
Kỳ họp thứ
chín Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2021-2026 cho ý kiến vào dự thảo Báo
cáo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 50 năm đất nước thống nhất
(1975-2025), góp phần hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. (Ảnh: Kế Tùng; nguồn vnanet.vn)
Đặt vấn
đề
Công cuộc
Đổi mới, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) do Đảng Cộng
sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử và như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta
vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa
bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[8, tr.34]. Có được
thành tựu to lớn đó là do Đảng ta đã kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể nước ta. Từ thực tiễn
xây dựng đất nước qua gần 40 năm Đổi mới, có thể khái quát những thành tựu lý
luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam gồm những nội
dung cơ bản sau.
1. Xác định, bổ sung các đặc
trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH. Trong Cương lĩnh năm 1991, Đảng ta chỉ rõ 6 đặc trưng của xã hội
XHCN ở Việt Nam: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng
sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức,
bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong
nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị
và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”[1, tr.8-9].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Đảng ta
thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó xác
định 8 đặc trưng của CNXH Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng
sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn
kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu
nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[5, tr.70].
Trong Cương lĩnh năm 2011 các đặc trưng của CNXH Việt Nam
được bổ sung, điều chỉnh và diễn đạt phù hợp hơn với thực tiễn: Một là, so với Cương lĩnh năm 1991, Đại hội
X và Cương lĩnh năm 2011 bổ sung đặc trưng tổng quát của CNXH Việt Nam là “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[5, tr.70]. Hai là, Cương lĩnh năm 1991 xác định “do nhân dân lao động
làm chủ” đến Đại hội X và Cương lĩnh năm 2011 xác định “do nhân dân làm chủ”,
“do nhân dân làm chủ” có nội hàm rộng hơn “do nhân dân lao động làm chủ”. Ba là, trong Cương lĩnh năm 1991 xác định
“có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế
độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”đến Cương lĩnh năm 2011 đượcđiều chỉnh, bổ sung bằng “có nền kinh tế
phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ
phù hợp”. Bốn là, Đại hội X và
Cương lĩnh năm 2011 bổ sung đặc trưng “có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”[5, tr.70]. Năm là, Cương lĩnh năm 1991 xác định “có quan hệ hữu nghị và
hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”thì trong Văn kiện Đại hội lần thứ X và trong Cương lĩnh
năm 2011, được điều chỉnh thành “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước
trên thế giới”.
Đến Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng(năm 2021), tiêu chí “hạnh phúc” tuy chưa được đưa vào mục tiêu của
xã hội XHCN Việt Nam, nhưng đã được Đảng ta nêu ra như một thành tố trong mục
tiêu tổng quát, Đảng ta chỉ rõ: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn
vinh, hạnh phúc”[6, tr.111].
Đây là nhận thức mới của Đảng cần được nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận và thực
tiễn cho việc bổ sung tiêu chí này vào hệ mục tiêu tổng quát của xã hội XHCN Việt
Nam.
Tám đặc
trưng của CNXH Việt Nam được xác định, bổ sung, phát triển qua gần 40 năm đổi mới
là thành tựu lý luận quan trọng của Đảng Cộng sản Việt, đã góp phần định hình
CNXH Việt Nam, trả lời câu hỏi lớn thứ nhất: CNXH Việt Nam là gì?.
2. Nhận thức rõ hơn về thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Một là, nhận thức đầy đủ hơn về tính chất
đan xen, khó khăn, phức tạp, lâu dài của thời kỳ quá độ lên CNXH. V.I.Lênin chỉ
ra rằng, thời kỳ quá độ lên CNXH là “những cơn đau đẻ kéo dài”[7, tr.223]. Trong cuốn
sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, cố Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng đã chỉ rõ: “Quá độ lên CNXH là một sự
nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến
đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi
lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực
lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả nặng nề;
các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn,
phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời
kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế,
xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái mới và cái cũ”[8, tr.25]. Nhận thức
mới này có ý nghĩa rất quan trọng, đã khắc phục được những biểu hiện nóng vội,
chủ quan, đốt cháy giai đoạn trong xây dựng CNXH ở Việt Nam thời kỳ trước Đổi mới.
Hai là, nhận thức
ngày càng rõ hơn về nội dung “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”.Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng (năm 2001), Đảng ta đưa ra quan điểm về “bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa”. Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ
qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật
xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ XHCN, chứ
không phải bỏ qua cả thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong
thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu
này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển” [8, tr.25].
Như vậy, “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” là bỏ qua sự thống
trị về chính trị của giai cấp tư sản, sự thống trị của quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa; bỏ qua việc xác lập kiến trúc thượng tầng kiểu tư bản chủ nghĩa; “bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa” không phải là đốt cháy giai đoạn và phủ định sạch
trơn mà phải biết kế thừa những thành tựu mà văn minh nhân loại đã đạt được
trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa về lực lượng sản xuất, về khoa học và
công nghệ, về trình độ tổ chức và quản lý tiên tiến, hiện đại nhằm phục vụ mục
tiêu xây dựng CNXH. Nhận thức này khắc phục tư tưởng phủ định sạch trơn trong
xây dựng CNXH ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới; đồng thời thể hiện sự vận dụng,
phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt
Nam.
Ba là, làm rõ
nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở Việt Nam (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định nhiệm
vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam: “Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước
ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến
trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta
trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng,
toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp
hiện đại, theo định hướng XHCN”[5,
tr.71]. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta xác
định: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở
thành nước phát triển, theo định hướng XHCN”[6, tr.112].
Như vậy,
Đảng ta xác định nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là
xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về
chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở
thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.
3. Hình thành và phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Đại hội VI của Đảng năm 1986 nhận định nền kinh tế có cơ
cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH. Đến Đại hội
VII của Đảng năm 1991 chỉ rõ “bước đầu hình
thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước”[2, tr.21]. Đến Đại hội IX của Đảng năm
2001 khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được khẳng định, văn kiện
Đại hội IX chỉ rõ: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu
dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; đó chính là
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”[3, tr.86]. Đây là một
bước tiến lớn trong tư duy lý luận của Đảng về kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đến Đại hội XIII của Đảng năm 2021, nhận thức về khái niệm
kinh tế thị trường định hướng XHCN được thể hiện đầy đủ, hoàn thiện hơn: “Kinh
tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời
kỳ quá độ lên XHCN. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận
hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của
Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng
XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của đất nước[6, tr.128].
Như vậy,
hình thành khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN là một thành tựu to lớn
của Đảng trong gần 40 năm Đổi mới đất nước. Đánh giá
về thành tựu này của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đưa ra
quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng
ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất
phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”[8, tr.25].
4. Xác định, bổ sung các
phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH năm 1991, Đảng ta xác định 6 đặc trưng của CNXH Việt Nam; đồng
thời, Đảng ta cũng chỉ rõ 7 phương hướng cơ bản xây dựng CNXH ở Việt Nam[1]. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
(năm 2006), tổng kết 20 năm đổi mới, Đảng ta đã bổ sung các phương hướng cơ bản
xây dựng CNXH ở Việt nam: (1) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN; (2) Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; (3) Xây dựng nền văn hoá tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; (4) Xây dựng nền
dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; (5) Xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; (6) Xây dựng Đảng trong sạch,
vững mạnh; (7) Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; (8) Chủ động
và tích cựchội nhập kinh tế quốc
tế[4, tr.18].
Đến Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm
2011), Đảng ta chỉ ra 8 phương hướng cơ bản xây dựng CNXH Việt Nam: “Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Hai là, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Ba là,
xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người,
nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Năm
là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị,
hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện
đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tám
là, xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh”[5, tr.72].
Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII(năm
2021), Đảng ta đã chỉ rõ 12 “Định hướng phát
triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030”[6, tr.114-120]. Đây là bước tiến quan trọng trong nhận thức lý luận của Đảng về phương
hướng xây dựng CNXH ở Việt Nam.Các phương hướng và định hướng phát triển này về cơ
bản đã xác định phương thức, con đường, biện pháp xây dựng CNXH ở Việt Nam toàn
diện trên các lĩnh vực, đồng thời trả lời câu hỏi lớn thứ hai: Xây dựng CNXH ở
Việt Nam bằng cách nào?.
5. Phát hiện các mối quan hệ
lớn cần phải giải quyết trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam
Trong quá
trình đổi mới đi lên CNXH, Đảng ta đã nhận thức rõ các mối quan hệ lớn và đến Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI(năm
2011), Đảng ta đã khái quát thành 8 mối quan hệ lớn cần phải nắm vững và xử lý
trong quá trình đổi mới, đi lên CNXH ở Việt Nam[5, tr.26-27]. Đến Đại hội XII (2016), Đảng nêu 9 mối quan hệ
cần được nghiên cứu làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn và bổ
sung thêm mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường.
Từ thực
tiễn 35 đổi mới đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta chỉ
rõ 10 mối quan hệ lớn cần phải giải quyết trong quá trình đổi mới đi lên CNXH:
“Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn: Quan hệ giữa ổn định, đổi mới
và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các
quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản
xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị
trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến
bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo
đảm kỷ cương xã hội”[6,
tr.119-120]. Đại hội XIII, Đảng ta điều chỉnh mối quan hệ giữa “đổi
mới, ổn định và phát triển” thành “ổn định, đổi mới và phát triển” và Đảng ta bổ
sung thêm mối quan hệ thứ mười “giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế,
bảo đảm kỷ cương xã hội”.
Mười mối
quan hệ trên là các mối quan hệ lớn, có tính bao trùm, phản ánh quy luật vận động
khách quan, biện chứng những vấn đề trọng tâm, cốt lõi của quá trình đổi mới,
phát triển trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Những mối quan hệ đó phản
ánh giữa thực tiễn và lý luận có sự gắn kết với nhau, thống nhất biện chứng với
nhau, tạo thành những vấn đề cốt lõi về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt
Nam hiện nay.
Kết luận
Gần 40
năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lý luận về CNXH và con
đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã đạt những thành tựu lý luận to lớn; góp phần
làm sáng tỏ, ngày càng hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt
Nam thời kỳ đổi mới. Những đặc trưng, phương hướng, các mối quan hệ lớn cần phải
giải quyết trong quá trình đổi mới, đi lên CNXH ở Việt Nam cần tiếp tục được
nghiên cứu, bổ sung cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh lịch sử mới.
Tài
liệu tham khảo:
[1] Đảng
Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà
Nội.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.
Sự thật, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.
Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.
Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.
Chính trị quốc
gia – Sự thật, Hà Nội.
[6]
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I,Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[7]
V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập
33, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[8] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.