Chủ nhật, ngày 30/03/2025, 08:37

Những thành tựu lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua gần 40 năm đổi mới

Trương Văn Viên - Trần Thị Kiều Nga
Học viện Chính trị khu vực I. - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

(GDLL) Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, hơn 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện. Bài viết góp phần làm sáng tỏ những thành tựu lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua gần 40 năm Đổi mới.

Kỳ họp thứ chín Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2021-2026 cho ý kiến vào dự thảo Báo cáo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 50 năm đất nước thống nhất (1975-2025), góp phần hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. (Ảnh: Kế Tùng; nguồn vnanet.vn)

 

Đặt vấn đề

Công cuộc Đổi mới, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay[8, tr.34]. Có được thành tựu to lớn đó là do Đảng ta đã kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể nước ta. Từ thực tiễn xây dựng đất nước qua gần 40 năm Đổi mới, có thể khái quát những thành tựu lý luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam gồm những nội dung cơ bản sau.

1. Xác định, bổ sung các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong Cương lĩnh năm 1991, Đảng ta chỉ rõ 6 đặc trưng của xã hội XHCN ở Việt Nam: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”[1, tr.8-9].

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Đảng ta thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó xác định 8 đặc trưng của CNXH Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[5, tr.70]

Trong Cương lĩnh năm 2011 các đặc trưng của CNXH Việt Nam được bổ sung, điều chỉnh và diễn đạt phù hợp hơn với thực tiễn: Một là, so với Cương lĩnh năm 1991, Đại hội X và Cương lĩnh năm 2011 bổ sung đặc trưng tổng quát của CNXH Việt Nam là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[5, tr.70]. Hai là, Cương lĩnh năm 1991 xác định “do nhân dân lao động làm chủ” đến Đại hội X và Cương lĩnh năm 2011 xác định “do nhân dân làm chủ”, “do nhân dân làm chủ” có nội hàm rộng hơn “do nhân dân lao động làm chủ”. Ba là, trong Cương lĩnh năm 1991 xác định “có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”đến Cương lĩnh năm 2011 đượcđiều chỉnh, bổ sung bằng “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”. Bốn là, Đại hội X và Cương lĩnh năm 2011 bổ sung đặc trưng “có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”[5, tr.70]. Năm là, Cương lĩnh năm 1991 xác định “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”thì trong Văn kiện Đại hội lần thứ X và trong Cương lĩnh năm 2011, được điều chỉnh thành “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. 

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng(năm 2021), tiêu chí “hạnh phúc” tuy chưa được đưa vào mục tiêu của xã hội XHCN Việt Nam, nhưng đã được Đảng ta nêu ra như một thành tố trong mục tiêu tổng quát, Đảng ta chỉ rõ: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”[6, tr.111]. Đây là nhận thức mới của Đảng cần được nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc bổ sung tiêu chí này vào hệ mục tiêu tổng quát của xã hội XHCN Việt Nam.

Tám đặc trưng của CNXH Việt Nam được xác định, bổ sung, phát triển qua gần 40 năm đổi mới là thành tựu lý luận quan trọng của Đảng Cộng sản Việt, đã góp phần định hình CNXH Việt Nam, trả lời câu hỏi lớn thứ nhất: CNXH Việt Nam là gì?.

2. Nhận thức rõ hơn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Một là, nhận thức đầy đủ hơn về tính chất đan xen, khó khăn, phức tạp, lâu dài của thời kỳ quá độ lên CNXH. V.I.Lênin chỉ ra rằng, thời kỳ quá độ lên CNXH là “những cơn đau đẻ kéo dài”[7, tr.223]. Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Quá độ lên CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái mới và cái cũ”[8, tr.25]. Nhận thức mới này có ý nghĩa rất quan trọng, đã khắc phục được những biểu hiện nóng vội, chủ quan, đốt cháy giai đoạn trong xây dựng CNXH ở Việt Nam thời kỳ trước Đổi mới.

Hai là, nhận thức ngày càng rõ hơn về nội dung “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”.Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001), Đảng ta đưa ra quan điểm về “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ XHCN, chứ không phải bỏ qua cả thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển” [8, tr.25].

Như vậy, “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” là bỏ qua sự thống trị về chính trị của giai cấp tư sản, sự thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; bỏ qua việc xác lập kiến trúc thượng tầng kiểu tư bản chủ nghĩa; “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” không phải là đốt cháy giai đoạn và phủ định sạch trơn mà phải biết kế thừa những thành tựu mà văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa về lực lượng sản xuất, về khoa học và công nghệ, về trình độ tổ chức và quản lý tiên tiến, hiện đại nhằm phục vụ mục tiêu xây dựng CNXH. Nhận thức này khắc phục tư tưởng phủ định sạch trơn trong xây dựng CNXH ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới; đồng thời thể hiện sự vận dụng, phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam. 

Ba là, làm rõ nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam: “Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN”[5, tr.71]. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta xác định: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN[6, tr.112].

Như vậy, Đảng ta xác định nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.

3. Hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Đại hội VI của Đảng năm 1986 nhận định nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH. Đến Đại hội VII của Đảng năm 1991 chỉ rõ “bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước[2, tr.21]. Đến Đại hội IX của Đảng năm 2001 khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được khẳng định, văn kiện Đại hội IX chỉ rõ: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN[3, tr.86]. Đây là một bước tiến lớn trong tư duy lý luận của Đảng về kinh tế thị trường định hướng XHCN. 

Đến Đại hội XIII của Đảng năm 2021, nhận thức về khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN được thể hiện đầy đủ, hoàn thiện hơn: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên XHCN. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước[6, tr.128].

Như vậy, hình thành khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN là một thành tựu to lớn của Đảng trong gần 40 năm Đổi mới đất nước. Đánh giá về thành tựu này của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”[8, tr.25].

4. Xác định, bổ sung các phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991, Đảng ta xác định 6 đặc trưng của CNXH Việt Nam; đồng thời, Đảng ta cũng chỉ rõ 7 phương hướng cơ bản xây dựng CNXH ở Việt Nam[1]. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (năm 2006), tổng kết 20 năm đổi mới, Đảng ta đã bổ sung các phương hướng cơ bản xây dựng CNXH ở Việt nam: (1) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; (2) Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; (3) Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; (4) Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; (5) Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; (6) Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; (7) Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; (8) Chủ động và tích cựchội nhập kinh tế quốc tế[4, tr.18].

Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta chỉ ra 8 phương hướng cơ bản xây dựng CNXH Việt Nam: “Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tám là, xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh”[5, tr.72].

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII(năm 2021), Đảng ta đã chỉ rõ 12 “Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030[6, tr.114-120]. Đây là bước tiến quan trọng trong nhận thức lý luận của Đảng về phương hướng xây dựng CNXH ở Việt Nam.Các phương hướng và định hướng phát triển này về cơ bản đã xác định phương thức, con đường, biện pháp xây dựng CNXH ở Việt Nam toàn diện trên các lĩnh vực, đồng thời trả lời câu hỏi lớn thứ hai: Xây dựng CNXH ở Việt Nam bằng cách nào?.

5. Phát hiện các mối quan hệ lớn cần phải giải quyết trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trong quá trình đổi mới đi lên CNXH, Đảng ta đã nhận thức rõ các mối quan hệ lớn và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI(năm 2011), Đảng ta đã khái quát thành 8 mối quan hệ lớn cần phải nắm vững và xử lý trong quá trình đổi mới, đi lên CNXH ở Việt Nam[5, tr.26-27]. Đến Đại hội XII (2016), Đảng nêu 9 mối quan hệ cần được nghiên cứu làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn và bổ sung thêm mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường.

Từ thực tiễn 35 đổi mới đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta chỉ rõ 10 mối quan hệ lớn cần phải giải quyết trong quá trình đổi mới đi lên CNXH: “Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn: Quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”[6, tr.119-120]. Đại hội XIII, Đảng ta điều chỉnh mối quan hệ giữa “đổi mới, ổn định và phát triển” thành “ổn định, đổi mới và phát triển” và Đảng ta bổ sung thêm mối quan hệ thứ mười “giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”.

Mười mối quan hệ trên là các mối quan hệ lớn, có tính bao trùm, phản ánh quy luật vận động khách quan, biện chứng những vấn đề trọng tâm, cốt lõi của quá trình đổi mới, phát triển trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Những mối quan hệ đó phản ánh giữa thực tiễn và lý luận có sự gắn kết với nhau, thống nhất biện chứng với nhau, tạo thành những vấn đề cốt lõi về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay.

Kết luận

Gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã đạt những thành tựu lý luận to lớn; góp phần làm sáng tỏ, ngày càng hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam thời kỳ đổi mới. Những đặc trưng, phương hướng, các mối quan hệ lớn cần phải giải quyết trong quá trình đổi mới, đi lên CNXH ở Việt Nam cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh lịch sử mới.

 

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội. 

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I,Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[7] V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 33, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[8] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Tin liên quan

Đọc thêm

Nghiên cứu, đề xuất xây dựng chuẩn chương trình bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay

Tác giả: TRƯƠNG BẢO THANH

(GDLL) - Xây dựng chuẩn chương trình bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng, là căn cứ để cơ sở đào tạo tiến hành xây dựng, thẩm định, ban hành, thực hiện, đánh giá và cải tiến các chương trình bồi dưỡng trên thực tế. Bài viết tập trung nghiên cứu cơ sở chính trị, pháp lý, cơ sở thực tiễn, đề xuất xây dựng chuẩn chương trình bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thích ứng linh hoạt với đại dịch Covid 19 tại Việt Nam

Tác giả: CHU THỊ LÊ ANH

(GDLL) - Đại dịch COVID-19 đã gây ra nhiều hậu quả tiêu cực tới đời sống xã hội và làm giảm sút tăng trưởng kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bài viết phân tích các chính sách phục hồi và phát triển kinh tế ứng phó tác động của dịch bệnh COVID-19 tới nền kinh tế Việt Nam, từ đó đề xuất một số khuyến nghị chính sách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thích ứng linh hoạt với dịch bệnh trong thời gian tới nhằm thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Giải pháp thực hiện các chính sách hỗ trợ tài chính để doanh nghiệp vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19

Tác giả: NINH THỊ MINH TÂM

(GDLL) - Đại dịch Covid-19 đã tạo ra cú sốc đối với nền kinh tế Việt Nam và tác động tiêu cực đến “sức khỏe”, tiềm lực và khả năng chống chịu của nhiều doanh nghiệp, dẫn đến nguy cơ phá sản. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ tài chính nhằm giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Bài viết tập trung phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ tài chính nhằm tăng “sức bền” và hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp bị tác động tiêu cực bởi dịch bệnh.

Tổn thương của doanh nghiệp Việt Nam sau cú sốc đại dịch Covid-19 - thực trạng và khuyến nghị

Tác giả: HOÀNG VĂN HOAN

(GDLL) - Khủng hoảng thường tạo cú sốc cho doanh nghiệp xét về cả kết quả kinh doanh thực tế và kỳ vọng. Các cú sốc có thể tích cực (hữu ích) hoặc tiêu cực (có hại) gây tổn thương cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Để có những biện pháp đối phó nhằm ngăn chặn sớm cũng như giảm bớt những tác động bất lợi của các cú sốc gây tổn thương cho doanh nghiệp cũng như xã hội, đặc biệt sau cú sốc đại dịch COVID -19, bài viết giúp nhận diện các cú sốc, mức độ tổn thương của doanh nghiệp Việt Nam sau cú sốc bất lợi từ đại dịch COVID-19 trong giai đoạn vừa qua, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách.

Phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc - một số vấn đề đặt ra

Tác giả: Tạ Thị Đoàn

(GDLL) - Phát triển du lịch cộng đồng đã và đang mang lại nhiều lợi ích cho các tỉnh vùng Tây Bắc, qua đó góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc thời gian qua, bài viết chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc trong thời gian tới.