
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới,
yêu cầu phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc, mà cốt lõi là ý chí tự lực, tự
cường, đặt ra ngày càng cấp thiết_Ảnh: IT
1. Mở đầu
Trong
tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, tự lực, tự cường luôn là giá trị nền tảng,
gắn liền với sự tồn tại, phát triển và thắng lợi của dân tộc. Trong kỷ nguyên
phát triển mới của đất nước, vấn đề phát huy tinh thần tự lực, tự cường càng trở
nên cấp thiết.
Đại
hội XIV của Đảng được tổ chức trong bối cảnh Việt Nam đã có thế và lực mới sau
40 năm đổi mới, đồng thời đang đứng trước thời cơ và thách thức đan xen. Để bước
vào kỷ nguyên mới, xây dựng thành công nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự chủ,
giàu mạnh, phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu,
đòi hỏi phải tiếp tục nhận thức sâu sắc và vận dụng sáng tạo mối quan hệ giữa tự
lực, tự cường, tự chủ và hội nhập quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối
của Đảng để phát huy hơn nữa tinh thần tự lực, tự cường trên các lĩnh vực.
2. Nội dung
2.1. Quan
điểm Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về tinh thần tự lực, tự cường
Trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, tự lực, tự cường là nguyên tắc chiến lược xuyên suốt của
cách mạng Việt Nam. Người khẳng định rằng: “Mỗi một người dân phải hiểu: có tự
lập mới độc lập, có tự cường, mới tự do”(1).
Muốn được độc lập thật sự thì phải dựa vào lực lượng của chính mình; sự giúp đỡ
quốc tế là quan trọng, nhưng không thể thay thế nỗ lực tự thân của dân tộc. Tự
lực, tự cường vì vậy vừa mang nội dung chính trị sâu sắc, vừa là yêu cầu hiện
thực trong tổ chức và hành động cách mạng.
Lịch
sử cách mạng Việt Nam đã ghi dấu những thử thách hết sức cam go đối với ý chí tự
lực, tự cường và khát vọng độc lập dân tộc. Những thắng lợi vĩ đại như Cách mạng
Tháng Tám năm 1945, thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ
đều là minh chứng sinh động cho sức mạnh của ý chí tự lực, tự cường được hun
đúc trong toàn dân tộc.
Sau
thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, với việc quán triệt sâu sắc “tinh thần
độc lập, tự cường”(2), Đảng
và Nhà nước ta đã tập trung xây dựng nền văn hóa mới, từng bước xóa bỏ tâm lý
nô lệ, lệ thuộc, khơi dậy tinh thần làm chủ và ý thức trách nhiệm của nhân dân
trong công cuộc xây dựng đất nước. Đây là bước chuyển quan trọng về nhận thức
và hành động, đặt nền tảng tinh thần cho sự nghiệp cách mạng lâu dài.
Bước
vào thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, tinh thần “mang sức ta mà giải
phóng cho ta” tiếp tục được kế thừa và phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn,
được cụ thể hóa thành phương châm: toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực
cánh sinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao
tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến, thì ngày nay chúng ta càng
phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nước nhà”(3).
Từ
thực tiễn lịch sử đó, có thể khẳng định rằng, trong mọi hoàn cảnh và trong quá
trình hoạch định, thực thi đường lối, chính sách, Đảng và Nhà nước luôn đặt yêu
cầu phát huy mạnh mẽ tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc lên hàng đầu. Chỉ
có sự chủ động, dựa vào sức mình là chính mới tạo ra cơ hội thành công bền vững;
ngược lại, mọi biểu hiện lệ thuộc, ỷ lại đều tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm và
đánh mất quyền độc lập dân tộc.
Qua
các kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán khẳng định phát triển con người
Việt Nam là vấn đề trung tâm, then chốt của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước, trong đó tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc giữ vai trò đặc biệt quan
trọng. Cương lĩnh năm 1991 đã xác định mục tiêu xây dựng con người Việt Nam có
ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế
chân chính(4). Tư tưởng này tiếp
tục được cụ thể hóa tại Đại hội IX khi nhấn mạnh xây dựng con người Việt Nam
phát triển toàn diện và coi văn hóa là nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện
nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng, phát huy ý chí tự lực, tự cường
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc(5).
Đại
hội XI khẳng định, con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của chiến lược
phát triển; văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội và là sức mạnh nội
sinh quan trọng bảo đảm phát triển bền vững đất nước(6). Đại hội XII tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu
xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng tới chân
- thiện - mỹ, coi xây dựng con người là mục tiêu chiến lược của phát triển(7).
Đại
hội XIII của Đảng xác định ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước
phồn vinh, hạnh phúc là nguồn lực nội sinh quan trọng của quốc gia; đồng thời
nhấn mạnh giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội
cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ(8).
Quan điểm này được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát tại Hội nghị Văn hóa
toàn quốc năm 2021, trong đó “tự cường” được xác định là một giá trị cốt lõi của
con người Việt Nam thời kỳ mới, gắn với hệ giá trị gia đình, văn hóa và quốc
gia - dân tộc(9).
Đại
hội XIV của Đảng không chỉ xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cho nhiệm
kỳ 2026 - 2030 mà đã quyết định những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với
tương lai và vận mệnh của dân tộc trong 100 năm tiếp theo. Đại hội yêu cầu tiếp
tục khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước, bồi đắp niềm tự hào và ý
chí tự lực, tự cường dân tộc; khơi thông và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực, mọi
động lực phát triển; phát huy sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn
dân tộc gắn với sức mạnh thời đại, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới,
xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu xây dựng
đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm Châu theo tâm nguyện của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc Việt Nam.
Dân
tộc ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới trong bối cảnh quốc tế và trong
nước có nhiều thời cơ, thuận lợi, song cũng đan xen không ít thách thức, trở ngại
và khó khăn trên các lĩnh vực. Thực tiễn đó đòi hỏi chúng ta làm thế nào để vừa
phát triển nhanh, bền vững, vừa bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, đồng thời
giữ vững và nâng cao vị thế quốc gia trong bối cảnh đó. Câu trả lời cốt lõi nằm
ở việc nâng cao ý chí tự lực, tự cường gắn với tự chủ chiến lược. “Tự chủ chiến
lược được hiểu là sự kết hợp giữa nội lực mạnh mẽ, bản lĩnh chính trị - đối ngoại
vững vàng, định vị rõ mình, xác định rõ lộ trình phát triển, nâng cao khả năng
thích ứng linh hoạt và năng lực hội nhập quốc tế chủ động, tích cực”(10).
2.2. Tinh
thần tự lực, tự cường là nền tảng của hội nhập quốc tế thành
công trong sự nghiệp đổi mới đất nước
Sau
gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu
to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân không ngừng được cải thiện, hạnh phúc xã hội ngày càng được nâng cao,
vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định.
Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, tình hình chính trị - xã hội ổn định, khối đại đoàn kết
toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, tập
trung nguồn lực và trí tuệ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế. Nhờ đó, kinh tế Việt
Nam duy trì tốc độ tăng trưởng khá, thuộc nhóm các quốc gia có mức tăng trưởng
cao trong khu vực và trên thế giới; giai đoạn 2016 - 2020 đạt mức tăng trưởng
bình quân khoảng 6%/năm; riêng năm 2024 đạt 7,09%, nâng quy mô GDP của nền kinh
tế lên khoảng 476 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 4.700 USD, tăng 377 USD
so với năm 2023(11). Cùng với
tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh ở cả khu vực đồng bằng, vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Những thành tựu đó đã được cộng đồng
quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
“Tự lực, tự cường là giá trị cốt lõi, sức mạnh nội sinh bền vững
của dân tộc đã được hun đúc trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam và
tiếp tục khẳng định giá trị và vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đất
nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Trong
lĩnh vực hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc
gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó, có quan hệ đối tác chiến lược và
đối tác toàn diện với hơn 30 nước; bao gồm 5 nước thành viên Thường trực Hội đồng
Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả thành viên ASEAN. Việt Nam là thành viên
tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng,
như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO v.v(12).
Đó
là kết quả của quá trình phát huy ý chí tự lực, tự cường; giữ vững ổn định
chính trị - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy vai
trò lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân và nâng cao năng lực nội
sinh của nền kinh tế. Chính nền tảng đó giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng
mà vẫn giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia - dân tộc.
Văn
kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập
và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại
lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất”(13). Quán triệt sâu sắc quan điểm đó, Việt
Nam từng bước hình thành và củng cố năng lực tự chủ chiến lược trên phạm vi
toàn diện, dựa trước hết vào sức mình, đồng thời chủ động tận dụng hiệu quả các
nguồn lực và xu thế của thời đại. Việc kiên định độc lập, tự chủ gắn với đẩy mạnh
hội nhập quốc tế toàn diện và thực chất đã mang lại những thành tựu quan trọng,
tạo dựng thế và lực mới cho đất nước, làm nền tảng để Việt Nam bước vào giai đoạn
phát triển nhanh, bền vững và không ngừng nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Trong
bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt
là các lĩnh vực như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông
tin…khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu của phát triển(14). Để đất nước phát triển mạnh mẽ, Việt
Nam tất yếu phải hòa vào xu thế chung đó. Cùng với sự phát triển của đội ngũ
lao động số là sự xuất hiện của các công cụ sản xuất hiện đại trong lực lượng sản
xuất thời kỳ kỹ thuật số, phản ánh tinh hoa văn hóa và tri thức nhân loại, qua
đó góp phần thúc đẩy nhanh và hiệu quả hơn quá trình phát triển của dân tộc.
Trên
thế giới, nhiều quốc gia đang đầu tư rất lớn cho phát triển hạ tầng số, mạng lưới
viễn thông và internet băng thông rộng, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển
kinh tế số và xã hội số. Do đó, để đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới,
chuyển đổi số là một trong những động lực then chốt.
Cùng
với khoa học công nghệ, văn hóa, mà trước hết là công nghiệp văn hóa ngày càng
khẳng định vai trò là một nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các
quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt,
một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững không chỉ dựa vào tăng trưởng
kinh tế hay tiến bộ khoa học công nghệ, mà còn phải bảo đảm văn hóa thấm sâu
vào mọi mặt của đời sống xã hội; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với
phát triển văn hóa, trong đó có công nghiệp văn hóa. Đặc biệt, văn hóa cần thấm
sâu vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, điều hành và sáng tạo trong các lĩnh
vực trọng yếu của đất nước như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học,
công nghệ, văn học, nghệ thuật. “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt
Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ
Tổ quốc… con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan
trọng nhất của đất nước”(15).
2.3.
Phát huy tinh thần tự lực, tự cường dân tộc trong kỷ nguyên phát
triển mới
Bước
vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc,
mà cốt lõi là ý chí tự lực, tự cường, đặt ra ngày càng cấp thiết. Đây không chỉ
là yêu cầu mang tính tinh thần, tư tưởng, mà còn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược
trong hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước. Trên cơ sở tổng kết
thực tiễn đổi mới và xuất phát từ những đòi hỏi mới của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ, có thể
rút ra một số nội dung:
Thứ
nhất, kiên định xây dựng nền kinh tế độc lập,
tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, thực chất và hiệu quả. Độc
lập, tự chủ về kinh tế không đồng nghĩa với khép kín hay tách rời thế giới, mà
được hiểu là khả năng tự quyết định các vấn đề phát triển căn bản của đất nước,
bảo đảm vững chắc các trụ cột an ninh kinh tế trong bối cảnh thế giới biến động,
phức tạp và khó lường. Nền kinh tế độc lập, tự chủ tạo tiền đề để Việt Nam tham
gia hội nhập quốc tế với tư thế bình đẳng, chủ động, tránh lệ thuộc, từ đó nâng
cao khả năng chống chịu và thích ứng trước các cú sốc bên ngoài. Đây chính là
biểu hiện tập trung của sức mạnh nội sinh trong lĩnh vực kinh tế.
Thứ
hai, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số là trụ cột then chốt của tự lực, tự cường trong kỷ
nguyên phát triển mới. Trong điều kiện kinh tế tri thức và cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, trình độ khoa học công nghệ và năng lực đổi
mới sáng tạo trở thành thước đo quan trọng phản ánh sức mạnh nội sinh của mỗi
quốc gia. Việc làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và
sáng tạo không chỉ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của
nền kinh tế, mà còn tạo cơ sở để đất nước hội nhập quốc tế trên nền tảng thực lực,
hạn chế nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc.
Thứ
ba, phát huy vai trò trung tâm của con người
Việt Nam với tư cách là chủ thể quyết định của tự lực, tự cường. Con người vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, là nhân tố trực tiếp chuyển hóa
các tiềm năng thành sức mạnh hiện thực. Do đó, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng
cao, phát triển toàn diện con người Việt Nam về bản lĩnh chính trị, trí tuệ, đạo
đức, thể chất, kỹ năng là yêu cầu có tính nền tảng. Đầu tư cho giáo dục, đào tạo,
bồi dưỡng nhân tài và phát triển con người là đầu tư cho sức mạnh nội sinh lâu
dài, bền vững của dân tộc.
Thứ
tư, xây dựng và phát triển văn hóa, con người
Việt Nam trở thành sức mạnh nội sinh bền vững trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là nguồn lực nội
sinh quan trọng, góp phần định hướng phát triển và củng cố bản lĩnh dân tộc.
Trong bối cảnh giao lưu, tiếp biến văn hóa toàn cầu ngày càng sâu rộng, việc giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng hệ giá trị Việt Nam hiện đại,
giàu tính nhân văn có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao năng lực tự chủ
văn hóa, bảo đảm cho hội nhập diễn ra chủ động, có chọn lọc.
Thứ
năm, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm
quyền của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hiệu lực,
hiệu quả nhằm tạo lập môi trường thể chế thuận lợi để khơi thông và phát huy tối
đa các nguồn lực trong xã hội. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và hiệu quả quản
trị quốc gia là nhân tố chính trị có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho tinh thần
tự lực, tự cường được thể chế hóa thành chủ trương, chính sách và được hiện thực
hóa trong thực tiễn phát triển đất nước.
3. Kết luận
Tự
lực, tự cường là giá trị cốt lõi, sức mạnh nội sinh bền vững của dân tộc đã được
hun đúc trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam và tiếp tục khẳng định
giá trị và vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ
nguyên phát triển mới. Thành công của Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khơi dậy mạnh
mẽ tinh thần tự lực, tự cường, ý chí vươn lên của toàn dân tộc. Đây chính là nền
tảng vững chắc để biến chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thành hiện
thực; vì một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn
minh, hạnh phúc.
(nguồn:
lyluanchinhtri.vn)
Ngày nhận
bài: 5-02-2026; Ngày bình duyệt:12-02-2026;
Ngày duyệt đăng:25-02-2026.
Email tác giả: thaoanhhvbctt@gmail.com
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5338
(1)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2011, tr. 526.
(2)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2011, tr. 455.
(3)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.14, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2011, tr. 27 - 28.
(4)
ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung và phát triển 2011), https://tulieuvankien.dangcongsan.vn,
ngày 24/09/2015.
(5)
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 114.
(6)
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần II (Đại hội X, XI, XII), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr.
506.
(7)
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính
trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 126.
(8)
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 34.
(9) Toàn
văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc, https://moit.gov.vn,
ngày 24 - 11- 2021.
(10)
Nguyễn Trọng Thường: Tự chủ chiến lược nâng cao vị thế quốc gia, https://www.tapchicongsan.org.vn,
ngày 09 - 11 - 2025
(11)
Bảo Ngọc: Năm 2024 tăng trưởng hơn 7%, quy mô GDP nền kinh tế khoảng
476 tỷ USD, https://tuoitre.vn, ngày 06 - 01 -2025.
(12)
Anh Thư - Quỳnh Hoa: 40 năm đổi mới, cục diện đối ngoại Việt Nam rộng
mở toàn diện vững chắc, https://vov.vn, ngày 12 - 01 - 2025.
(13)
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 110 - 111.
(14)
GS, TS Tô Lâm: Phát biểu bế mạc hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XIII, Tạp chí Cộng sản, số 1.046, tháng 9 - 2024, tr.
15.
(15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.1, tr.
115 - 116.