
Việc quán triệt và triển khai hiệu quả quan điểm bảo vệ Tổ quốc
từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm giữ vững
môi trường hòa bình và ổn định cho sự phát triển bền vững của đất nước_Ảnh: VOV
1. Mở đầu
Dựng
nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, truyền thống quý báu của dân tộc
Việt Nam, giúp phát huy sức mạnh toàn dân bảo vệ độc lập, chủ quyền và xây dựng,
phát triển đất nước qua các thời đại. Nhiệm vụ xây dựng gắn liền với bảo vệ Tổ
quốc được xác định là nhiệm vụ thiêng liêng, cao quý nhất của toàn Đảng, toàn
quân, toàn dân và của cả dân tộc. Đây vừa là sự vận dụng trung thành lý luận chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa là sự tiếp nối dòng chảy truyền thống
dựng nước phải đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam từ lịch sử đến hiện tại.
Ngày
nay, đứng trước các biến đổi về đặc điểm, tính chất của thời đại, nhiệm vụ Bảo
vệ Tổ quốc cũng phát triển cả về nội hàm và phương thức thực hiện. Đặc biệt,
trước đặc trưng “thế giới phẳng” của thời đại, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng,
sự đan xen hợp tác và đấu tranh cả trong đối tác và đối tượng, cùng với đó là
những diễn biến nhanh chóng, phức tạp và “phi truyền thống”, khó đoán định, đòi
hỏi muốn bảo vệ Tổ quốc, giữ hòa bình, ổn định, phải tiến hành hàng loạt các biện
pháp, hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ, mang
tính tầm nhìn cả về không gian và thời gian… là yêu cầu cấp thiết, nhiệm vụ trọng
yếu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Thực
tiễn và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ xa hiện nay
Từ
lịch sử tới hiện tại (tính từ năm 3200 trước CN đến nay), nhân loại đã trải qua
trên 14.500 cuộc chiến tranh lớn nhỏ (Quincy
Wright, 1942). Nếu tính từ kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai tới
năm 1999 (thời điểm nổ ra cuộc chiến Kosovo), thế giới chỉ có vài tuần sống
trong hòa bình. Từ thời điểm năm 1999 đến nay, diễn biến tình hình thế giới, thế
giới đang chứng kiến những sự kiện nguy hiểm, làm gia tăng nguy cơ thách thức đối
với trật tự pháp lý quốc tế, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh thế giới và các
khu vực.
Lịch
sử nhân loại còn cho thấy một số yếu tố gắn liền với chiến tranh, xung đột:
Một
là, về nguyên nhân chiến tranh, xung đột chủ
yếu xuất phát từ động cơ quyền lực, lợi ích…
Hai
là, trong lịch sử, chiến tranh là do mâu thuẫn
đối kháng đạt đến đỉnh điểm. Chiến tranh liên quan mật thiết với lịch sử các cuộc
cách mạng công nghiệp ở sự phát triển công nghệ chiến tranh (bắt đầu từ thế hệ
vũ khí sát thương lạnh như đao, thương, kiếm, tích đến thế hệ vũ khí nóng như
súng, pháo, bom… cho đến thế hệ vũ khí sát thương hàng loạt như vũ khí hạt
nhân, bom nguyên tử và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ngày nay đã sản
sinh ra hàng loạt vũ khí sát thương phi động năng như: vũ khí hóa học, vũ khí
sinh học, vũ khí năng lượng định hướng…), đây là thế hệ vũ khí không gây cảm
giác bị sát thương nhưng vẫn tiêu diệt hàng loạt sinh lực đối phương.
Ba
là, gắn với chiến tranh, công nghệ chiến tranh
là nấc thang áp đặt quyền lực, nhân loại đã chứng kiến sự dịch chuyển của quyền
lực trong các nền văn minh đi từ “quyền lực cứng” (cưỡng bức, bạo lực) trong xã
hội nông nghiệp, sang “quyền lực mềm” (tài chính, thông tin) trong xã hội công
nghiệp và ngày nay, trong thời đại kinh tế tri thức là quyền lực của bên có ưu
thế về tri thức, công nghệ.
Từ
thực tiễn lịch sử, đặc biệt là các diễn biến thời gian gần đây tiếp tục khẳng định
giá trị khoa học, tính cách mạng và khả năng phát triển của lý luận mác xít.
Trong học thuyết của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhận
định chủ nghĩa tư bản khi đạt đến giai đoạn phát triển cao sẽ gắn liền với sự cạnh
tranh gay gắt giữa các cường quốc nhằm cạnh tranh và phân chia thị trường, nguồn
tài nguyên cũng như lực lượng lao động... Trong bối cảnh hiện nay, cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư, nhu cầu cao về tài nguyên, thị trường, nguồn nhân lực ngày càng tăng…,
Điều này đồng thời kéo theo nhiều hình thức cạnh tranh và xung đột trên nhiều
phương diện khác nhau.
Xét
về bản chất, dù được lý giải bởi nhiều nguyên nhân khác nhau song nhiều cuộc
chiến tranh, xung đột phản ánh sự cạnh tranh về kinh tế, thị trường và tài
nguyên cũng như nhằm khẳng định phạm vi ảnh hưởng của quốc gia mình. Những diễn
biến quốc tế thời gian gần đây (như ở Nepal, Iran, Venezuela) cho thấy, “chính
trị quốc tế là cuộc đấu tranh giành quyền lực”, trong đó trật tự thế giới nhiều
khi được thiết lập không dựa trên công lý (Order without Justice) mà dựa trên sự
thỏa hiệp của các cường quốc, đôi khi là các quốc gia yếu thế phải gánh chịu những
hậu quả này.
Trước
sự tiến bộ của văn minh nhân loại ngày nay, các thế lực phản tiến bộ không thể
tiến hành chiến tranh xâm lược, phi nghĩa đối với một quốc gia, khu vực theo
cách thức truyền thống. Thay vào đó, chúng phải làm trước tiên là những công việc
về tạo dư luận, dùng bộ máy tuyên truyền để dẫn dắt dư luận..., tạo lý do tiến
tới can thiệp bằng quân sự hoặc dùng “phần tử” đã cài cắm để lật đổ chính quyền,
xây dựng chính quyền mới thân hữu, đồng trục. Điển hình như Chiến tranh Vùng
Vịnh (năm 1991), Chiến tranh Kosovo
(năm 1998 - 1999), Nội chiến Syria (năm
2011) hay các cuộc cách mạng màu, gần đây là các cuộc bạo loạn ở Indonesia (bắt
đầu từ ngày 25/8/2025), Nepal (tháng 9/2025), hơn cả là cuộc chiến giữa Israel
-Iran hay sự kiện Mỹ - Venezuela… đều từ kịch bản: mua chuộc, sử dụng truyền
thông hướng dư luận vào một nguyên nhân ngụy tạo châm ngòi xung đột kết hợp can
thiệp bằng sức mạnh quân sự, sử dụng phương tiện công nghệ, vũ khí công nghệ nhằm
phá hoại chế độ, xâm phạm độc lập, chủ quyền của các quốc gia, dân tộc. Tính chất
nguy hiểm và phản động thể hiện ở cách thức tiến hành cuộc chiến truyền thông,
tạo dư luận, mua chuộc được tiến hành từ bên trong chính là chia rẽ người dân với
chính quyền, làm suy yếu quân đội của đối phương, đứt gãy liên kết giữa chính
quyền và lực lượng vũ trang….
Từ
đó cho thấy, chiến tranh là vấn đề phức tạp, gắn liền lịch sử hình thành, phát
triển của các quốc gia dân tộc, buộc các quốc gia dân tộc muốn có hòa bình phải
chuẩn bị tốt từ xa cho tình huống khi có chiến tranh xảy ra. Đây là cơ sở quan
trọng hình thành quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ xa của Đảng, ngày càng được bổ
sung, phát triển sâu sắc cả về lý luận và triển khai toàn diện, đồng bộ, hiệu
quả trên thực tiễn.
2.2.
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ xa dưới sự lãnh đạo của Đảng
Từ
thực tiễn lịch sử và từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, thường xuyên cảnh giác,
quán triệt và thực hiện tốt “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước
chưa nguy” là đòi hỏi tất yếu khách quan, yêu cầu và nhiệm vụ có tính quy luật
đối với sự tồn tại và phát triển đất nước Việt Nam giai đoạn hiện nay. Đó còn
là sự kế thừa nhất quán quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bất kỳ hòa bình hoặc
chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước” (Hồ
Chí Minh, 2011, tr.552). Trong đó, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
lãnh đạo thực hiện bảo vệ Tổ quốc từ xa là then chốt, quyết định thắng lợi nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc.
Dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ những ngày đầu giành được chính
quyền, việc quán triệt và nâng cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa, làm thất bại
âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động bất ngờ
đã được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu của Đảng, của toàn dân tộc.
Bước vào thời kỳ đổi mới (từ Đại hội VI năm 1986), quan điểm tăng cường cảnh
giác, chủ động phòng ngừa được bổ sung, phát triển thành quan điểm bảo vệ Tổ quốc
từ xa qua từng kỳ đại hội Đảng.
Lần
đầu tiên, quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ xa được Đảng nêu trong Nghị quyết số
08-NQ/TW ngày 17/12/1998 của Bộ Chính trị về Chiến lược An ninh quốc gia: “Đi
đôi với xây dựng, bảo vệ Tổ quốc phải quán triệt, thực hiện tốt quan điểm bảo vệ
Tổ quốc từ xa” (Bộ Chính trị, 1998).
Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết ngày 12/7/2003 về Chiến
lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ xa được nhận
thức từ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải là vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Từ đây,
quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ xa” của Đảng được phát triển ngày càng đầy đủ, sâu
sắc và toàn diện. Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Ban Chấp hành Trung
ương về Hội nhập quốc tế xác định “Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa
phương về quốc phòng, an ninh, trong đó có việc tham gia các hoạt động hợp tác ở
mức cao hơn” (Ban Chấp hành Trung ương, 2013).
Tại
Đại hội XII, Đảng tiếp tục xác định “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến
tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu
các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến” (ĐCSVN, 2016, tr.149). Nghị quyết số
24-NQ/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về Chiến lược quốc phòng Việt
Nam, lần đầu tiên cụm từ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”
được chính thức sử dụng. Nghị quyết đã khái quát nhiều vấn đề cơ bản, như: mục
tiêu, nhiệm vụ, lực lượng, phương châm, phương thức, sức mạnh,... để chủ động bảo
vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Từ đây, nhiều quyết
sách lớn của Đảng được triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực, như: Kết luận số
31-KL/TW ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược quân sự Việt Nam; Nghị
quyết số 29-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc
trên không gian mạng; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về
Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia...
Tại
Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ
chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến
tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật
pháp quốc tế” (ĐCSVN, 2021, tr.156-157). Đặc biệt, tại Hội nghị
Trung ương 8 (khóa XIII), trên cơ sở sơ kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung
ương 8 (khóa XI), Ban Chấp hành Trung ương tiếp tục khẳng định hội nhập quốc tế
“là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Ban Chấp hành
Trung ương, 2023). Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng
định và làm rõ hơn các chủ trương, chiến lược, các nội dung về mục
tiêu, tư tưởng chỉ đạo, lực lượng, thời gian, không gian, phương thức được
phát triển cao ở sự thống nhất về đặc trưng và biểu hiện quan trọng nhất là trạng
thái “tích cực, chủ động”, qua đó thể hiện rõ sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ
Tổ quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Bảo vệ Tổ quốc
giai đoạn hiện nay không chỉ “sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc” mà còn phải sẵn
sàng “dấn thân”, đóng góp vào công việc chung của khu vực và thế giới, kể cả
trong các lĩnh vực, vấn đề Việt Nam không có thế mạnh, không có lợi ích trước mắt
nhưng cần thiết cho cộng đồng khu vực và quốc tế.
Việt
Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào các diễn đàn đa phương, đồng thời tăng cường
mở rộng, nâng tầm hợp tác nhiều đối tác, ngày càng trở thành một thành viên có
trách nhiệm trên trường quốc tế. Những nỗ lực đó đã góp phần quan trọng trong
phân hóa những yếu tố bất lợi, loại bỏ những yếu tố có thể dẫn đến xung đột, những
nguyên nhân bất lợi về an ninh quốc phòng, tạo sức “đề kháng” quan trọng giữ vững
ổn định đất nước, là cơ sở vững chắc của những thành tựu trong xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
2.3.
Tiếp tục đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ xa hiện nay
Trong
thời gian tới, đặc biệt là trước những diễn biến phức tạp của tình hình chính
trị thế giới và khu vực, việc tiếp tục tổng hợp thực tiễn, bổ sung lý luận,
phát triển quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ xa” là đòi hỏi tất yếu nhằm đáp ứng tốt
yêu cầu khách quan nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Trong đó, để giữ vững ổn định,
giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống,
cần tập trung vào một số nội dung sau:
Một
là, nắm chắc và tham gia giải quyết hiệu quả
mâu thuẫn giữa vấn đề địa chính trị với giữ hòa bình, ổn định khu vực, thế giới
trên tinh thần, vị thế một quốc gia độc lập, tự chủ, có trách nhiệm quốc tế.
Hòa bình, ổn định của mỗi quốc gia, dân tộc không tách khỏi hòa bình khu vực và
thế giới. Sự cạnh tranh địa chính trị, việc thực thi ngoại giao dựa trên nền
chính trị quyền lực của các nước lớn dẫn đến hệ quả mang lại nhiều rủi ro an
ninh khu vực và thế giới, gây bất lợi đến an ninh chung, kích động chủ nghĩa
dân tộc trỗi dậy… là những mâu thuẫn khẳng định nguyên lý “chiến tranh khó có
tính dự báo”.
Bên
cạnh đó, vấn đề địa chính trị và sự cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc
đang làm bộc lộ thực tế rằng, một số quốc gia tuy có chủ quyền nhưng còn hạn chế
về khả năng tự lực, tự chủ trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh có thể dẫn đến
nguy cơ bị chi phối bởi các nước lớn, từ đó làm suy yếu sự gắn kết trong nội bộ
từng quốc gia, dân tộc, đồng thời ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác giữa các quốc
gia trong từng khu vực, giữa các khu vực trên thế giới. Xung đột Nga - Ukraina
là minh chứng rõ ràng nhất phản ánh những biến động phức tạp của môi trường an
ninh quốc tế hiện nay, cho thấy sự thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế vốn
được hình thành từ sau Hòa ước Westphalia (năm 1648). Mặc dù những vấn đề này xảy
ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, song lại có tính tham chiếu quan trọng đối với
việc đánh giá môi trường an ninh và tính ổn định của đất nước. Do đó, nhiệm vụ
quốc phòng, an ninh phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng với các nhiệm vụ
phát triển khác, cả ở phạm vi trong nước và quốc tế; đồng thời góp phần hình
thành một khuôn khổ an ninh khu vực mang tính thống nhất, toàn diện, hướng tới
xây dựng một cộng đồng hợp tác và gắn kết, qua đó tạo nền tảng cho hòa bình bền
vững và bảo đảm quyền tự chủ mang tính chiến lược của quốc gia.
Hai
là, tập trung vào nhiệm vụ xây dựng lực lượng
vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt trong
sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, chống “diễn
biến hòa bình”, thủ đoạn “cách mạng màu”, biến tướng “thù trong, giặc ngoài”.
Tăng cường xây dựng nền tảng con người Việt Nam bản lĩnh, thấm nhuần truyền thống
“không có gì quý hơn độc lập - tự do” và tinh thần tự lực, tự cường. Trong điều
kiện phải ứng phó với các tình huống an ninh phi truyền thống và các hình thái
chiến tranh hiện đại, chiến tranh công nghệ, cần bảo đảm sức “đề kháng” của dân
tộc để không xảy ra mất đoàn kết từ bên trong.
Ba
là, tiếp tục thực hiện nhuần nhuyễn kết hợp
phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, linh hoạt trong đường lối “ngoại
giao cây tre”, mục tiêu bất biến là giữ vững độc lập, tự chủ trong mọi tình huống.
Thực hiện ngoại giao “toàn diện, hiện đại” trên cơ sở nắm chắc và thượng tôn nền
công pháp quốc tế, “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc”. Đồng thời, chủ
động nắm chắc, phát hiện và đập tan âm mưu của các thế lực phản cách mạng hòng
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu niềm tin của nhân dân với chính
quyền các cấp và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Bốn
là, trong bối cảnh hiện nay, cần ưu
tiên thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ trên mặt trận tư
tưởng - văn hóa, cả về không gian và thời gian. Đối với các quốc gia có truyền
thống lịch sử dân tộc như Việt Nam, thực tiễn cho thấy, việc bảo vệ nền tảng tư
tưởng không thể chỉ dựa vào các biện pháp cưỡng chế hay bạo lực mà cần phát huy
hiệu quả của các nguồn lực mềm như: giáo dục, truyền thông, kinh tế, văn hóa…
Các lĩnh vực này đều có điểm hội tụ trên mặt trận tư tưởng, nơi diễn ra sự tác
động sâu sắc đến nhận thức xã hội. Một hoạt động sai lệch đều có nguy cơ tạo ra
sự phản kháng từ bên trong xã hội; những sản phẩm lịch sử - văn hóa bị xuyên tạc
làm mờ ranh giới giữa đúng - sai, thật - giả... đều tác động xấu đối với đời sống
tư tưởng xã hội, đòi hỏi phải được nhận diện, bài trừ kịp thời, bảo đảm giữ vững
nền tảng tư tưởng, bảo tồn và phát huy truyền thống lịch sử - văn hóa dân tộc.
Năm
là, đầu tư cho công nghệ quốc phòng, nhất là
công nghệ phòng, chống xâm phạm quốc phòng, an ninh bằng công nghệ cao thời kỳ
4.0 mang tính chất tự chủ trên tất cả các lĩnh vực. Phải thực hiện đồng bộ xây
dựng quân đội về chính trị gắn với tự chủ về tiềm lực khoa học - kỹ thuật quân
sự. Cùng với đó, cần tích cực nghiên cứu, bổ sung và phát triển năng lực nền quốc
phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trong hoàn cảnh mới, bảo đảm hòa bình
bền vững, đất nước ổn định - điều kiện cốt yếu của kỷ nguyên thịnh vượng, phát
triển.
Sáu
là, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển
lý luận, bảo đảm luôn luận giải tốt đòi hỏi của thực tiễn. Trọng tâm là các vấn
đề an ninh chính trị, xu hướng vận động trật tự thế giới, các yếu tố có mối
quan hệ với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, tới hòa bình, độc lập, tự chủ và trật tự
xã hội. Cần tích cực chủ động nghiên cứu, dự báo mặt trái và hệ lụy của nền sản
xuất thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; sự biến đổi thích ứng của hệ tư
tưởng tư sản và chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc; mặt trái của cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ liên quan đến vũ khí, khí tài quân sự; dự báo xu thế dịch
chuyển của quyền lực… làm cơ sở dự báo và sẵn sàng thích ứng khi có tình huống
về quốc phòng và an ninh.
3. Kết luận
Từ
lịch sử vận động của thực tiễn, xu hướng vận động của xã hội, xu hướng ứng dụng
và phát triển công nghệ liên quan nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hiện nay đã ngày
càng khẳng định tầm vóc thời đại của hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt là những vấn đề về cách mạng vô sản, về đặc trưng
thời đại và xu hướng vận động…, đang tiếp tục được thực tiễn minh chứng sinh động
cho tính cách mạng, khoa học và giá trị thời đại. Nhiệm vụ bảo vệ thành quả
cách mạng, bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh đan xen hợp tác và đấu tranh với tính
chất và phạm vi quốc tế, trên mọi lĩnh vực, từ sớm, từ xa cần được đặt trong tổng
thể các mối quan hệ lớn của quá trình xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa được xác định, bổ sung và phát triển trong Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) là yêu
cầu có tính nguyên tắc trong công tác lãnh đạo của Đảng về quốc phòng, an ninh.
(nguồn
lyluanchinhtri.vn)
Ngày nhận bài: 27/02/2026; Ngày bình
duyệt:12/3/2026; Ngày duyệt đăng: 29/6/2026.
Email của tác giả: dinhninh2781@gmail.com
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.485010.70786/PTOJ.2026.7810
Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị
quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về Hội
nhập quốc tế.
Ban Chấp hành Trung ương (2023). Nghị
quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (1998). Nghị quyết
số 08-NQ/TW ngày 17/12/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về Chiến lược
an ninh quốc gia.
ĐCSVN (2016). Văn kiện Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 8).
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quincy Wright (1942). A Study
of War. University of Chicago Press.