
Đảng Cộng sản Việt Nam
đã từng bước hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam_ Ảnh: tuyengiao.vn
1. Mở đầu
Trong
quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác
nghiên cứu, phát triển lý luận; coi đó là một bộ phận cấu thành quan trọng
trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Công tác lý luận luôn thể hiện vai trò đi
trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần xác định
con đường phát triển đúng đắn cho dân tộc. Thông qua nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã từng bước hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở
Việt Nam, lãnh đạo cuộc cách mạng XHCN ở nước ta đạt được những thành tựu to lớn.
V.I.Lênin từng nhấn mạnh: nếu không phát triển được lý luận cách mạng “thì sẽ
không tiến lên được một bước nào cả trong công tác tuyên truyền, cổ động”(1), “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể
có phong trào cách mạng”(2).
Công
tác nghiên cứu lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta đã đạt được
những thành tựu nhất định, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc cụ
thể hóa và phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
đáp ứng nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, tình hình
thế giới và trong nước có những biến đổi nhanh chóng, từ đó đặt ra yêu cầu phải
tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận về CNXH và con đường
đi lên CNXH ở Việt Nam.
2. Sự cần thiết phải tiếp
tục công tác nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
Một là, sự thoái trào
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Sự
sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào đầu thập niên 90 thế kỷ
XX đã đưa đến sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đây
là cơ hội để các thế lực thù địch bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, nhằm
hạ bệ nền tảng tư tưởng của giai cấp công nhân. Lợi dụng những thành tựu đạt được
ở các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN), sự khủng hoảng của CNXH hiện thực, chúng ra
sức bảo vệ những giá trị của CNTB, cố tình bỏ qua những khuyết tật trong lòng
xã hội, cố chứng minh sự tồn tại của CNTB là vĩnh hằng, là phù hợp với quy luật
vận động của thời đại.
Nước
ta do phải trải qua các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, hậu quả chiến
tranh để lại rất nặng nề, một thời gian dài bị bao vây, cấm vận, phá hoại nên
chưa có nền kinh tế phát triển. Từ đó, các thế lực thù địch tăng cường khai
thác những yếu kém về trình độ phát triển kinh tế, những bất cập trong quản lý
đất nước để công kích, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,
gây hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân
vào sự nghiệp xây dựng CNXH.
Thực
tiễn đã cho thấy, sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu chỉ là sự
sụp đổ mô hình cụ thể ở một hay vài quốc gia, chứ hoàn toàn không phải là sự sụp
đổ của lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Mục tiêu của cuộc
cách mạng XHCN không chỉ là khát vọng của nhân dân lao động trên toàn thế giới,
mà còn là xu thế tất yếu của thời đại. CNXH chỉ tạm thời lâm vào thoái trào,
các nước XHCN vẫn không ngừng cải cách, đổi mới, khắc phục những yếu kém trong
quản lý kinh tế, quản lý xã hội và đạt được những thành tựu nhất định. Nâng cao
chất lượng nghiên cứu và giáo dục lý luận chính trị, đặc biệt là lý luận về
CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, sẽ góp phần nâng cao bản lĩnh chính
trị, củng cố niềm tin, giữ vững lập trường chính trị của cán bộ, đảng viên và
nhân dân, từ đó thống nhất ý chí và hành động nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu
chính trị của Đảng.
Hai là, các thế lực
thù địch đẩy mạnh hoạt động chống phá công cuộc xây dựng CNXH của nước ta, đặc
biệt là tăng cường “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa”
Các
thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh tuyên truyền quan điểm sai trái, nhằm xóa
bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước và xã hội; phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên CNXH, phê phán,
bôi đen CNXH hiện thực... Thông qua các hội thảo khoa học, diễn đàn quốc tế, diễn
đàn trên mạng xã hội..., các thế lực thù địch đẩy mạnh tuyên truyền về chủ
nghĩa thực dụng, dân chủ, văn hóa phương Tây, tâm lý hưởng thụ... nhằm từng bước
chuyển hóa tư tưởng, quan điểm và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân;
chúng phát tán tài liệu xuyên tạc, bóp méo các chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Chúng tăng cường lợi dụng các phương tiện thông tin,
truyền thông, triệt để sử dụng internet và mạng xã hội để phát tán tài liệu,
xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam.
Với
sự trợ giúp của công nghệ, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch không bị
giới hạn bởi không gian và thời gian, nên tính chất, quy mô, hình thức chống
phá ngày càng lớn, đa dạng và ngày càng nguy hiểm. Con người dễ bị dẫn dụ vào
thế giới ảo, với những thông tin giả, xấu độc, nhiễu loạn dẫn đến bị “đánh lừa”,
“ru ngủ”, dao động, đưa đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, việc nâng
cao chất lượng công tác nghiên cứu và giáo dục lý luận về CNXH sẽ giúp cán bộ, đảng
viên hiểu rõ những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và Nhà nước trong
công cuộc đổi mới đất nước, kiên định, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng, ngăn
ngừa tư tưởng bi quan, dao động, nêu cao tinh thần cảnh giác, có khả năng “miễn
dịch” và chủ động đấu tranh, phê phán những luận điệu sai trái của các thế lực
thù địch, phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Ba là, công tác nghiên
cứu lý luận chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam
Xây
dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay có những đặc điểm riêng, với xuất phát điểm thấp,
trình độ lực lượng sản xuất lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bỏ qua chế
độ TBCN và không còn các nước XHCN đi trước giúp đỡ do điều kiện chính trị thế
giới biến đổi. Mặc dù vậy, sau những biến động về chính trị trên thế giới, các
Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước vẫn tiếp tục lãnh đạo công cuộc cải cách, đổi
mới và mỗi nước có đặc điểm khác nhau, có bước đi và cách làm khác nhau. Đặc biệt,
mô hình xây dựng CNXH chưa có tiền lệ trong lịch sử. Việc tìm kiếm, phát triển
lý luận về CNXH, con đường và các giải pháp xây dựng CNXH ở mỗi nước có thể coi
là kinh nghiệm để tham khảo, chứ không thể áp dụng máy móc, rập khuôn. Công cuộc
đổi mới đất nước có nhiều vấn đề nảy sinh trong thực tiễn mà chúng ta chưa kịp
thời tổng kết để bổ sung, phát triển lý luận. Điều này làm cho lý luận thiếu
tính thuyết phục, ít nhiều có ảnh hưởng đến niềm tin của cán bộ, đảng viên,
nhân dân. Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09-10-2014 của Bộ Chính trị về công tác
lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 nhận định: “Nhìn chung, lý luận
còn lạc hậu, tính dự báo thấp, kết quả nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu
cầu của thực tiễn... Kết quả thực hiện nhiệm vụ cung cấp luận cứ khoa học làm
cơ sở cho việc hoạch định đường lối, quan điểm của Đảng còn hạn chế, nhiều vấn
đề thực tiễn đặt ra chưa được làm rõ”(3).
3. Một số nhiệm vụ, giải
pháp cơ bản nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới
Văn
kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và
con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện
thực hóa(4). Dẫu vậy, như Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất
rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải
có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc,
khoa học”(5). Có thể thấy, do tính chất mới
mẻ và phức tạp của công cuộc xây dựng CNXH trong bối cảnh thế giới có nhiều biến
đổi khó lường, từ đó cần thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục
phát triển lý luận về CNXH Việt Nam và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Thứ nhất, tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận
Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo công tác nghiên cứu lý luận gắn với tổng
kết thực tiễn xây dựng CNXH đã góp phần làm sáng tỏ hơn lý luận về CNXH và con
đường đi lên CNXH ở nước ta. Trong thời gian tới, công tác nghiên cứu lý luận cần
chủ động, sáng tạo hơn. Khi xác định được hệ thống các vấn đề cần nghiên cứu,
nên lựa chọn các tổ chức, cá nhân có uy tín, năng lực để giao. Đồng thời, cần đổi
mới cơ chế quản lý về thầu, khoán, cơ chế nghiệm thu đề tài... bảo đảm tính
khoa học, dân chủ, khách quan. Cần xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, động
viên việc tìm tòi, sáng tạo trong xác định đề tài nghiên cứu, mở rộng hợp tác
quốc tế trong nghiên cứu lý luận thông qua các hình thức khen thưởng, xác định
mức kinh phí thực hiện đề tài, tổ chức hội thảo, các chương trình hợp tác,
nghiên cứu..
Kiện
toàn hệ thống các cơ quan nghiên cứu lý luận, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ
lý luận vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có năng lực nghiên cứu lý luận, tổng kết
thực tiễn. Đa số cán bộ làm công tác nghiên cứu lý luận được đào tạo bài bản,
chuyên sâu. Tuy nhiên, hiện nay, các chuyên gia đầu ngành đã lớn tuổi, xu hướng
trẻ hóa diễn ra ngày càng nhanh. Do đó, cần xây dựng chiến lược phát triển đội
ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận từ công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đặc biệt
là có cơ chế, chính sách để họ phát huy tối đa trí tuệ, nhiệt huyết vào nhiệm vụ
và chịu trách nhiệm đối với sản phẩm khoa học của mình.
“Thông qua nghiên cứu lý
luận, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường
đi lên CNXH ở Việt Nam, lãnh đạo cuộc cách mạng XHCN ở nước ta đạt được những
thành tựu to lớn.
Huy
động sức mạnh của các chủ thể trong công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực
tiễn. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn không chỉ là nhiệm vụ của
cán bộ nghiên cứu lý luận, mà còn phải huy động đội ngũ cán bộ, đảng viên trong
hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang, đội ngũ phóng viên, biên tập viên báo
chí, xuất bản, nhân dân tham gia. Triển khai có hiệu quả Luật Thực hiện dân chủ
ở cơ sở năm 2022, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Việc lấy ý kiến của nhân dân
đóng góp cho Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng được
nhân dân hưởng ứng tích cực đã cho thấy toàn dân hoàn toàn có khả năng tham gia
tổng kết thực tiễn, đóng góp có hiệu quả vào việc xây dựng, hoàn thiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Thứ hai, dựa trên lý
luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để
hoàn thiện lý luận về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, tránh tả khuynh
C.Mác
và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, sự vận động, phát triển của xã hội loài người trải
qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao là một quá trình lịch sử - tự
nhiên. Các ông cũng xây dựng lý luận về thời kỳ quá độ, gắn với hình thức quá độ
trực tiếp từ CNTB lên CNXH, chủ nghĩa cộng sản. Đây là sự phát triển tuần tự trải
qua các hình thái kinh tế - xã hội do mâu thuẫn bên trong, giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất, biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giai cấp. Tuy
nhiên, C.Mác cũng tiếp cận theo chiều ngang, đề cập đến sự phát triển của xã hội
do sự tương tác qua lại giữa các xã hội về mặt không gian, đó là sự kế thừa những
thành tựu phát triển của các quốc gia khác để phát triển.
Năm
1916, trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản,
V.I.Lênin đã luận giải rằng, chủ nghĩa đế quốc vô cùng thối nát, là đêm trước của
cuộc cách mạng xã hội XHCN. V.I.Lênin đã xây dựng lý luận về thời kỳ quá độ gắn
với hình thức quá độ gián tiếp. Đó là sự phát triển “rút ngắn” chủ yếu thông
qua việc nghiên cứu sự phát triển của những nước từ giai đoạn tiền TBCN hoặc chỉ
ở giai đoạn CNTB phát triển ở trình độ trung bình (như nước Nga cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX). V.I.Lênin chỉ rõ rằng: “Sự phát triển không đều về kinh tế và
chính trị là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản...”(6) và “do đó phải đi đến kết luận tất yếu này: chủ nghĩa xã hội
không thể đồng thời thắng lợi trong tất cả các nước. Trước hết, nó thắng lợi
trong một nước, hoặc một số nước...”(7).
Cuối cùng,
V.I.Lênin đi đến luận điểm: Cuộc cách mạng vô sản có thể nổ ra và giành thắng lợi
ở những nước có nền kinh tế tư bản chưa phát triển. Muốn thực hiện bước chuyển
từ xã hội TBCN phát triển ở trình độ cao lên CNXH thì phải thay đổi bản chất
quyền lực nhà nước tư sản sang nhân dân lao động. Tất nhiên, để thực hiện được
điều đó phải có sự đấu tranh bền bỉ, sự đoàn kết rộng rãi của các giai tầng
trong xã hội. Chỉ có giai cấp công nhân mới có thể đoàn kết giai cấp và các tầng
lớp nhân dân lao động trong công cuộc đấu tranh vì một xã hội tốt đẹp - xã hội
vì sự phát triển toàn diện con người, vì hòa bình và tiến bộ xã hội.
V.I.Lênin
cũng chỉ rõ, thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, lâu dài, gian nan,
phức tạp. Thời kỳ quá độ đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái mới tuy đã ra đời
nhưng mới manh nha, chưa hoàn thiện vẫn có thể bị cái cũ, các thế lực cũ đánh bại.
Mặt khác, cái cũ, lỗi thời tuy bị phá hủy nhưng tàn dư của nó vẫn còn sót lại,
bám rễ dai dẳng trong xã hội mới. V.I.Lênin chỉ ra hình thức quá độ “đặc biệt của
đặc biệt”, từ những nước chưa trải qua hình thái kinh tế - xã hội TBCN và điều
kiện để có thể thực hiện quá độ lên CNXH thành công là phải có sự lãnh đạo tuyệt
đối của Đảng Cộng sản; sự đoàn kết dân tộc trên nền tảng giai cấp công nhân,
nông dân và các tầng lớp xã hội tiến bộ khác và sự ủng hộ, giúp đỡ tích cực của
các Đảng Cộng sản...
Hồ
Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển lý luận về CNXH
ở Việt Nam - một nước thuộc địa, lạc hậu quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN. Từng
bước một, kết hợp nghiên cứu lý luận về CNXH và cách mạng XHCN, khảo sát kinh
nghiệm và thực tiễn xây dựng CNXH ở các nước XHCN, Hồ Chí Minh đã phân tích điều
kiện cụ thể của Việt Nam để đề ra mục tiêu, lựa chọn hình thức, bước đi và giải
pháp phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Hồ Chí Minh khẳng định: “Ta không thể giống
Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác...”(8); “Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau mà được
mà phải làm dần dần”(9); “Muốn cho chủ nghĩa
cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều
được phát triển hết khả năng của mình”(10).
Thời
kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam với xuất phát điểm thấp, lại bỏ qua chế độ TBCN
nên những tàn dư của xã hội cũ, nhất là trong ý thức xã hội, vẫn chưa được cải
tạo. Do vậy, quá độ lên CNXH ở Việt Nam phải được tiến hành trên cơ sở đổi mới
đồng bộ cả kinh tế và chính trị, lấy phát triển kinh tế là trung tâm, đổi mới
chính trị là quan trọng, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển. Phát huy
giá trị văn hóa, sức mạnh con người là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục
tiêu, động lực là sức mạnh nội sinh của quá trình phát triển đất nước. Tính đồng
bộ còn được thể hiện ở sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN; phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đồng thời
với thi hành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển,
bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển bền vững đất nước.
Thứ
ba, bám sát tình hình thế giới và trong nước để phát triển lý luận về CNXH và
con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, tránh chủ quan, giáo điều
Việc
xây dựng lý luận về CNXH ở Việt Nam hiện nay đứng trước bối cảnh lịch sử mới,
nên nhiệm vụ đặt ra là phải vừa tổng kết, tham chiếu các mô hình CNXH ở các nước,
vừa bám sát điều kiện cụ thể của nước ta. Khi xây dựng lý luận về CNXH ở Việt
Nam cần làm sáng tỏ mấy vấn đề cơ bản sau: Phân tích bối cảnh để đánh giá đầy đủ
về cơ hội, thách thức, nguy cơ; đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
trong bối cảnh đó để xác định mô hình CNXH Việt Nam, từ đó đề ra biện pháp, bước
đi thích hợp trong từng thời kỳ, sát hợp với tình hình thế giới và thực tiễn Việt
Nam để hiện thực hóa mô hình đó.
Thời
đại ngày nay, việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ vào quá trình
sản xuất và dịch vụ không chỉ làm cho trình độ lực lượng sản xuất phát triển
cao, mà còn làm biến đổi sâu sắc về các mặt của quan hệ sản xuất và mọi mặt của
xã hội. Những thành tựu về kinh tế mà CNTB đạt được đã làm xuất hiện những tiền
đề và yếu tố của CNXH trong lòng CNTB. C.Mác đã đánh giá, cùng với sự phát triển
của khoa học - kỹ thuật, trong xã hội tư bản có thể xuất hiện những mầm mống của
CNXH, những nhân tố này sẽ là “chất liệu” quan trọng cho CNXH. Thực tiễn xây dựng
CNXH cho thấy, tiền đề này có thể xuất hiện từ trước hoặc từng bước được hoàn
thiện, phát triển trong quá trình xây dựng xã hội mới.
CNXH
chỉ tạm thời lâm vào thoái trào, các nước XHCN vẫn không ngừng cải cách, đổi mới,
khắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội và đã có những
thành tựu nhất định. Các nước đi theo con đường CNXH, như Trung Quốc, Việt Nam…
tiếp tục phát triển ổn định, kinh tế tiếp tục tăng trưởng, uy tín và vị thế quốc
gia ngày càng nâng lên trên trường quốc tế. Điều đó được xem là tác nhân rất lớn
góp phần vào việc tái cân bằng cục diện thế giới mới, từ đơn cực sang đa cực, từ
đối đầu sang đối thoại, hợp tác cùng phát triển. Các phong trào cánh tả những
năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, mặc dù đưa ra những cương lĩnh chính trị,
chương trình hành động chính trị khác nhau, nhưng đều có những cải cách tiến bộ,
mang lại lợi ích cho người lao động. Điều đó phản ánh khuynh hướng tìm kiếm con
đường đi tới một xã hội tốt đẹp, CNXH vẫn là xu thế tất yếu của thời đại, là mục
tiêu hành động của nhân dân lao động, của các đảng chính trị tiến bộ ngày nay.
Các giá trị như công bằng, dân chủ, bình đẳng, tự do vẫn là những giá trị được
nhân dân lao động và các đảng chính trị tiến bộ hướng đến.
Nghị
quyết số 37-NQ/TW ngày 09-10-2014 của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định
hướng nghiên cứu đến năm 2030 chỉ ra một loạt vấn đề nảy sinh từ thực tiễn xây
dựng CNXH ở nước ta, cần sớm tổng kết để hoàn thiện lý luận như: Về phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; về công nghiệp hóa, hiện đại hóa; về
phát triển kinh tế tri thức; về hội nhập quốc tế; về phát triển kinh tế nhanh
và bền vững gắn với bảo vệ môi trường; giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội;
Xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực để
phát triển đất nước, văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị. Giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc đi đôi với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; vấn
đề hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân; cơ
chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực, chống quan liêu, tham nhũng,
lãng phí, giữ nghiêm kỷ cương xã hội. Vấn đề dân chủ, phát huy quyền làm chủ của
người dân đi đôi với hoàn thiện hệ thống chính trị…(11).
Việc
thường xuyên tổng kết thực tiễn để hoàn thiện lý luận về CNXH ở Việt Nam thể hiện
Đảng luôn sáng tạo trong việc xây dựng lý luận về CNXH phù hợp với điều kiện lịch
sử cụ thể của nước ta, phòng, tránh bệnh chủ quan, giáo điều. Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng yêu cầu: “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên
tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học
để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp
thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc
hậu so với cuộc sống”(12).
4. Kết luận
Sau
gần 40 năm đổi mới, từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, Đảng đã từng bước nhận thức
và ngày càng hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam,
lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta đạt được những thành tựu to lớn. Đến
nay, cơ bản chúng ta đã tạo ra được những tiền đề vật chất, kỹ thuật cho CNXH,
tới đây là giai đoạn tăng tốc để hiện thực hóa mục tiêu đưa nước ta trở thành
nước phát triển vào năm 2045. Đánh giá 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2011-2020, Đảng nhận định: “Thế và lực của nước ta đã lớn mạnh
hơn nhiều; quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; tính
tự chủ của nền kinh tế được cải thiện; tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm trong
lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phát triển kinh tế - xã hội”(13); “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm
lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(14)
như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định.
Hiện
nay, tình hình thế giới và trong nước có những biến đổi nhanh chóng, khó lường,
cần thiết phải tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận về CNXH
và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác nghiên cứu lý luận trong tình hình mới; dựa trên lý luận khoa học và
cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bám sát thực tiễn
hình thế giới và trong nước và để hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường đi
lên CNXH ở Việt Nam nhằm khai thác mọi cơ hội, vượt qua thách thức, thực hiện
cuộc bứt phá mạnh mẽ để “rút ngắn” quá trình phát triển. Quá độ lên CNXH bỏ qua
chế độ TBCN ở Việt Nam, không phải là bỏ qua giai đoạn phát triển của hình thái
kinh tế - xã hội TBCN, mà chỉ “bỏ qua” việc xác lập quan hệ sản xuất TBCN và hệ
thống kiến trúc thượng tầng TBCN là thống trị, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có
chọn lọc những yếu tố hợp lý, thành tựu của CNTB. Tuy nhiên, với quan điểm biện
chứng đòi hỏi chúng ta phải kết hợp chặt chẽ quá trình loại bỏ, tiếp thu có chọn
lọc với việc từng bước xác lập, củng cố, phát triển những yếu tố mới và giá trị
của CNXH. Sự kết hợp này là một trong những nội dung lớn của quá trình phát triển
rút ngắn nhưng tránh tư tưởng nóng vội, tả khuynh.
(theo
lyluanchinhtri.vn)
Ngày
nhận bài: 27-5-2024; Ngày bình duyệt: 30-5-2024 ; Ngày duyệt đăng: 21-6-2024.
(1) V.I.Lênin: Toàn tập, t.19, Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.359.
(2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.6, Sđd, tr.30.
(3) Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09-10-2014 của Bộ
Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030
(4), (13) Xem: ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021,
tr.25 và 209
(5), (12), (14) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.17, 37, 34.
(6) V.I.Lênin: Toàn tập, t.26, Sđd, tr.447.
(7) V.I. Lênin: Toàn tập, t.30, Sđd, tr.173.
(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.391 và 390
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t,4, Sđd,
tr.315.
(11) Xem: Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày
09-10-2014 của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến
năm 2030