháp và Nhật. Trong cuốn “Giáo dục
đại học miền Nam Việt Nam dưới thời chính quyền Sài Gòn
(1954 - 1975)”, nêu: Dưới thời chính quyền Sài Gòn, giáo dục đại học miền
Nam có bước phát triển mạnh, ở cả quy mô và chất lượng quản trị, nội dung đào tạo(7).
Hệ
thống trường sư phạm được tổ chức từ sơ cấp đến đại học. Các trường đại học bắt
đầu thực hiện mô hình tự chủ trong quản trị, tài chính và học thuật.. Trong
sách “Giáo dục miền Nam Việt Nam trước 1975”, nhận xét: Mặc dù còn nhiều thách
thức, chính sách giáo dục miền Nam giai đoạn này đã đặt nền móng cho một mô
hình đại học tự chủ, hội nhập và sáng tạo(8).
2.2.
Giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 -
1976)
Ngay
sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xác định
xóa nạn mù chữ và xây dựng một nền giáo dục mới là nhiệm vụ cấp thiết. Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và kêu gọi toàn dân
tham gia “diệt giặc dốt” như một mặt trận cần tiến hành đồng thời với mặt trận
chống giặc ngoại xâm và đói nghèo. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một trong những công việc
phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”(9).
Các
chính sách giáo dục được triển khai ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành
công tập trung vào các nội dung như: 1) Bãi bỏ nền học cũ vốn mang tính chất
giáo điều, nặng tính hàn lâm, phục vụ cho chế độ thực dân; 2) Thành lập Bộ Quốc
gia Giáo dục, chịu trách nhiệm cải tổ giáo dục theo tinh thần mới “học để phục
vụ Tổ quốc và nhân dân”; 3) Tổ chức lại hệ thống giáo dục theo hướng thống nhất
với 3 cấp học: tiểu học, trung học và đại học; 4) Khuyến khích việc học chữ Quốc
ngữ và mở các lớp bình dân học vụ nhằm xóa nạn mù chữ; 5) Chủ trương phổ cập
giáo dục.
Trong
điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nền giáo dục mới với phương châm dân tộc,
khoa học và đại chúng(10), đã được
khẳng định và thông qua trong Hội nghị giáo giới toàn quốc, họp tại Hà Nội từ
ngày 25 đến ngày 27-8-1946(11).
Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo tổ chức lại hệ thống giáo dục
quốc dân, mở các lớp bình dân học vụ nhằm xóa mù chữ cho nhân dân. Song song với
đó, một hệ thống giáo dục phục vụ kháng chiến từng bước được hình thành và củng
cố trong các vùng tự do, các căn cứ địa, góp phần giữ vững nền tảng tri thức và
nâng cao dân trí trong điều kiện đặc biệt khó khăn của cuộc kháng chiến.
Trong
giai đoạn 1954 - 1975, miền Bắc tiến hành cải cách giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp cách mạng, đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống giáo dục thống
nhất, bao gồm ba cấp học. Trong tiến trình đó, nhiều cơ sở giáo dục đại học trọng
điểm đã được thành lập, tiêu biểu như Đại học Tổng hợp, Đại học Bách khoa, Học
viện Nông nghiệp..., từng bước xây dựng một đội ngũ trí thức có trình độ cao,
phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và góp phần to lớn vào
công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Hệ
thống giáo dục mới được định hướng gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn,
đề cao nguyên tắc “học đi đôi với hành” nhằm phát triển toàn diện con người mới
xã hội chủ nghĩa.
Những
kinh nghiệm quý báu từ nền giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gồm: (1) Coi giáo dục là nhiệm vụ toàn dân, huy động toàn
dân cùng Nhà nước phát triển giáo dục; (2) Lấy mục tiêu dân tộc - dân chủ -
khoa học làm nền tảng đổi mới, định hình bản sắc của nền giáo dục Việt Nam; (3)
Tổ chức hiệu quả hệ thống giáo dục trong điều kiện chiến tranh, nhấn mạnh
khả năng thích ứng, sáng tạo, gắn giáo dục với thực tiễn.
2.3.
Định hướng phát triển nền giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Một
là, xây dựng triết lý giáo dục hiện đại, bảo đảm tính toàn diện, nhân văn, thực
tiễn
Lịch
sử giáo dục Việt Nam cho thấy, mỗi thời kỳ đều có triết lý giáo dục riêng, phản
ánh tầm nhìn của xã hội đối với con người và tương lai đất nước. Thời kỳ phong
kiến, giáo dục gắn chặt với Nho giáo, lấy “tu thân - tề gia - trị quốc - bình
thiên hạ” làm cốt lõi, hình thành nên lớp trí thức Nho học như Chu Văn An, Nguyễn
Trãi, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú...
Đến
thời Pháp thuộc, hệ thống giáo dục Pháp - Việt du nhập tư tưởng khai phóng
phương Tây, mở rộng tiếp cận khoa học - kỹ thuật và tư duy thực chứng, góp phần
đào tạo ra những trí thức cách mạng như Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Nguyễn An
Ninh... Bên cạnh đó là các nhà khoa học như Hoàng Minh Giám, Nguyễn Xiển, Nguyễn
Khánh Toàn, Lương Định Của, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Cảnh Toàn,...
Sau
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giáo dục được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là
quốc sách hàng đầu trong công cuộc kháng chiến và kiến thiết đất nước. Tư tưởng
“học đi đôi với hành”, “giáo dục phục vụ kháng chiến - kiến quốc” là nền tảng
cho triết lý giáo dục xã hội chủ nghĩa thời kỳ đầu.
Ngày
nay, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, Việt
Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một triết lý giáo dục mới, phù hợp
với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Triết lý này cần hướng tới mục
tiêu đào tạo những công dân toàn cầu có tư duy độc lập, sáng tạo, có bản lĩnh
văn hóa vững vàng và năng lực thích ứng nhanh trước những biến động nhanh
chóng, khó lường của thời đại. Đồng thời, vẫn phải giữ gìn và phát huy những
giá trị cốt lõi của dân tộc như tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng
phát triển, qua đó chủ động hội nhập quốc tế mà không bị hòa tan.
Như
vậy, cần xây dựng triết lý giáo dục hiện đại trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”(12).
Mục tiêu giáo dục hướng đến phát triển toàn diện con người về đức - trí - thể -
mỹ, vừa chú trọng giáo dục đạo đức, lòng yêu nước vừa đào tạo, bồi dưỡng năng lực,
phẩm chất công dân toàn cầu có bản sắc Việt Nam.
Hai
là, hiện đại hóa và quốc tế hóa giáo dục, trước hết là giáo dục đại học
Ngay
từ đầu thế kỷ XX, phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng đã mở ra một
hướng đi mới khai sáng dân trí, khi tổ chức đưa hàng trăm thanh niên ưu tú sang
Nhật Bản học tập, với khát vọng tiếp thu tinh thần canh tân và đổi mới đất nước.
Trong
thập niên 1920, 1930, nhiều trí thức Việt Nam được đào tạo tại Pháp, nơi họ có
cơ hội tiếp cận những tư tưởng dân chủ, tiến bộ của phương Tây. Sự giao thoa tư
tưởng Đông - Tây trong giai đoạn này đã góp phần hình thành tầng lớp trí thức
yêu nước tiêu biểu, đặt nền móng cho các phong trào
cách mạng sau này, như: Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Trần Đức
Thảo, Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)...
Giai đoạn 1950 - 1980, Việt Nam gửi hàng vạn học sinh,
sinh viên sang học tập tại Liên Xô, Tiệp Khắc, Đức, Ba Lan... Nhiều người sau
này đã trở thành nhà khoa học, nhà lãnh đạo, kỹ sư đầu ngành,... có những đóng
góp quan trọng vào công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh và phát triển
kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới.
Từ
khi tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay, hợp
tác giáo dục quốc tế của Việt Nam không ngừng được mở rộng và phát triển theo
chiều sâu. Nhiều chương trình liên kết đào tạo, nghiên cứu và trao đổi học thuật
đã được thiết lập với các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Ôxtrâylia
và các tổ chức đa phương như AUN, Erasmus+,
Fulbright... Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều
chương trình học bổng quan trọng nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục
vụ sự nghiệp phát triển đất nước, như: Đề án 322 (2000 - 2005), Đề án 911 (2010
- 2020), Chương trình học bổng VEF (Vietnam Education Foundation) do Mỹ tài trợ
giai đoạn 2003 - 2016, cùng nhiều chương trình học bổng theo ngân sách nhà nước
hằng năm,...
Trong kỷ nguyên phát triển mới, Việt Nam cần phát huy hơn nữa tinh
thần hội nhập để xây dựng các trường đại học theo chuẩn quốc tế, hình thành hệ
sinh thái nghiên cứu liên quốc gia, và kết nối trí thức
Việt Nam toàn cầu(13) nhằm
nâng cao chất lượng, uy tín giáo dục đại học.
Việt
Nam có thể tham khảo mô hình đại học nghiên cứu của Mỹ - nơi kết hợp đào tạo,
nghiên cứu và phục vụ cộng đồng, nổi bật như Đại học Stanford và Viện Công nghệ
Massachusetts (MIT)(14). Các trường này chú trọng sáng tạo, đổi
mới và liên kết với doanh nghiệp, góp phần hình thành nên các trung tâm khởi
nghiệp toàn cầu. Kinh nghiệm của Phần Lan về mô hình đại học tự chủ với sự tham
gia của xã hội và doanh nghiệp cũng cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng hệ
thống quản trị hiện đại trong đại học(15).
Ba
là, phát triển hệ thống giáo dục đa dạng, linh hoạt, hiệu quả
Thực
hiện mô hình kết hợp giữa đào tạo chính quy và không chính quy, giáo dục phù hợp
với mục tiêu học tập suốt đời và nhu cầu thị trường lao động linh hoạt. Cần
tăng cường trao quyền cho các địa phương và cơ sở giáo dục.
Bốn
là, phát triển đội ngũ nhà giáo - trụ cột của mọi cải cách giáo dục
Ngay
từ những ngày đầu đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan
tâm đến vai trò của giáo dục - đào tạo vào việc học tập của nhân dân. Trong Thư
gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tháng 9-1945), Người viết: “Non sông Việt Nam
có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để
sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở
công học tập của các em”(16).
Để
phát triển nền giáo dục quốc gia, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan
tâm đến đội ngũ giáo viên. Sau năm 1945, hàng nghìn giáo viên đã tình nguyện
lên các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa để mở lớp xóa mù chữ, góp phần đưa tỷ
lệ người biết chữ tăng vọt chỉ trong một thập kỷ. Ngày nay, trong kỷ nguyên số,
giáo viên cần được trang bị tư duy số, khả năng sáng tạo và thích ứng với thay
đổi, thay vì chỉ truyền đạt kiến thức một chiều. Cùng với đó là nhu cầu có một
thế hệ cán bộ quản lý giáo dục chuyên nghiệp, có tư duy chiến lược và hiểu biết
toàn diện để dẫn dắt đổi mới giáo dục đất nước. Cần phát triển đội ngũ nhà giáo
- trụ cột của mọi cải cách và hiện đại hóa giáo dục.
Trong
bối cảnh mới, thay vì chỉ truyền đạt kiến thức một chiều như trước kia, giáo
viên cần được trang bị tư duy số, khả năng sáng tạo và thích ứng với thay đổi.
Cùng với đó là nhu cầu có một thế hệ quản lý giáo dục chuyên nghiệp, có tầm
nhìn chiến lược và hiểu biết toàn diện để đẩy mạnh công cuộc đổi mới trong giáo
dục.
Thực
tiễn kinh nghiệm trong nước và quốc tế đều chỉ rõ cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng
thường xuyên, nâng cao chất lượng, phẩm chất và năng lực đội ngũ nhà giáo. Đồng
thời, thực hiện chính sách đãi ngộ, phát triển nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu
mới của sự nghiệp giáo dục.
3. Kết luận
Giáo
dục Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên phát
triển mới. Tuy nhiên, đổi mới không có nghĩa là đoạn tuyệt với quá khứ. Chính từ
lịch sử giáo dục Việt Nam, cũng có thể tìm thấy những kinh nghiệm cho công cuộc
cải cách và phát triển giáo dục hôm nay. Từ sự hình thành hệ thống các trường
thời Pháp thuộc, qua mỗi giai đoạn đều để lại dấu ấn, kinh nghiệm mà nếu được
nghiên cứu nghiêm túc và vận dụng đúng đắn, sẽ cung cấp những gợi mở hữu ích
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của nền giáo dục
nước nhà.
Chính
tinh thần học thuật cởi mở, mô hình tổ chức hiệu quả và triết lý nhân bản - dân
tộc - sáng tạo sẽ giúp giáo dục Việt Nam vừa giữ gìn được giá trị truyền thống,
vừa thích ứng với những thay đổi của thời đại. Đây là con đường tất yếu để xây
dựng một nền giáo dục phát triển bền vững, hội nhập quốc tế sâu rộng và khai mở
tiềm năng con người trong thế kỷ XXI.
(nguồn
lyluanchinhtri.vn)
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị
số 7-2025
Ngày nhận bài: 11-5-2025; Ngày bình
duyệt: 20-6-2025; Ngày duyệt đăng: 14-7-2025.
Email tác giả: khanhnv@vnu.edu.vn
(1)
Brocheux, Pièrre - Hémery, Daniel: Đông Dương một nền thuộc địa nhập nhằng giai
đoạn 1858-1954, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2022, tr.145-147.
(2)
Xem Trịnh Văn Thảo: Nhà trường Pháp ở Đông Dương, Nxb Tri thức, Hà Nội; Phan Trọng
Báu: Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Tái bản lần thứ 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2019, tr.236-237.
(3)
Trần Thị Phương Hoa: Trường dạy nghề ở Việt Nam thời Pháp thuộc 1898 - 1945,
Nxb Thế giới, Hà Nội, 2020, tr.302, 305.
(4)
Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa: Luật Giáo dục quốc gia, Nxb Trung tâm Học
liệu Sài Gòn, 1969, tr.3-5.
(5)
Trước đó, trong Luật Giáo dục của Việt Nam Cộng hòa
(năm 1967) Điều 2 ghi ba nguyên tắc của giáo dục là: Dân tộc, Khoa học,
Nhân bản. Xem Hoàng Thị Hồng Nga: Giáo dục đại học miền Nam Việt Nam dưới thời
chính quyền Sài Gòn (1954 - 1975), Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2023, tr.17.
(6)
Có thể tham khảo Nguyễn Q.Thắng: Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nxb Văn hóa -
Thông tin, Hà Nội, 1993, tr.137-258.
(7), (8)
Hoàng Thị Hồng Nga: Giáo dục đại học miền Nam Việt Nam dưới thời chính quyền
Sài Gòn (1954 - 1975), Sđd, tr.101-104,
tr.178-180.
(9)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011,
tr.40.
(10)
Vũ Đình Hòe: “Đại hội văn hóa toàn quốc 1946”, báo Cứu quốc, 1946.
(11)
Đinh Quang Hải: Lịch sử giáo dục miền Bắc Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2020, tr.37.
(12)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Sđd, tr.208.
(13) Nguyễn An Hà (cb): Cộng đồng và đội ngũ
trí thức người Việt Nam ở một số nước Đông Âu những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011, tr.37-39.
(14)
Clark, Burton R.: Creating Entrepreneurial Universities: Organizational
Pathways of Transformation, Pergamon Press, 1998, tr.152-155.
(15)
Välimaa, Jussi - Hoffman, David: Knowledge Society Discourse and Higher
Education, Sense Publishers, 2008, tr.210-212.
(16)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.35.