Thứ Tư, ngày 31/12/2025, 09:46

Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở các tỉnh biên giới phía Bắc – cơ sở thực hiện nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên theo Dự thảo văn kiện đại hội XIV của Đảng

NGUYỄN XUÂN TRUNG - NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NAM
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) Bài viết làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trên cơ sở đó đánh giá sự vận dụng và đưa ra một số giải pháp để xây dựng khu vực biên giới phía Bắc vững mạnh về chính trị, giàu về kinh tế, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh vững chắc trong bối cảnh mới - một nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” theo quan điểm chỉ đạo của “Một số điểm mới, quan trọng trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng”.

 

Tuyên Quang còn nhiều dư địa thúc đẩy kinh tế biên mậu  (nguồn news.vnanet.vn)

Đặt vấn đề

Nắm vững đặc thù, giải quyết tốt mối quan hệ kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại đối với các tỉnh biên giới phía Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn và là trách nhiệm của các cấp, ngành, địa phương và cả hệ thống chính trị để phát huy tiềm năng, thế mạnh, phát triển vững mạnh mọi mặt đồng thời giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia. Những tư tưởng đó của Người là cơ sở lý luận quan trọng để vận dụng và phát triển trong thực tiễn trong quan điểm chỉ đạo thứ hai trong dự thảo báo cáo chính trị văn kiện Đại hội XIV: “tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”[1] trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại là vấn đề luôn được Hồ Chí Minh coi trọng. Muốn kết hợp sự phát triển đó hiệu quả, phải đánh giá đúng tiềm năng lợi thế cũng như những khó khăn của từng lĩnh vực ở mỗi vùng miền, cần có sự tụ hội các yếu tố “thiên thời, địa lợi và nhân hoà”.

Hồ Chí Minh cho rằng, kinh tế mạnh, đời sống nhân dân được cải thiện, tạo ra nguồn lực vật chất và tinh thần để xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Có nền quốc phòng vững mạnh, lực lượng an ninh tốt đáp ứng yêu cầu đấu tranh và bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Đối ngoại là mũi nhọn trong việc tạo dựng môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế. Thực hiện chính sách ngoại giao thân thiện, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, “giúp bạn là giúp mình” và xem cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.

Trong kháng chiến, Hồ Chí Minh đã nêu rõ vai trò của kinh tế với quốc phòng an ninh, đối ngoại; chiến đấu hy sinh bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trực tiếp của chiến sỹ ngoài chiến trường, đồng bào ở hậu phương tăng gia sản xuất, xây dựng, phát triển kinh tế cũng là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc: “Hậu phương thắng lợi thì chắc tiền phương thắng lợi”[6, T.4, tr.540].

Về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, Người xem việc xây dựng kinh tế có vai trò quyết định: “Thực túc” thì binh cường”, cấy nhiều thì khỏi đói; “Tăng gia sản xuất!...“Đó là khẩu hiệu của chúng ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyềntự do, độc lập”[6, T.4, tr.134-135].Kinh tế có vững mới làm cho quốc phòng - an ninh mạnh. Trong từng lĩnh vực, trong các hoạt động cũng có sự gắn kết, qua lại lẫn nhau: Công nghiệp sản xuất ra sản phẩm phục vụ dân sinh vàquốc phòng, trong chiến tranh thì nhiệm vụ sản xuất phục vụ quốc phòng được đặt lên hàng đầu. Trên mặt trận kinh tế, tuỳ từng vùng miền có những lợi thế khác nhau, cần chú trọng phát triển cơ cấu cho phù hợp. Các tỉnh miền núi chú trọng “bảo vệ rừng và trồng cây gây rừng. Trồng cây ăn quả và cây làm thuốc”[6, T.13, tr.95], phát huy lợi thế trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc góp phần phát triển kinh tế. “Phát triển nông nghiệp là việc cực kỳ quan trọng”[6, T.13, tr.375]; “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế”[6, T.13, tr.375].

Với các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Người nêu rõ: “Đồng bào phải chuẩn bị vườn không nhà trống, không để cho địch lợi dụng một người nào, một vật gì. Phải cẩn thận phòng gian. Phải giúp đỡ bộ đội. Các cơ quan phải quân sự hoá triệt để, phải luôn luôn gần gũi và giúp đỡ dân. Quân và dân tất cả mọi người phải tuỳ hoàn cảnh mà hăng hái thực hành Thi đua ái quốc”[6, T.5, tr.627].

Đối ngoại phải phục vụ đấu tranh giành độc lập, phục vụ kiến thiết đất nước. Người có nhiều bài viết tuyên bố và bày tỏ quan điểm của Việt Nam về chính sách đối ngoại: “Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”; “Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình”[6, T.4, tr.523]. Về ngoại giao, mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, Người khẳng định: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”[6, T.4, tr.147]. Hoặc: “Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”[6, T.7, tr.112].

2. Nâng cao chất lượng vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở các tỉnh biên giới phía Bắc theo nội dung dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng

2.1. Sự vận dụng tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở các tỉnh biên giới phía Bắc hiện nay

Các tỉnh biên giới phía Bắc từ Quảng Ninh, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai tới Lai Châu, Điện Biên, Sơn La... đều là vùng “phên dậu” của Tổ quốc với hàng ngàn km đường biên, có nhiều cửa khẩu với quốc gia láng giềng Trung Quốc, Lào đóng vai trò quan trọng về địa - chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái song cũng là vùng có nơi nghèo và khó khăn nhất cả nước, trình độ dân trí không đồng đều, sản xuất lạc hậu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, sản phẩm bản địa chưa cao, hoạt động tội phạm như ma tuý, gian lận thương mại, buôn bán người, lao động bất hợp pháp, truyền đạo trái phép, di cư tự do còn diễn biến phức tạp; hệ thống chính trị cơ sở xã, phường còn hạn chế.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn, các cấp uỷ, chính quyền địa phương các tỉnh biên giới phía Bắc đã thực hiện sáng tạo kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo từng giai đoạn. Thời kỳ đầu đổi mới, các địa phương chú trọng về mối quan hệ giữa 3 yếu tố: Kinh tế - quốc phòng - an ninh. Sau Đại hội VIII (1996) của Đảng gồm 4 yếu tố: Kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX (2013) nêu 5 yếu tố: Kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, nhấn mạnh phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh. Đại hội XIII của Đảng (2021) nhấn mạnh: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại”[3, T.1, tr.157], ngay sau Đại hội XIII, tinh thần đó đã đi vào cuộc sống, phù hợp với đặc trưng khu vực các tỉnh biên giới phía Bắc.

Từ Nghị quyết của Đảng, sự kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại đã được hiến định, là một nội dung của Điều 68, Chương IV của Hiến pháp năm 2013. Nhà nước ban hành hàng loạt các bộ luật, nghị định, quyết định về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại để tạo hành lang pháp lý nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với công tác quy hoạch, kế hoạch tổng thể xây dựng, phát triển các khu kinh tế - quốc phòng. Đây là những cơ sở quan trọng để cấp uỷ các cấp và chính quyền địa phương các tỉnh biên giới phía Bắc căn cứ vào điều kiện thực tiễn vận dụng thực hiện. Các tỉnh biên giới phía Bắc đã tích cực triển khai các nghị quyết, chương trình, đề án, và đạt được kết quđóng góp quan trọng vào đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, làm thay đổi hẳndiện mạo địa phương, góp phần củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Các cơ quan, bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp của các tỉnh biên giới phía Bắc thể hiện rõ vai trò tham gia xây dựng chiến lược tổng thể về kết hợp để đi vào triển khai hiệu quả. Các địa phương đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới, giải quyết được một phần việc làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số; lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư công để xây dựng kết cấu hạ tầng các xã biên giới; triển khai có hiệu quả phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”; chủ động nắm chắc tình hình “nội biên”, “ngoại biên”. Thực hiện có hiệu quả các giải pháp giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới; đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Phòng ngừa và xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống xảy ra, không để bị động bất ngờ đối với các hoạt động lợi dụng dân tộc, tôn giáo để chống phá, kích động gây mất đoàn kết trong nhân dân; lôi kéo kích động di cư tự do, xuất nhập cảnh trái phép hàng lậu, các chất ma tuý qua biên giới; tăng cường hợp tác với các lực lượng chức năng nước bạn trong thực hiện nhiệm vụ giữ vững chủ quyền biên giới. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng, hợp tác và kết nghĩa giữa các địa phương ngày càng chặt chẽ.

Bên cạnh thành tựu, trong vận dụng về kết hợp phát triển còn có hạn chế như: “Việc kết hợp kinh tế, văn hoá, xã hội với quốc phòng, an ninh ở một số địa phương, đơn vị thiếu hiệu quả, còn biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác, nặng về lợi ích kinh tế đơn thuần, trước mắt”[3, T.1, tr.88]. Cơ chế hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội với quốc phòng an ninh và đối ngoại thiếu chặt chẽ, vận hành còn lúng túng. Việc tổ chức triển khai ở một số ngành, lĩnh vực, địa phương còn chưa chủ động, tích cực, thiếu tính đồng bộ; cơ chế phối hợp chưa rõ ràng, chặt chẽ, thiếu thường xuyên giữa các bộ, ban, ngành, địa phương trong lập kế hoạch, dự án, phê duyệt, ký kết đầu tư. Một số quy hoạch, kế hoạch dự án kinh tế, khu kinh tế, khu công nghiệp được bố trí ở các địa bàn không bảo đảm yêu cầu của chiến lược quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia. Có nơi còn nhận thức, thực hiện chưa đúng hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan chức năng và cơ quan cấp trên trong kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng an ninh và đối ngoại.

Nguyên nhân của những hạn chế trên do xuất phát từ việc cán bộ, công chức, viên chức một số cơ quan Trung ương và các tỉnh biên giới phía Bắc chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; chưa phát huy được tiềm năng, lợi thế của địa phương, chưa thực hiện tốt sự liên kết giữa các địa phương, không nắm vững các yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng một số dự án đầu tư. Ngoài ra, do lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của ngành, địa phương mà cơ quan hay công chức chủ trì xây dựng, thẩm định, phê duyệt dự án và tổ chức thực hiện đã bỏ qua tính đặc thù khu vực phía Bắc, các nguy cơ tác động tiêu cực của dự án đối với kinh tế, quốc phòng, an ninh. Cơ quan quản lý Nhà nước ở nhiều địa phương chỉ tập trung nỗ lực để phát triển kinh tế địa phương, tăng nguồn thu mà chưa thật sự chú trọng đến quốc phòng, an ninh. Sự kết hợp giữa các lĩnh vực chưa đi vào chiều sâu, bộc lộ sự bất cập về cơ chế vận hành, nội dung, phương thức kết hợp.

2.2. Một số giải pháp

Để nâng cao chất lượng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở các tỉnh biên giới phía Bắc theo nội dung Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng cần thực hiện các giải pháp:

Một là, chú trọng tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm cho cán bộ và nhân dân về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở các tỉnh biên giới phía Bắc. Cụ thể hoá về kết hợp phát triển các lĩnh vực, khắc phục tình trạng coi trọng phát triển kinh tế - xã hội, xem nhẹ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Hai là, nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống chính trị các cấp. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh với các thiết chế đầy đủ, cơ cấu hợp lý và cơ chế hoạt động hiệu quả, phù hợp với điều kiện đặc thù. Tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, gắn kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đáp ứng yêu cầu mới. Thực hiện tốt chính sách xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là vùng sâu, vùng xa, địa bàn trọng điểm. Coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ và sự phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở mỗi địa phương, tạo thế trận phòng thủ vững chắc để tập hợp và sử dụng có hiệu quả sức mạnh lực lượng tại chỗ phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Ba là, củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh, trật tự, giữ vững chủ quyền biên giới; bảo đảm cuộc sống ấm no cho người dân. Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn thể đồng bào miền núi phải nâng cao tinh thần cảnh giác, giữ gìn trật tự trị an, luôn luôn sẵn sàng tiêu diệt bọn biệt kích, ngăn chặn bọn phản cách mạng âm mưu phá hoại [6, T.14, tr.263], vận dụng trong tình hình mới để đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, chống phá; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người. Ưu tiên xây dựng, phát triển vùng kinh tế trọng điểm, địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo. Giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia trong các mối quan hệ quốc tế, bảo đảm cho kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển với tăng cường mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, chú trọng hợp tác kinh tế biển với các nước có thế mạnh, tạo đan xen lợi ích. Tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài hợp tác làm ăn lâu dài; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, gắn phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Hợp tác về quốc phòng, an ninh tạo thời cơ thuận lợi cho hợp tác quốc tế ổn định, bền vững, đi vào chiều sâu, tạo điều kiện cho hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, thu hút nguồn lực, nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ tiên tiến. Nâng cao hiệu quả kết hợp phát triển các lĩnh vực này ngay từ trong quy hoạch, kế hoạch tổng thể đến triển khai thực hiện từng ngành, từng lĩnh vực, địa phương: Phát triển vùng cao biên giới, kinh tế cửa khẩu quốc tế. Quảng Ninh trở thành cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm, trung tâm phát triển năng động, toàn diện, tỉnh kiểu mẫu giàu đẹp, văn minh, hiện đại, cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc; Sơn La trở thành tỉnh trọng điểm nông nghiệp quốc gia thuộc nhóm dẫn đầu của vùng Tây Bắc và miền núi phía Bắc. Điện Biên trở thành tỉnh khá; Tuyên Quang, Cao Bằng, Lào Cai phấn đấu có nền kinh tế phát triển nhanh, năng động, xanh, bền vững, toàn diện. Gắn kết hài hoà giữa tính tổng thể với xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ, các công trình dân sinh, trọng điểm phải luôn bảo đảm thực hiện mục tiêu kép vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vừa bảo đảm quốc phòng, an ninh khi cần thiết. Xây dựng, củng cố đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo.

Các tỉnh biên giới phía Bắc phát huy thế mạnh của mình, triển khai hoạt động đối ngoại trên 3 trụ cột: Đối ngoại Đảng, hợp tác hữu nghị chính quyền và đối ngoại nhân dân. Duy trì, coi trọng quan hệ đối tác, địa phương truyền thống như tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc), Phong Sa Lỳ, Hủa Phăn, Luông Pha Băng, Bô Ly Khăm Xay, Khăm Muộn (Lào) và một số nước khác. Mở rộng quan hệ hợp tác cấp địa phương với các quốc gia và vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, các thiết chế tài chính trên thế giới. Tranh thủ nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá thể thao, du lịch, giữ vững quốc phòng, an ninh và chủ quyền biên giới quốc gia.

Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại là cơ sở lý luận định hướng quan trọng đối với các tỉnh biên giới phía Bắc. Việc kết hợp giữa các lĩnh vực để phát triển trong thực tiễn đổi mới đã được các tỉnh vận dụng sáng tạo, đưa ra giải pháp giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Phát huy thành tựu đạt được và khắc phục hạn chế trong nâng cao hiệu quả kết hợp này sẽ tiếp tục góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; giữ vững quốc phòng, an ninh; đối ngoại mở rộng, ngày càng khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực hiện tốt những nội dung này là thiết thực triển khai trên thực tế những nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” theo tinh thần dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh và phức tạp hiện nay.

 

Tài liệu tham khảo:

[1] Báo Điện tử Chính phủ (2025), Một số điểm mới, quan trọng trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, https://chinhphu.vn

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[4] Phan Văn Giang (2021), Định hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng vào xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới, https://bienphongvietnam.gov.vn

[5] Lương Thanh Hân (2024), Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong bối cảnh mới, https://tapchicongsan,org.vn

[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

Đọc thêm

Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm với khu vực và thế giới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tác giả: TRIỆU QUANG MINH

(GDLL) Bài viết chỉ ra cơ sở xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; những thách thức trong quá trình hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân hiện đại ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại theo nội dung văn kiện Đại hội XIV cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV - bước phát triển về tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên mới

Tác giả: PHẠM THỊ TRỌNG HIẾU

(GDLL) Sau 40 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, hình thành hệ thống “Lý luận về đường lối đổi mới”. Bài viết phân tích tính tất yếu, nội dung cốt lõi của lý luận về đường lối đổi mới và vai trò, ý nghĩa của việc bổ sung thành tố lý luận này vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới - bước phát triển tất yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội và định hướng chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VIỆT HÀ

(GDLL) Bài viết phân tích những điểm mới trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam về “hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Từ đó góp phần làm rõ Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là bước tiến quan trọng về lý luận của Đảng, khẳng định vị trí trung tâm của thể chế đối với các đột phá phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đẩy mạnh đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc tổ quốc trước mọi tình huống nhất là chú trọng công nghệ cao trong Dự thảo VĂn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VĂN ĐỨC

(GDLL) Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại trong đó chú trọng công nghệ cao là nhiệm vụ trọng yếu để bảo vệ Tổ quốc...

Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGUYỄN TIẾN SÁNG - ĐẶNG THỊ TỐ TÂM

(GDLL) Kinh tế tư nhân hiện nay đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trên cơ sở nội dung Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết phân tích vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đề xuất giải pháp phát huy vai trò động lực của khu vực này đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số, gắn với yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.