
Người dân trải nghiệm công nghệ
thực tế ảo trên nền tảng du lịch thông minh tại Ngày hội Công nghệ số Khánh Hòa
2025_Ảnh: TTXVN
1. Mở đầu
Theo
quan điểm của triết học Mác - Lênin, lịch sử xã hội loài người gắn liền với quá
trình phát triển của sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định
đối với sự vận động của toàn bộ đời sống xã hội. Khi lực lượng sản xuất chuyển
từ nền tảng cơ khí sang nền tảng số, từ ưu thế của lao động cơ bắp sang lao động
trí tuệ, thì tri thức và năng lực sáng tạo của con người ngày càng trở thành yếu
tố trực tiếp tạo ra của cải xã hội. Trong bối cảnh đó, để phát huy đầy đủ vai
trò của con người với tư cách là lực lượng sản xuất đặc biệt, cần hình thành một
môi trường tinh thần khuyến khích đổi mới sáng tạo, tức là xây dựng văn hóa đổi
mới sáng tạo.
Hiện
nay, đổi mới sáng tạo trở thành nhân tố quan trọng quyết định năng suất và năng
lực cạnh tranh của quốc gia. Đổi mới sáng tạo không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng
công nghệ hay hoàn thiện thể chế kỹ thuật, mà cần được nâng lên thành một nền
văn hóa xã hội.
Mặt
khác, trong quá trình phát triển đất nước, văn hóa luôn được xác định là nền tảng
tinh thần của xã hội, đồng thời là động lực nội sinh thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế và tiến bộ xã hội. Trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hóa truyền thống
của dân tộc với tinh thần sáng tạo hiện đại, tri thức, khoa học, công nghệ và
giá trị con người cần được đặt ở vị trí trung tâm để thúc đẩy sự hình thành và
phát triển của lực lượng sản xuất mới.
2. Nội dung
2.1. Vận
dụng triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức
rõ về văn hóa đổi mới sáng tạo
Quan
điểm duy vật biện chứng về xã hội của triết học Mác - Lênin đã cung cấp nền tảng
lý luận vững chắc để lý giải sự hình thành của văn hóa đổi mới sáng tạo như một
tất yếu khách quan. Khi tồn tại xã hội chuyển dịch theo hướng kinh tế tri thức,
chuyển đổi số và sự hội tụ công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tri
thức khoa học, dữ liệu và năng lực sáng tạo ngày càng trở thành bộ phận trực tiếp
của lực lượng sản xuất hiện đại. Sự biến đổi ấy tất yếu đặt ra yêu cầu tái cấu
trúc hệ giá trị, chuẩn mực và phương thức hành động của chủ thể xã hội nhằm giải
phóng, nuôi dưỡng và tổ chức sức sáng tạo thành năng suất xã hội. C.Mác khẳng định
“Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất
định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất,
những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản
xuất vật chất của họ”(1). Kế thừa
và phát triển quan điểm này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò then chốt của tri thức
và khoa học kỹ thuật trong công cuộc hiện đại hóa xã hội: “Khoa học phải từ sản
xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao
năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho
chủ nghĩa xã hội thắng lợi”(2).
Quá
trình hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo ở Việt Nam cần được định hướng theo
tinh thần kết hợp biện chứng giữa các giá trị văn hóa truyền thống với yêu cầu
của sáng tạo hiện đại. Bởi lẽ, sáng tạo đòi hỏi phá vỡ khuôn mẫu, dám khác biệt,
dám đi những con đường chưa ai đi, nhưng, nếu tách rời khỏi nền tảng văn hóa
dân tộc, sáng tạo dễ rơi vào tình trạng lai tạp, mô phỏng hời hợt hoặc đánh mất
chiều sâu nhân văn.
Vận
dụng luận điểm này, có thể khẳng định rằng văn hóa đổi mới sáng tạo là không
gian trong đó con người Việt Nam nhận thức rõ quy luật phát triển của kinh tế
tri thức và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, từ đó chủ động chuyển hóa chúng
thành chiến lược, chính sách và hành vi sáng tạo cụ thể. Phải nhất quán quan điểm
“vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”(3) vào
toàn bộ các lĩnh vực, và “Việt Nam cần xây dựng mô hình phát triển phù hợp, mà
trong đó, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính, còn văn
hóa và con người chính là nguồn lực nội sinh để phát triển”(4).
2.2. Khái
niệm và cấu trúc của văn hóa đổi mới sáng tạo
Với
tư cách là một hình thái ý thức xã hội đặc thù của kỷ nguyên kinh tế tri thức,
gắn với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất dựa trên tri thức và công nghệ, văn
hóa đổi mới sáng tạo là chỉnh thể các giá trị, chuẩn mực và thiết chế xã hội
được hình thành từ thực tiễn phát triển, có chức năng định hướng và điều phối
hành vi sáng tạo, đồng thời, tạo điều kiện để năng lực đổi mới được phát
huy bền vững trong các lĩnh vực của đời sống.
Văn
hóa đổi mới sáng tạo khuyến khích tư duy độc lập, cổ vũ tinh thần dám phủ định
cái cũ, cái lạc hậu để dấn thân vào những thử nghiệm mới mẻ, chấp nhận rủi ro
theo tinh thần phủ định biện chứng. Theo đó, chức năng xã hội nổi bật của văn
hóa đổi mới sáng tạo không chỉ nằm ở việc khơi dậy động cơ tinh thần, mà còn ở
khả năng rút ngắn khoảng cách từ ý tưởng đến thực tiễn, tăng cường năng lực ứng
dụng tri thức và mở rộng không gian xã hội cho sự “đối tượng hóa” cái mới, qua
đó đóng góp trực tiếp vào nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả phát triển.
Như
vậy, “văn hóa đổi mới sáng tạo” là một chỉnh thể giá trị và chuẩn mực định hướng
hành vi sáng tạo và khuyến khích việc hình thành các ý tưởng mới, giải pháp mới
trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Cần phân biệt khái niệm này với một số
dạng thức văn hóa có liên quan. “Văn hóa số” chủ yếu gắn với hệ giá trị, chuẩn
mực và cách thức ứng xử của con người trong môi trường công nghệ số và không
gian mạng; trọng tâm của nó là khả năng thích ứng với công nghệ và phương thức
tương tác số. “Văn hóa doanh nghiệp” lại là hệ giá trị, niềm tin và chuẩn mực
hành vi được hình thành trong một tổ chức cụ thể nhằm định hướng hoạt động và bản
sắc của doanh nghiệp. “Văn hóa khoa học” nhấn mạnh các chuẩn mực học thuật như
tính khách quan, trung thực, tinh thần phản biện và phương pháp nghiên cứu khoa
học. So với các dạng thức trên, văn hóa đổi mới sáng tạo có phạm vi rộng hơn,
không chỉ gắn với một môi trường công nghệ, một tổ chức hay một cộng đồng học
thuật nhất định, mà hướng tới việc kiến tạo môi trường xã hội khuyến khích tư
duy mới, chấp nhận thử nghiệm và thúc đẩy quá trình tạo ra, lan tỏa các giá trị
sáng tạo trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội.
Văn
hóa đổi mới sáng tạo có cấu trúc phức tạp, trong đó, các yếu tố cấu thành có
quan hệ biện chứng với nhau. Có thể khái quát 3 bình diện cơ bản, có mối quan hệ
biện chứng với nhau của văn hoá đổi mới sáng tạo:
Thứ
nhất, xét về mặt nhận thức luận, văn hóa đổi mới
sáng tạo bắt nguồn từ bình diện giá trị - nhận thức. Đây là nền tảng thế giới
quan khoa học. Ở bình diện này, tư duy phản biện đóng vai trò then chốt, cho
phép chủ thể nhận thức phát hiện ra những mâu thuẫn trong lòng sự vật, hiện tượng,
từ đó hình thành năng lực đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Tinh thần học tập suốt
đời không chỉ là sự tích lũy tri thức đơn thuần, mà là quá trình tái sản xuất sức
lao động trí tuệ không ngừng nghỉ, nhằm thích ứng với sự vận động và biến đổi của
hoạt động thực tiễn. Nhờ vậy, ở bình diện này, nó tạo ra năng lực tự làm mới
tri thức, bảo đảm cho chủ thể sáng tạo có khả năng cập nhật, liên kết liên
ngành và biến tri thức thành năng lực hành động trong môi trường biến đổi nhanh
của công nghệ.
Thứ
hai, trên cơ sở nhận thức đúng đắn, văn hóa
đổi mới sáng tạo đòi hỏi sự định hướng của bình diện chuẩn mực - đạo đức. Trong
hoạt động sáng tạo, đạo đức không chỉ là ý thức mà còn là thực tiễn hành động.
Các phạm trù như liêm chính học thuật, trung thực khoa học và tôn trọng sở hữu
trí tuệ chính là biểu hiện của đạo đức cách mạng trong lao động trí óc, có ý
nghĩa ngăn chặn sự tha hóa của tri thức. Trách nhiệm xã hội của chủ thể sáng tạo
đóng vai trò như cơ chế tự kiểm soát, bảo đảm rằng đổi mới không tách khỏi mục
tiêu phát triển con người và tiến bộ xã hội, tránh rơi vào chủ nghĩa thực dụng
cực đoan, vị kỷ hoặc vô nguyên tắc. Do đó, bình diện chuẩn mực - đạo đức vừa bảo
vệ giá trị nhân văn của sáng tạo, vừa tạo dựng niềm tin xã hội - điều kiện
không thể thiếu để cái mới được thừa nhận và lan tỏa.
Thứ
ba, để hiện thực hóa các giá trị và chuẩn mực
nêu trên, cần phải có sự tác động tích cực của bình diện thiết chế - môi trường.
Đây là sự biểu hiện sinh động vai trò tổ chức của kiến trúc thượng tầng đối với
cơ sở hạ tầng. Hệ thống cơ chế khuyến khích thử nghiệm, các tiêu chí đánh giá
coi trọng tính mới và hiệu quả thực tiễn chính là sự cụ thể hóa nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn. Môi trường thể chế này tạo ra không gian xã hội
cần thiết để các ý tưởng sáng tạo được “đối tượng hóa”, chuyển từ tư duy trừu
tượng sang hiện thực khách quan, đồng thời giúp rút ngắn chu trình từ nghiên cứu
đến ứng dụng và từ tri thức hàn lâm đến giá trị phát triển.
2.3.
Vai trò của văn hóa đổi mới sáng tạo
Văn
hóa đổi mới sáng tạo giữ vai trò then chốt trong việc tạo ra môi trường khuyến
khích thử nghiệm và chấp nhận rủi ro, qua đó thúc đẩy sự hình thành các mô hình
sản xuất, sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. C.Mác nêu rõ sự phát triển
của lực lượng sản xuất chỉ có thể diễn ra mạnh mẽ khi nó được giải phóng khỏi
những ràng buộc lỗi thời của quan hệ sản xuất. Trong kỷ nguyên số, văn hóa đổi
mới sáng tạo chính là “đòn bẩy tinh thần” giúp phá bỏ những thói quen bảo thủ,
trì trệ, thay thế bằng tư duy kinh tế tri thức, gắn liền với khoa học - công
nghệ và chuyển đổi số.
Không
dừng lại ở cấp độ kinh tế, văn hóa đổi mới sáng tạo còn có khả năng kiến tạo lối
sống học tập suốt đời và lan tỏa tinh thần phản biện, hợp tác và sáng tạo trong
cộng đồng đối với sự phát triển xã hội. Đây là những giá trị xã hội mới, phù hợp
với yêu cầu của thời đại công nghiệp lần thứ tư, trong đó tri thức trở thành
nguồn lực sản xuất quan trọng nhất. Ở Việt Nam, “để công nghiệp văn hóa nước ta
sớm phát triển nhanh, bền vững, khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, cần có
sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức, tư duy đến hành động, đổi mới tư duy, đột
phá trong cách làm, xây dựng ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam …”(5). Do đó, văn hóa đổi mới sáng tạo góp phần
xây dựng cộng đồng năng động, sẵn sàng thích ứng với những biến đổi sâu rộng, từ
đó thúc đẩy sự phát triển xã hội một cách toàn diện và bền vững.
Sự
lan tỏa các giá trị tiến bộ này cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quản trị
quốc gia và thể chế chính trị. Trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, quản trị quốc gia muốn đạt được hiệu quả tối ưu phải dựa
trên một nền văn hóa đổi mới sáng tạo. Văn hóa này thúc đẩy tư duy cải cách thể
chế, xây dựng các chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp sáng
tạo, đồng thời tạo không gian cho thử nghiệm và chấp nhận thất bại. Xuất phát từ
lý luận của triết học Mác - Lênin, đây chính là tính độc lập tương đối và tác động
trở lại của kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở kinh tế của một xã hội với
trình độ mới của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất hiện đại được hình
thành trên cơ sở khoa học - công nghệ, thì ý thức xã hội - trong đó có văn hóa
đổi mới sáng tạo - phải được phát triển tương ứng để dẫn dắt quá trình quản trị
quốc gia.
Mặt
khác, xét theo mục tiêu cao nhất, văn hóa đổi mới sáng tạo phải được đánh giá
qua sự tác động của nó đối với sự phát triển của nhân tố con người. Văn hóa đổi
mới sáng tạo đóng vai trò nuôi dưỡng phẩm chất con người hiện đại: tinh thần
dám nghĩ - dám làm, chấp nhận rủi ro mang tính toán học, và cởi mở tiếp nhận tri
thức mới. Đây chính là biểu hiện cụ thể của quan điểm triết học Mác - Lênin,
coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển xã hội. Thông qua
văn hóa đổi mới sáng tạo, con người được giải phóng khỏi lối tư duy cứng nhắc,
hướng tới phát triển toàn diện về năng lực trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp và phẩm
chất đạo đức sáng tạo, phục vụ cho việc kiến tạo lực lượng sản xuất mới.
Việc
phát triển phẩm chất con người hiện đại thông qua văn hóa đổi mới sáng tạo
không thể tách rời khỏi truyền thống, mà phải là sự tiếp biến và nâng cấp những
giá trị tốt đẹp của dân tộc trong điều kiện mới. Đổi mới sáng tạo cần dựa trên
bản sắc Việt Nam - tinh thần cộng đồng, ý chí vượt khó, khát vọng vươn lên - để
kết hợp hài hòa với những giá trị hiện đại của thời đại số. Chỉ trên cơ sở này,
văn hóa đổi mới sáng tạo mới trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ, tạo sự gắn kết
bền vững giữa mục tiêu kinh tế với giá trị văn hóa quốc gia.
2.4. Văn hóa đổi
mới sáng tạo ở Việt Nam
Xét
trong bối cảnh lịch sử cụ thể của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, văn hóa đổi mới sáng tạo ở Việt Nam không hình thành một cách ngẫu nhiên
mà là sự phản ánh chân thực, sinh động của tồn tại xã hội trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Sự hình thành này mang những đặc trưng cơ bản, thể hiện mối
quan hệ biện chứng giữa tính phổ biến của quy luật phát triển và tính đặc thù của
điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Thứ
nhất, văn hóa đổi mới sáng tạo mang tính định hướng
chính trị - xã hội sâu sắc gắn liền với mục tiêu quốc gia. Khác với sự vận động
tự phát thuần túy của các quy luật kinh tế thị trường, hoạt động đổi mới sáng tạo
tại Việt Nam chịu sự tác động tích cực, chủ động của kiến trúc thượng tầng
chính trị. Văn hóa đổi mới sáng tạo không chỉ được thúc đẩy bởi động lực lợi
nhuận hay cạnh tranh thị trường, mà còn gắn chặt với nhiệm vụ chiến lược của
Nhà nước về hiện đại hóa lực lượng sản xuất, thực hiện chuyển đổi số, nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là biểu hiện của sự thống nhất biện chứng giữa
thực tiễn sinh động với lý luận nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển
bứt phá và điều kiện nguồn lực còn hạn chế.
Trong
những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chiến lược, chính sách
phát triển về văn hóa đổi mới sáng tạo như: Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11-5-2022
của Thủ tướng Chính phủ: Ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo đến năm 2030; Quyết định 2289/QĐ-TTg ngày
31-12-2020 về Chiến lược quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
đến năm 2030; đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định
rằng đổi mới sáng tạo là “một trong ba đột phá chiến lược nhằm phát triển nhanh
và bền vững đất nước”(6).
Trên
thực tế, những nỗ lực kiến tạo văn hóa đổi mới sáng tạo ở Việt Nam đã có những
biểu hiện tích cực trong nhiều lĩnh vực. Năm 2023, cả nước có hơn 1.400 doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hơn 100 không gian sáng
tạo và hàng chục trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo được xây dựng tại Hà Nội, Đà
Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác. Các mô hình như Vietnam
Silicon Valley (VSV), National Innovation Center (NIC), Techfest Việt Nam, hay
các không gian sáng tạo như VICAS Art Studio, Toong, Complex 01, Heritage Space
đã hình thành nên “mạng lưới văn hóa sáng tạo” liên kết giữa doanh nghiệp, trường
đại học và Nhà nước - cấu trúc “tam giác tri thức” (Triple Helix) đặc trưng cho
xã hội tri thức hiện đại(7).
Đây là nền tảng xã hội cho sự hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo, trong đó
sáng tạo không chỉ là hoạt động cá nhân mà là giá trị được chia sẻ trong cộng đồng.
Thứ
hai, văn hóa đổi mới sáng tạo ở Việt Nam
đang trong giai đoạn hình thành, phát triển. Do cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
đang trong quá trình chuyển đổi, nên sự biểu hiện của văn hóa đổi mới sáng tạo
cũng tồn tại sự phân hóa mạnh mẽ. Các yếu tố tích cực, tiến bộ đã phát triển vượt
bậc tại các “điểm tụ” như các doanh nghiệp công nghệ, hệ sinh thái khởi nghiệp
và các trung tâm đổi mới quốc gia - nơi lực lượng sản xuất đạt trình độ xã hội
hóa cao. Cụ thể, đến cuối năm 2024, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
đã vượt mốc 4.000 startup, có 2 “kỳ lân” và nhiều doanh nghiệp tiệm cận ngưỡng
kỳ lân, phản ánh sự gia tăng mạnh của năng lực sáng tạo dựa trên công nghệ và
mô hình kinh doanh mới(8). Đồng
thời, dù chịu tác động của chu kỳ suy giảm vốn đầu tư mạo hiểm toàn cầu, năm
2023 các startup công nghệ Việt Nam vẫn thu hút khoảng 529 triệu USD, cho thấy
sức bền của các “điểm tụ” đổi mới và khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị
kinh tế trong một bộ phận nền kinh tế(9).
Ở
bình diện thiết chế, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc
gia (NIC) được Nhà nước xác lập như một hạt nhân kết nối nguồn lực, mạng lưới
và chương trình thúc đẩy đổi mới sáng tạo, qua đó củng cố môi trường xã
hội cho hoạt động sáng tạo và khởi nghiệp(10).
Tuy vậy, mức độ lan tỏa của nó đến khu vực công, hệ thống giáo dục phổ thông và
các địa bàn kinh tế truyền thống vẫn còn hạn chế. Trước hết, số liệu về “phát
triển Chính phủ số năm 2023” cho thấy năng lực cung ứng dịch vụ công trực tuyến
đã tăng lên rõ rệt, với tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến có phát sinh hồ sơ trực
tuyến ước đạt 80% và tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình ước đạt 60%; tuy nhiên,
chính bức tranh “cung tăng” này lại đặt ra yêu cầu phải tiếp tục chuyển hóa
năng lực kỹ thuật - tổ chức thành năng lực xã hội (thói quen sử dụng, năng lực
số, niềm tin và chuẩn mực hành vi) để văn hóa số thực sự lan tỏa(11).
Ở
bình diện phân tích học thuật, VJST (2025) nhấn mạnh
các điểm nghẽn như thiếu kiến trúc công nghệ thông tin tổng thể, triển khai còn
rời rạc, thiếu liên thông, từ đó làm suy giảm hiệu quả chuyển đổi số và củng cố
nhận định về sự lan tỏa chưa đồng bộ giữa chủ trương - thiết chế - thực
hành(12). Với các địa bàn kinh tế
truyền thống, mức “thấm” của chuyển đổi số cũng còn hạn chế: Báo cáo Logistics
Việt Nam 2023 ghi nhận 90,5% doanh nghiệp logistics vẫn
ở giai đoạn số hóa cơ bản, chủ yếu cấp độ 1-2 (tin học hóa/kết nối), cho thấy
chuyển đổi “sâu” dựa trên dữ liệu và tối ưu chuỗi giá trị chưa trở thành
phổ biến, qua đó phản ánh giới hạn lan tỏa của tinh thần đổi mới sáng tạo ra khỏi
các “điểm tụ” công nghệ(13).
Thứ
ba, văn hóa đổi mới sáng tạo ở Việt Nam còn
một số mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh chóng lực lượng
sản xuất hiện đại dựa trên khoa học, công nghệ, tri thức và thực tế vẫn còn tồn
tại một số “điểm nghẽn” về “hạ tầng, nhân lực và thể chế”(14). Mâu thuẫn giữa khát vọng đổi mới và
tâm lý an toàn, bảo thủ. Một mặt, tinh thần “dám nghĩ - dám làm”, tư duy đột
phá đã được khơi dậy như một nhu cầu bức thiết của thực tiễn. Mặt khác, “sức ỳ”
của tâm lý tiểu nông, tâm lý ngại sai và hệ thống đánh giá còn thiên về sự an
toàn thủ tục hơn là hiệu quả thực chất. Những điểm nghẽn này cần phải được đột
phá để thật sự khuyến khích văn hóa đổi mới sáng tạo. Bởi lẽ, “Không phải ý thức
con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định
ý thức của họ”(15). Điều này cho
thấy, muốn xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo, phải cải biến đồng thời cả cơ sở
vật chất - thể chế và đời sống tinh thần - ý thức xã hội, hướng đến sự thống nhất
giữa đổi mới công nghệ và đổi mới văn hóa.
Đảng
và Nhà nước ta đã lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng
đột phá, giải quyết những “điểm nghẽn” trong các lĩnh vực và bước đầu đã đạt được
những thành tựu về đổi mới sáng tạo.
Theo
Báo cáo của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), từ
năm 2017 đến năm 2025, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) ở Việt Nam có mức
tiến bộ như sau:
Bảng 1. Vị trí của Việt Nam
trong GII

Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn,
ngày 16-09-2025.
Bảng
số liệu cho thấy năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam trong giai đoạn
2017–2025 vận động theo xu hướng cải thiện có tính nền tảng nhưng dao động về
hiệu quả chuyển hóa, thể hiện rõ trong tương quan giữa
“đầu vào” và “đầu ra” của hệ thống đổi mới sáng tạo. Về tổng thể, xếp hạng
chung từ 47 (2017) được cải thiện lên nhóm 42 (2019-2020) và ổn định ở mức 44
(2024-2025), hàm ý một trạng thái “củng cố tương đối” của vị thế đổi mới trong
bối cảnh cạnh tranh quốc tế gia tăng.
Ở bình diện cấu trúc, nhóm chỉ số đầu vào giảm mạnh từ 71 xuống 50
(2017-2025), phản ánh sự gia tăng các điều kiện vật chất - thể chế cho đổi mới,
nổi bật ở cơ sở hạ tầng (77 xuống 56) và mức phát triển doanh nghiệp (73 xuống
45); tuy vậy, thể chế và nguồn nhân lực - nghiên cứu lại có dấu hiệu chững và
giảm nhẹ giai đoạn cuối (2024-2025), gợi ý “điểm nghẽn” thuộc về chất lượng thiết
chế và năng lực tri thức. Đồng thời, nhóm chỉ số đầu ra không cải thiện tương ứng
(38→37), trong đó sản phẩm tri thức và công nghệ giảm từ 44 xuống 39 (2024–2025)
còn sản phẩm sáng tạo giữ nguyên (34), cho thấy mâu thuẫn giữa việc mở rộng/hoàn
thiện điều kiện đầu vào với năng lực tạo ra kết quả đổi mới bền vững.
Từ góc nhìn triết học phát triển, đây là biểu hiện của yêu cầu tiếp tục “nâng cấp
chất” của các yếu tố thượng tầng (thể chế, chính sách, chuẩn mực văn hóa đổi mới)
nhằm thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ tiềm lực thành thành tựu, qua đó củng cố
tính ổn định và chiều sâu của tăng trưởng dựa trên đổi mới.
Bên
cạnh đó, việc hình thành năng lực sáng tạo con người Việt Nam thông qua hệ thống
giáo dục đã có nhiều thành tựu nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Trong những năm gần
đây, hế thống giáo dục đào tạo ở Việt Nam và đặc biệt là giáo dục đại học có
nhiều đổi mới để phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Tuy nhiên, nhiều công trình
nghiên cứu vẫn chỉ ra rằng hệ thống giáo dục Việt Nam vẫn thiên về truyền thụ
tri thức hơn là khơi gợi năng lực sáng tạo. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục cải
cách giáo dục theo hướng hình thành “con người sáng tạo” - chủ thể trung tâm của
văn hóa đổi mới sáng tạo - thông qua đào tạo tư duy phản biện, năng lực giải
quyết vấn đề, và tinh thần hợp tác trong môi trường số. Khi con người trở thành
“động lực nội sinh của sáng tạo”, thì văn hóa đổi mới sáng tạo mới có thể phát
triển bền vững và tự thân.
Ngoài
ra, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong đổi mới sáng tạo cũng là một thách thức.
Quá trình hội nhập quốc tế mang đến nhiều giá trị mới, nhưng cũng tiềm ẩn nguy
cơ đồng hóa văn hóa nếu Việt Nam tiếp thu máy móc các mô hình ngoại lai. Quốc
sách của Việt Nam về văn hóa là phải hướng đến “phát triển nền văn hóa tiên tiến
để vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc”(16). Do đó, nhiệm vụ chính sách văn hóa là
tạo ra sự tiếp biến sáng tạo giữa giá trị truyền thống (tinh thần cộng đồng,
nhân ái, hiếu học, ý chí tự cường) và các giá trị hiện đại (tự do tư duy, phản
biện, dám khác biệt). Chỉ khi đạt được sự hài hòa này, văn hóa đổi mới sáng tạo
mới trở thành nguồn lực nội sinh, chứ không chỉ là yếu tố phụ trợ của tăng trưởng
kinh tế.
2.5. Định
hướng phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo ở Việt Nam
Để
hiện thực hóa mục tiêu xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo, biến nó thành nguồn lực
nội sinh cho sự phát triển bền vửng của quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số
57-NQ/TW, cần triển khai đồng bộ các định hướng chiến lược từ cấp độ con người,
thể chế đến xã hội.
Một
là, cần tiếp tục hoàn thiện và đi trước một bước
về thể chế trong phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều đó
có nghĩa là, muốn xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo, phải chuyển hóa các giá trị
như minh bạch, liêm chính, dám chịu trách nhiệm, khuyến khích thử nghiệm… thành
những quy định cụ thể trong luật pháp, cơ chế quản lý và quy tắc ứng xử trong bộ
máy nhà nước. Năm 2025, ba trụ cột khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số chính thức được luật hóa. Quốc hội đã ban hành Luật Khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc hoàn thiện thể chế và chính sách phải trở
thành bệ đỡ vững chắc cho đổi mới sáng tạo. “Thể chế văn hóa phải tạo ra cơ chế
nhằm bảo đảm sự tự do, dân chủ trong các hoạt động văn hóa, kích thích sự sáng
tạo, tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa, sinh hoạt văn hóa đáp ứng nhu cầu thưởng thức
văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng của nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng
đời sống tinh thần của nhân dân”(17).
Điều này đòi hỏi Nhà nước phải đẩy mạnh triển khai cơ
chế thử nghiệm chính sách (sandbox), tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ,
khuyến khích hợp tác công - tư (PPP) trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, và thiết
kế các chính sách tài chính ưu đãi nhằm hỗ trợ nghiên cứu phát triển (R&D).
Hai
là, cần thực hiện đổi mới căn bản hệ thống giáo
dục - đào tạo theo hướng phát triển tối đa tư duy sáng tạo và năng lực phản biện
của người học. Giáo dục là môi trường trực tiếp hình thành con người sáng tạo,
“phát triển tư duy phản biện cho sinh viên là một vấn đề cần thiết, giúp các em
có khả năng tư duy độc lập”(18).
Vì vậy, việc đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy, phát triển các chương
trình STEM/STEAM, và xây dựng cơ chế khuyến khích học tập suốt đời là nhiệm vụ
tiên quyết để đào tạo ra thế hệ công dân sáng tạo.
Ba
là, xây dựng các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
vững mạnh, bởi doanh nghiệp là nơi hiện thực hóa các giá trị sáng tạo thành sản
phẩm và dịch vụ, là hạt nhân của lực lượng sản xuất mới. Phần lớn doanh nghiệp
Việt Nam còn hạn chế đầu tư cho nghiên cứu phát triển và thiếu văn hóa chấp nhận
rủi ro mang tính chiến lược. Vì vậy, cần có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, khuyến khích thử nghiệm, đồng thời phát triển các quỹ
đầu tư mạo hiểm để cung cấp nguồn vốn linh hoạt cho đổi mới.
Bốn
là, đổi mới sáng tạo chỉ trở thành văn hóa khi
nó được xã hội hóa rộng rãi và được chấp nhận như một chuẩn mực giá trị trong
toàn bộ ý thức xã hội. Phải coi văn hóa “là động lực thúc đẩy sự phát triển bền
vững kinh tế - xã hội”(19). Đồng
thời, cần “chú trọng đổi mới sáng tạo nhằm khuyến khích, phát huy tối đa các
nguồn tài nguyên văn hóa, năng lực sáng tạo của toàn dân”(20). Do đó, cần tăng cường truyền thông,
tôn vinh các điển hình đổi mới sáng tạo, và lan tỏa tinh thần dám nghĩ - dám
làm trong cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, nhằm tạo ra sự đồng thuận về mặt
xã hội.
Năm
là, văn hóa đổi mới sáng tạo ở Việt Nam phải là
sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống văn hóa dân tộc với tinh thần sáng tạo hiện
đại. “Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn
hoá nhân loại, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả sáng tạo các giá trị văn
hoá mới”(21). Trên cơ sở đó, cần
phát huy các giá trị truyền thống như tinh thần hiếu học, đoàn kết, khát vọng
vươn lên, đồng thời bổ sung các giá trị mới như tư duy phản biện, hợp tác liên
ngành và năng lực hội nhập. Chỉ có sự tiếp biến này mới bảo đảm văn hóa đổi mới
sáng tạo trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ và có chiều sâu bền vững.
3. Kết luận
Nghiên
cứu về văn hóa đổi mới sáng tạo ở Việt Nam cho thấy, đây là một nền tảng tinh
thần quan trọng cho sự hình thành và phát triển lực lượng sản xuất mới dựa trên
tri thức, khoa học và công nghệ. Văn hóa đổi mới sáng tạo không chỉ phản ánh sự
vận động của kiến trúc thượng tầng phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, mà còn đóng vai trò định hướng các giá trị thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, cải cách quản trị và phát triển con người. Quá trình hình thành văn hóa đổi
mới sáng tạo có nhiều trở ngại, như tâm lý ngại rủi ro, hạn chế trong giáo dục
tư duy phản biện và sự thiếu đồng bộ của thể chế pháp lý đối với hoạt động
nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo. Những yếu tố này làm chậm quá trình
hình thành môi trường xã hội khuyến khích sáng tạo.
Vì
vậy, để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững, cần triển khai đồng bộ các giải
pháp như đổi mới căn bản giáo dục, phát triển doanh nghiệp sáng tạo, hoàn thiện
thể chế pháp lý và kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hóa truyền thống với tinh thần
sáng tạo hiện đại. Khi văn hóa đổi mới sáng tạo trở thành động lực nội sinh và
chuẩn mực xã hội, tiềm năng sáng tạo của quốc gia sẽ được phát huy, tạo nền tảng
cho sự phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên số.
(nguồn
Lyluanchinhtri.vn)
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.9887
Ngày nhận bài: 20-01-2026; Ngày bình
duyệt: 5-3-2026; Ngày duyệt đăng: 12-3-2026.
Email tác giả: hai_ntt@utc.edu.vn
(1), (15)
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.14-15, 607.
(2)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.14, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2011, tr.97.
(3), (14)
ĐCSVN: Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16-7-1998 của Hội
nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hà Nội,
1998.
(4)
Phạm Đại Dương: “Văn hóa - nguồn lực, động lực nội sinh phát triển bền vững đất
nước”, Tạp chí Cộng sản, 2021.
(5)
Phạm Minh Chính: Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công
nghiệp văn hóa, Hà Nội, ngày 22 - 12 - 2023.
(6)
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(7)
Bộ Khoa học và Công nghệ, Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC): Báo cáo Đổi mới sáng tạo và đầu tư
công nghệ Việt Nam năm 2023, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội,
2023.
(8)
Vietnam Investment Review (VIR), “Innovative startup
ecosystem garnering Vietnam Investment Review (VIR), “Innovative startup
ecosystem garnering attention,” Jan. 17, 2025. Vietnam Investment Review -
VIR.
(9)
Do Ventures, NIC, and Cento Ventures, Vietnam Innovation & Tech Investment
Report 2024, 2024. Do Ventures.
(10)
Ministry of Planning and Investment (MPI), “Opening
of Innovate Vietnam 2024 and fifth anniversary …,” Oct. 1, 2024. Bộ Kế hoạch
và Đầu tư.
(11)
“Số liệu phát triển Chính phủ số năm 2023,” Cổng/đơn vị công bố số liệu Chính
phủ số, 2023.
(12)
Lâm Việt Tùng: “Giáo dục Việt Nam thời kỳ chuyển đổi số: Thực trạng, thách thức
và giải pháp đột phá,” Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VJST), 2025.
(13)
Bộ Công Thương: Báo cáo Logistics Việt Nam 2023.
(16)
Nguyễn Thị Phương Châm: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong kỷ
nguyên mới: Từ chính sách đến thực tiễn,” Tạp chí Cộng sản điện tử,
ngày 23 - 7 - 2025.
(17)
Nguyễn Duy Bắc: “Đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng,
hoàn thiện thể chế, chính sách và huy động nguồn lực cho phát triển văn hóa”,
Tạp chí Cộng sản, 2023.
(18)
Trịnh Chí Thâm, Hồ Thị Thu Hồ, Huỳnh Hoang Khả: “Một số giải pháp phát triển tư
duy phản biện cho sinh viên ngành sư phạm địa lý, Trường Đại học Cần
Thơ”, Tạp chí Giáo dục, tập 23, số 20, tr. 55-59, 2023.
(19)
Nguyễn Thị Mai Anh: “Văn hóa - nguồn lực cho phát triển bền vững”, Tạp
chí Cộng sản, 2020.
(20)
Nguyễn Văn Hùng: “Khơi dậy và phát huy các nguồn tài nguyên văn hóa, góp phần
thúc đẩy sự phát triển bền vững ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản,
2022.
(21) Nguyễn Phú Trọng: Phát biểu tại Hội nghị
Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hà
Nội, ngày 24 - 11 - 2021.