
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp mặt
nữ lãnh đạo, quản lý các cơ quan Trung ương năm 2025_Ảnh: VNN
1. Mở đầu
Sự
tham gia của cán bộ nữ trong cấp ủy có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm bình đẳng
giới nói chung và bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị nói riêng. Nhận thức
tầm quan trọng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị
để chỉ đạo tăng cường sự tham gia của cán bộ nữ vào cấp ủy. Có vai trò đặc biệt
quan trọng định hướng cho sự tham gia của cán bộ nữ vào cấp ủy là Nghị quyết
11-NQ/TW ngày 24-7-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với chỉ tiêu 25% cán bộ nữ tham gia cấp
ủy vào năm 2020. Với sự chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy đảng, tỷ lệ cán bộ nữ
tham gia cấp ủy trong những năm qua đã tăng lên. Đầu nhiệm kỳ 2020-2025, tỷ lệ ủy
viên ban chấp hành đảng bộ là nữ ở cấp cơ sở (chỉ bao gồm các xã, phường, thị
trấn) thuộc 63 Đảng bộ tỉnh, thành phố là 25,6%, cao hơn 4,2% so với cuối nhiệm
kỳ trước; tỷ lệ nữ ủy viên cấp huyện là 20,1%, cao hơn 1,9% và tỷ lệ cấp ủy
viên nữ cấp tỉnh đạt 16%, tăng 2% (1).
Tuy
nhiên, căn cứ vào mục tiêu Nghị quyết số 11-NQ/TW thì tỷ lệ cán bộ nữ tham gia
cấp ủy vẫn chưa đạt được chỉ tiêu đề ra. Chỉ thị 35-CT/TW ngày 14-6-2024, của Bộ
chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh công tác cán bộ nữ nói chung và tỷ lệ nữ tham
gia cấp ủy nói riêng. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
phát triển, giàu mạnh, phồn vinh, thịnh vượng, việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ
tham gia cấp ủy càng có ý nghĩa trong huy động và sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực
của nam giới và phụ nữ cho sự phát triển.
Trên
cơ sở phân tích các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và một số kết quả khảo sát do
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Hội Xã hội học Việt Nam thực
hiện với sự hỗ trợ của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam(2), bài viết nêu một
số hạn chế trong quá trình thực hiện công tác cán bộ nữ và việc cán bộ nữ tham
gia cấp ủy, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự tham gia của cán bộ nữ
vào cấp ủy.
2. Nội dung
2.1. Kết
quả tích cực trong triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng về
công tác cán bộ nữ
Để
thực hiện Nghị quyết 11/NQ-TW, Đảng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, như Chỉ
thị số 21-CT/TW, ngày 20-1-2018 của Ban bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ
nữ trong tình hình mới, nhấn mạnh vai trò của người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền
các cấp trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp để đạt chỉ
tiêu Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác cán bộ nữ. Đồng thời, công tác cán bộ nữ
được đề cập, nhấn mạnh trong nhiều văn kiện: Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII,
ngày 19-5-2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến
lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, tiếp tục nhấn mạnh
nhiệm vụ phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường vụ cấp uỷ và tổ chức đảng
các cấp và tỷ lệ nữ cấp uỷ viên các cấp đạt từ 20 - 25%; Chỉ thị số 35-CT/TW,
ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 14-6-2024 của
Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIV của Đảng, đã nhấn mạnh trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy các cấp
và người đứng đầu các cấp trong việc rà soát, đánh giá để đào tạo, bồi dưỡng, bố
trí, sắp xếp cán bộ nữ vào các chức danh có cơ cấu tham gia cấp ủy khóa mới, với
mức phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban
thường vụ.
Thực
tiễn ở nhiều địa phương cho thấy, nhìn chung cấp ủy và người đứng đầu đã quan
tâm chỉ đạo đối với công tác cán bộ nữ thông qua việc ban hành kịp thời các nghị
quyết, chỉ thị, chương trình hành động nhằm cụ thể hóa những nghị quyết của
Trung ương. Nhiều biện pháp được triển khai linh hoạt, chủ động và sáng tạo. Ở
các tỉnh Bình Dương và Bình Phước, công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ nữ đã
được đưa vào chiến lược quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các cấp ủy thường xuyên theo dõi, rà soát,
phát hiện những nhân tố mới, có tiềm năng phát triển để giới thiệu với cấp ủy,
chính quyền các cấp; kết hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để nhận xét,
đánh giá cán bộ nữ, đưa vào quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chí; giới
thiệu, đề cử vào các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp. Lãnh đạo cấp ủy đã có
sự quan tâm, tạo điều kiện, cơ hội cho cán bộ nữ thể hiện năng lực, tạo đột phá
trong công tác cán bộ (chẳng hạn ở huyện Phú Riềng, Bình Phước).
Công
tác tuyển dụng cán bộ và phát triển đảng viên nữ được đặc biệt quan tâm, coi
đây là nguồn cán bộ nữ quan trọng tham gia cấp ủy. Chẳng hạn, ở tỉnh Bình
Dương, giai đoạn 2020-2024 tỷ lệ nữ đảng viên mới được kết nạp là 46,1%; ở Bình Phước là 41,9%; ở Thừa Thiên Huế (chỉ tính
từ 01-01-2024 đến tháng 11-2024), tỷ lệ đảng viên mới nữ là 57,4%; và ở Lâm Đồng
(giai đoạn 2020-2024), tỷ lệ đảng viên mới nữ là 49,2%. Một số địa phương chú
trọng phát hiện và bồi dưỡng nguồn cán bộ nữ từ các đơn vị sự nghiệp,
nơi mà tỷ lệ cán bộ nữ rất cao, coi đây là lực lượng quan trọng bổ sung cho việc
quy hoạch và bố trí cán bộ nữ tham gia cấp ủy trong hệ thống chính trị.
Để
bảo đảm đủ nguồn cán bộ, công tác quy hoạch ở một số địa phương luôn được quan
tâm, với số lượng được quy hoạch cao hơn yêu cầu từ Trung ương để bảo đảm sàng
lọc cán bộ thường xuyên và kịp thời. Chẳng hạn, ở tỉnh Bình Dương, tỷ lệ quy hoạch
cán bộ nữ tham gia cấp ủy 3 cấp đều cao hơn 25%, trong đó ở cấp xã là khoảng
48,6%. Ở Bình Phước, tỷ lệ quy hoạch ở cấp xã là 50%. Một số cấp ủy địa phương
có những biện pháp chặt chẽ để bảo đảm tỷ lệ cao các cán bộ nữ được quy hoạch
thành công, thông qua việc sắp xếp chức danh phù hợp cho
cán bộ nữ (Bình Dương).
Một số cấp ủy sớm triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ nữ, đảm bảo chất lượng về mọi mặt, và gắn rất chặt với công tác quy hoạch,
bảo đảm khi có điều kiện thì có cán bộ nữ để bố trí kịp thời. Chẳng hạn, trong
thời gian 2020-2024, tỷ lệ cán bộ nữ ở Bình Phước tham gia đào tạo lý luận
chính trị cao cấp là 28,5%, trung cấp lý luận chính trị là 43,1%. Các địa
phương đã ban hành chính sách hỗ trợ cán bộ nữ trong việc tham gia đào tạo, phù
hợp điều kiện thực tế của địa phương. Ví dụ, ngoài chế độ chính sách hỗ trợ
chung trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, khi đi học các lớp ở trong nước từ 01
tháng trở lên cán bộ nữ ở Bình Dương được cấp thêm 500.000đ/tháng; ở Bình Phước
cán bộ nữ được trợ cấp thêm mỗi tháng 0,2 lần mức lương tối thiểu (nếu cán bộ nữ
là người dân tộc thiểu số thì được trợ cấp 0,3 lần mức lương tối thiểu và cán bộ
nữ đang trong thời kỳ nuôi con nhỏ dưới 3 tuổi thì được trợ cấp 0,5 lần mức
lương tối thiểu).
Công tác luân chuyển cán bộ nữ được nhiều cấp ủy coi trọng. Trong
thực tế, đây là biện pháp rất hiệu quả để tăng cường sự tham gia của cán bộ nữ
vào cấp ủy. Nhờ công tác luân chuyển cán bộ, một số địa phương đã chủ động hơn
trong việc sắp xếp cán bộ nữ. Chẳng hạn, một số vị trí bí thư ở Đảng bộ huyện
Phú Riềng (Bình Phước), Lạc Dương và Đơn Dương (Lâm Đồng) là cán bộ nữ qua luân
chuyển công tác. Cán bộ nữ khi luân chuyển cũng được lãnh đạo quan tâm về bố
trí địa bàn luân chuyển và mức hỗ trợ. Chẳng hạn, đối với cán bộ nữ ở Lâm Đồng,
khi được luân chuyển, ngoài mức hỗ trợ theo quy định chung, mỗi tháng được hỗ
trợ thêm 0,3 lần mức lương cơ sở.
Công tác truyền thông được các cấp ủy quan tâm nhằm góp phần nâng
cao nhận thức về bình đẳng giới trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, trước hết
là đối với đảng viên. Một số hình thức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa các
cán bộ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo (Bình Phước) đã góp phần giúp các cán bộ nữ
mới tham gia công tác lãnh đạo có thêm niềm tin và động lực để phấn đấu, thực
hiện tốt nhiệm vụ công tác của mình.
Kinh nghiệm thực tiễn ở các địa bàn nghiên cứu cho thấy, yếu tố
quyết định đối với việc tăng cường sự tham gia của cán bộ nữ vào cấp ủy là sự
chủ động, quyết liệt của cấp ủy và người đứng đầu cùng những biện pháp sáng tạo,
kịp thời trong chỉ đạo công tác cán bộ nữ. Một số giải pháp như lập các Tổ Công
tác cán bộ nữ ở cấp ủy Bình Dương hay yêu cầu về thời gian bổ sung cán bộ nữ đủ
tiêu chuẩn tham gia cấp ủy trong công tác bố trí cán bộ ở
Bình Phước là kinh nghiệm tốt có thể vận dụng cho nhiều địa phương.
2.2. Một
số hạn chế trong việc thực hiện chính sách cán bộ nữ tham gia cấp ủy và
nguyên nhân và nguyên nhân
Nhìn
chung, trong thời gian qua Đảng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về việc tăng
cường sự tham gia của cán bộ nữ vào cấp ủy. Cấp ủy và người đứng đầu ở nhiều địa
phương cũng đã có nhiều cách làm hay, sáng tạo trong việc triển khai công tác
cán bộ nữ. Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp tăng chậm, không
đạt được mục tiêu của Nghị quyết 11-NQ/TW. Ở một số địa phương, tỷ lệ cán bộ nữ
trong cấp ủy rất thấp, thậm chí ở một phường trong địa bàn khảo sát ở Lâm Đồng,
không có cán bộ nữ tham gia đảng ủy.
Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, cả từ góc độ chính sách và thực tiễn
triển khai thực hiện ở địa phương.
Về
chính sách, một số chỉ tiêu nêu ra chủ yếu mang tính định hướng phấn đấu, chưa
có những ràng buộc chặt chẽ. Ngoài ra, mặc dù tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy
đã tăng lên trong 2 nhiệm kỳ gần đây, chỉ tiêu về tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy
ở một số văn bản chỉ đạo vẫn được xác định ở mức thấp, chỉ 15%.
Công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ có vai trò quan trọng đối với việc tăng cường
sự tham gia của cán bộ nữ vào cấp ủy. Tuy nhiên, so với nam giới, một số cán bộ
nữ gặp nhiều khó khăn hơn để tiếp cận các cơ hội học tập nâng cao trình độ. Ví
dụ: Theo Quy định số 57-QĐ/TW, ngày 08-02-2022 về đối tượng, tiêu chuẩn và phân
cấp đào tạo lý luận chính trị, đối tượng cán bộ học không tập trung đối với hệ
trung cấp lý luận là nữ từ 33 tuổi và nam từ 35 tuổi; hệ cao cấp lý luận là nữ
từ 38 tuổi và nam từ 40 tuổi. Tuy nhiên, độ tuổi dưới 33 và 38 thường là độ tuổi
phụ nữ nuôi con nhỏ làm hạn chế khả năng tham gia học tập trung của cán bộ,
công chức nữ. Điều đó khiến cho một số cán bộ nữ phải xin lùi thời gian học lý
luận chính trị hệ tập trung để chăm sóc con nhỏ, vì vậy thiếu tiêu chuẩn lý luận
chính trị để được bổ nhiệm.
Các
quy định gần đây về độ tuổi quy hoạch, luân chuyển và bổ nhiệm vẫn căn cứ vào
tuổi nghỉ hưu, trong khi đó, đến năm 2035 phụ nữ chính thức được nghỉ hưu ở tuổi
60. Như vậy, còn cần một khoảng thời gian nữa, cán bộ nữ mới được xem xét quy hoạch một cách bình đẳng so với nam giới. Căn cứ vào Chỉ
thị 35-CT/TW (2024) về thời gian giữ chức vụ đối với cán bộ được giới thiệu ứng
cử chức vụ cao hơn, các cán bộ nữ cũng bị hạn chế về cơ hội được bổ nhiệm chức
vụ cao hơn trong bối cảnh đang thiếu cán bộ nữ hiện nay. Bởi lẽ, để được bầu
tham gia cấp ủy, các chức danh lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc,
tổ chức chính trị - xã hội (chức vụ cao hơn), phải có thời gian giữ chức vụ
đang đảm nhiệm hoặc chức vụ tương đương ít nhất là 2 năm (24 tháng); trường hợp
đặc biệt có thời gian giữ chức vụ ít nhất là 1 năm (12 tháng), do cấp ủy có thẩm
quyền bổ nhiệm cán bộ xem xét, quyết định.
Việc luân chuyển cán bộ nữ cũng gặp khó khăn vì Quy định 65-QĐ/TW
(2022) về luân chuyển cán bộ còn nhấn mạnh đến thời gian công tác “Có đủ sức
khoẻ và còn thời gian công tác ít nhất 10 năm công tác tính từ thời điểm luân
chuyển. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”(3).
Đội ngũ cán bộ nữ từ 45 tuổi trở lên có khả năng đóng góp lớn do đã tích lũy được
nhiều kiến thức và kỹ năng công việc, đồng thời các công việc chăm sóc gia đình
đã giảm hơn, nhưng sẽ gặp trở ngại trong vấn đề này.
Việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ cán bộ nữ tham gia đào tạo,
luân chuyển cũng chưa được triển khai kịp thời. Mặc dù Nghị định số
48/2009/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy định hỗ trợ nữ
cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con
dưới ba mươi sáu tháng tuổi đã ban hành từ năm 2009, nhưng cho đến hơn thập
niên sau vẫn chưa có văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ về tổ chức thực hiện(4). Việc hỗ trợ cho cán bộ nữ sẽ tùy thuộc
vào điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, do đó, cán bộ nữ ở những địa
phương nguồn lực có hạn sẽ gặp nhiều hạn chế hơn trong việc tiếp cận đào tạo, bồi
dưỡng.
Việc
chỉ đạo triển khai thực hiện chính sách ở các địa phương cũng còn một số bất cập,
cho dù mức độ biểu hiện ở từng nơi có khác nhau. Ở một số cấp ủy, người đứng đầu
chưa quyết liệt tìm tòi các biện pháp để tăng tỷ lệ cán bộ nữ trong cấp ủy. Một
số cấp ủy do không có nguồn cán bộ nữ phù hợp với vị trí chủ chốt nên không có
các biện pháp để tăng tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy. Ở một số đơn vị, công
tác tạo nguồn và đào tạo cán bộ nữ chưa có lộ trình, kế hoạch cụ thể. Việc quy
hoạch cấp ủy chưa gắn kết chặt chẽ với vị trí chính quyền, vì vậy nhiều cán bộ
nữ được quy hoạch nhưng không có vị trí chính quyền phù hợp nên không được bầu,
dẫn đến tình trạng quy hoạch còn mang tính hình thức. Một vấn đề khác lâu nay
còn ít được quan tâm là việc tạo lập và quản lý hệ thống số liệu về đội ngũ cán
bộ nhằm phục vụ công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ. Công tác này còn thực
hiện thủ công, chưa tận dụng được những thế mạnh của sự phát triển công nghệ
trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Chính vì vậy, hệ thống dữ liệu về đội
ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ nữ, chưa được cập nhật thường xuyên,
không thống nhất từ các nguồn khác nhau, gây khó khăn cho lãnh đạo, cấp ủy
trong việc phân tích và nắm vững nguồn cán bộ cũng như bố trí cán bộ nữ.
Công
tác truyền thông mặc dù được quan tâm nhưng chưa có nhiều phương thức sáng tạo
nên hiệu quả chưa cao. Chính vì vậy, định kiến giới vẫn còn tồn tại dưới nhiều
hình thức ở một số đảng viên và cấp ủy viên, cả nam và nữ. Một số đảng viên vẫn
cho rằng phụ nữ không thích hợp với công tác lãnh đạo và năng lực của cán bộ nữ
hạn chế hơn cán bộ nam. Chẳng hạn, trong số các đảng viên tham gia trả lời trực
tuyến, có 18,5% ở hai tỉnh Bình Dương, Bình Phước và 17,4% ở hai tỉnh Thừa
Thiên Huế và Lâm Đồng cho rằng “năng lực của phụ nữ hạn chế hơn nam giới”,
tương ứng là 17,1% và 23% cho rằng “công việc lãnh đạo phù hợp với giới nam
hơn”. Có không ít cán bộ nữ cũng có định kiến về chính giới mình. Kết quả khảo
sát trực tuyến cho thấy, đánh giá của nam và nữ đảng viên không có khác biệt lớn
khi cho rằng, một trong các lý do quan trọng giải thích cho việc cán bộ nữ chỉ
có thể làm phó bí thư/cấp ủy viên là “nữ giới hạn chế hơn nam giới về tầm nhìn”
và “nữ giới hạn chế hơn nam giới về năng lực lãnh đạo.
Định
kiến giới cũng thể hiện ở việc nhiều cán bộ nữ không nhận được sự ủng hộ của
gia đình trong việc tham gia công việc xã hội. Có một tỷ lệ đáng kể cán bộ, đảng
viên ở các địa bàn khảo sát cho rằng việc phải tập trung chăm lo gia đình khiến
cho cán bộ nữ không sắp xếp được thời gian để tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng,
từ đó không đạt các tiêu chuẩn cần thiết để được bổ nhiệm làm cán bộ lãnh đạo.
Có 48% đảng viên được khảo sát trực tuyến ở Thừa Thiên Huế và Lâm Đồng nêu lý
do cán bộ nữ chỉ có thể làm phó bí thư/cấp ủy viên là do “nữ giới phải chăm lo
cho gia đình”. Định kiến giới cũng khiến cho một số cán bộ nữ chưa thật sự nỗ lực
vươn lên để tham gia công tác cấp ủy, muốn dành thời gian chăm lo đời sống gia
đình. Khoảng 1/3 số đảng viên tham gia khảo sát trực tuyến ở Thừa Thiên Huế và
Lâm Đồng nêu nguyên nhân quan trọng nhất của tỷ lệ nữ cấp ủy viên ở đơn vị còn
thấp là “do bản thân người phụ nữ chưa quyết tâm nỗ lực”.
2.3. Giải
pháp tăng cường sự tham gia của cán bộ nữ vào cấp ủy
Từ
khảo sát thực tiễn triển khai công tác cán bộ nữ tham gia cấp ủy trong thời
gian qua ở một số địa phương, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
hơn nữa sự tham gia của cán bộ nữ vào cấp ủy. Các giải pháp chủ yếu là quan tâm
hoàn thiện các quy định, chính sách chung; sự chủ động, quyết liệt và sáng tạo
của cấp ủy đảng và người đứng đầu.
Một
là, nhóm giải pháp hoàn thiện các chính sách, quy định chung
Cần
có những biện pháp linh hoạt, điều chỉnh một số quy định liên quan đến công tác
cán bộ nữ. Chẳng hạn tạo điều kiện cho cán bộ nữ được tham gia các khóa đào tạo
một cách linh hoạt hơn về độ tuổi đào tạo, hình thức đào tạo, tiêu chí đào tạo.
Các chính sách liên quan đến luân chuyển, bổ nhiệm cũng có thể vận dụng các
“trường hợp đặc biệt” liên quan đến thời gian bổ nhiệm cán bộ, mở rộng độ tuổi
bổ nhiệm cho cán bộ nữ, hoặc xem xét lựa chọn bổ nhiệm cán bộ nữ trong điều kiện
cán bộ nam và nữ tương đương nhau về tiêu chuẩn trong quá trình sắp xếp, sáp nhập
tổ chức ... Cấp ủy và chính quyền các cấp cần xây dựng các chính sách hỗ trợ
cán bộ nữ cân bằng công việc gia đình - xã hội.
Xây
dựng các chương trình thu thập và phân tích thông tin về đội ngũ cán bộ, trong
đó có cán bộ nữ, một cách thường xuyên để từ đó kịp thời nắm vững và tổ chức
đào tạo, quy hoạch, điều động, luân chuyển cán bộ nữ khi có điều kiện phù hợp.
Hai
là, nhóm giải pháp gắn với trách nhiệm của các cấp ủy đảng và người đứng
đầu ở địa phương
Tiếp
tục nâng cao nhận thức của cấp ủy và người đứng đầu về việc tăng cường sự tham
gia của cán bộ nữ vào cấp ủy. Các cấp ủy cần xây dựng kế hoạch hành động chi tiết
và đồng bộ ở các khâu của công tác cán bộ, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám
sát và đánh giá việc thực hiện các kế hoạch hành động về công tác cán bộ nữ.
Có
kế hoạch cụ thể thực hiện công tác tạo nguồn với sự quan tâm đặc biệt tới đối
tượng học sinh, sinh viên nữ. Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên và tạo điều
kiện cho cán bộ nữ trẻ tham gia giữ các chức danh ở cơ sở. Thường xuyên rà soát
sự phấn đấu và trưởng thành của cán bộ nữ nhằm bảo đảm luôn có nguồn đội ngũ
cán bộ nữ đủ điều kiện để kịp thời bổ nhiệm vào các vị trí trong cấp ủy. Việc
quy hoạch cần gắn với bổ nhiệm và bố trí cán bộ, đặc biệt là có định hướng bố
trí chức danh phù hợp để cán bộ nữ có thể trúng cử cấp ủy khi bầu cử.
Coi
trọng công tác luân chuyển và giao nhiệm vụ cho cán bộ nữ để họ sớm trưởng
thành và có thêm kinh nghiệm trong các vị trí lãnh đạo, quản lý. Nên có sự linh
hoạt về thời gian và hình thức đối với các cán bộ nữ luân chuyển để họ có nhiều
cơ hội tham gia hơn.
Nâng
cao chất lượng cán bộ nữ tham gia cấp uỷ, nữ lãnh đạo, quản lý để tạo sự phát
triển bền vững. Tăng cường trang bị kiến thức và các kỹ năng cần thiết để cán bộ
nữ hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác. Một số nội dung cần được quan tâm trong
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ là: năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực tổ chức
thực hiện; và năng lực lập kế hoạch. Bản thân cán
bộ nữ cần chủ động, tích cực trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc,
đáp ứng tốt các nhiệm vụ được giao.
Cải
tiến, hoàn thiện các phương thức truyền thông liên quan tới công tác cán bộ nữ
để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, về ý nghĩa của việc tham gia của
cán bộ nữ vào cấp ủy. Nội dung truyền thông cần hướng vào sự thay đổi định kiến
giới về năng lực của cán bộ nữ; nâng cao sự nỗ lực của cán bộ nữ; và nâng cao sự
ủng hộ của gia đình đối với sự tham gia chính trị của phụ nữ.
3. Kết luận
Bước
vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, vai trò và sự đóng góp của cán bộ nữ
càng có ý nghĩa quan trọng. Để tiếp tục phát huy nguồn lực phụ nữ cho sự phát
triển của đất nước, cấp ủy và người đứng đầu các cần có những nỗ lực lớn hơn nhằm
tăng cường sự tham gia của cán bộ nữ vào cấp ủy. Trong bối cảnh của cuộc cách mạng
về tổ chức và bộ máy, việc kiện toàn cấp ủy các cấp nhằm đáp ứng yêu cầu của sự
phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội XIV đề ra cần hết sức quan tâm sự
tham gia của cán bộ nữ. Một số đề xuất nêu trên có thể đóng góp nhất định vào
việc thúc đẩy sự tham gia của cán bộ nữ vào các cấp ủy đảng như định hướng Nghị
quyết Đại hội Đảng XIV.
(nguồn:
lyluanchinhtri.vn)
Ngày nhận bài: 8-01-2026; Ngày bình
duyệt: 30-01-2026; Ngày duyệt đăng: 10-3-2026.
Email tác giả: tuyetxaxhoihoc@gmail.com
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7701
(1)
Ban Tổ chức Trung ương, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam: “Tỷ lệ cán bộ nữ trong 3
cấp ủy đảng nhiệm kỳ 2020 - 2025”, https://phunuvietnam.vn, truy cập
14-6-2024
(2)
Cuộc khảo sát được tiến hành vào năm 2024 tại bốn tỉnh
(theo địa danh cũ): Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế, và Lâm Đồng.
Tại mỗi tỉnh có 2 huyện/thành phố; mỗi huyện/thành phố chọn 2 xã/phường có tỷ lệ
cán bộ nữ tham gia cấp ủy cao và thấp, để thực hiện phân tích các văn bản chỉ đạo
của Đảng; tọa đàm, hội thảo trực tiếp với các cấp ủy tỉnh, huyện, xã; phỏng vấn
sâu các cán bộ, đảng viên; thực hiện khảo sát trực tuyến 3.050 đảng viên thuộc
hệ thống chính trị ở 4 tỉnh (550 ở Bình Dương; 500 ở Bình Phước; 1000 ở Thừa
Thiên Huế; 1000 ở Lâm Đồng). Để bảo đảm tính cụ thể của các thông tin, các dẫn
liệu trong bài viết được sử dụng theo địa danh vào thời điểm khảo sát.
(3)
Phùng Thị An Na: “Vấn đề bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam hiện
nay”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6, 2020, tr.30-36.
(4) Quy định số 80-QĐ/TW của Bộ Chính trị,
ngày 18-8-2022 về Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.