
Tuyên Quang còn nhiều dư địa thúc đẩy
kinh tế biên mậu (nguồn news.vnanet.vn)
Đặt vấn đề
Nắm vững đặc thù, giải quyết tốt mối quan hệ
kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh và
đối ngoại đối với các tỉnh biên giới phía Bắc theo tư tưởng Hồ Chí
Minh ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn và là trách nhiệm của
các cấp, ngành, địa phương và cả hệ thống chính trị để phát huy tiềm
năng, thế mạnh, phát triển vững mạnh mọi mặt đồng thời giữ
vững chủ quyền biên giới quốc gia. Những tư tưởng đó của Người là cơ sở lý luận
quan trọng để vận dụng và phát triển trong thực tiễn trong quan điểm chỉ đạo thứ
hai trong dự thảo báo
cáo chính trị văn kiện Đại hội
XIV: “tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là
trọng yếu, thường xuyên”[1] trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh
tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại là vấn đề luôn được Hồ Chí Minh coi trọng.
Muốn kết hợp sự phát triển đó hiệu quả, phải đánh giá đúng tiềm năng lợi thế cũng như những khó khăn của từng
lĩnh vực ở mỗi vùng miền, cần có sự tụ hội các yếu tố “thiên thời, địa lợi và
nhân hoà”.
Hồ Chí Minh cho rằng, kinh tế mạnh, đời sống nhân dân
được cải thiện,
tạo ra nguồn lực vật chất và tinh thần để xây dựng quân đội, củng cố quốc
phòng. Có nền quốc phòng vững mạnh, lực lượng an ninh tốt đáp ứng yêu cầu đấu
tranh và bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Đối ngoại là mũi nhọn
trong việc tạo dựng môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế. Thực hiện
chính sách ngoại giao thân thiện, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế
giới, “giúp bạn là giúp mình” và xem cách mạng Việt Nam
là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Trong kháng chiến, Hồ Chí Minh đã nêu rõ vai trò của kinh tế với quốc phòng an ninh, đối ngoại; chiến đấu hy sinh bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trực
tiếp của chiến sỹ ngoài chiến trường, đồng bào ở hậu phương tăng gia sản xuất,
xây dựng, phát triển kinh tế cũng là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc: “Hậu phương thắng lợi thì chắc tiền phương thắng lợi”[6, T.4, tr.540].
Về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, Người xem
việc xây dựng kinh tế có vai trò quyết định: “Thực túc” thì “binh cường”, cấy nhiều thì khỏi đói; “Tăng gia sản xuất!...”“Đó là khẩu hiệu của chúng ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng
ta để giữ vững quyềntự do, độc lập”[6, T.4, tr.134-135].Kinh tế có vững mới làm cho quốc phòng - an ninh mạnh. Trong từng lĩnh vực, trong các hoạt
động cũng có sự gắn kết, qua lại lẫn nhau: Công nghiệp sản xuất ra sản phẩm phục vụ
dân sinh vàquốc phòng, trong chiến tranh thì nhiệm
vụ sản xuất phục vụ quốc phòng được đặt lên hàng đầu. Trên mặt trận
kinh tế, tuỳ từng vùng miền có những lợi thế khác nhau, cần chú trọng phát triển
cơ cấu cho phù hợp. Các tỉnh miền núi chú trọng “bảo vệ rừng và trồng cây gây rừng.
Trồng cây ăn quả và cây làm thuốc”[6, T.13, tr.95], phát huy lợi
thế trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc góp phần phát triển kinh tế. “Phát triển nông nghiệp là việc cực kỳ quan trọng”[6, T.13, tr.375]; “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế”[6, T.13, tr.375].
Với các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Người
nêu rõ: “Đồng bào phải chuẩn bị vườn không nhà trống, không để cho địch lợi dụng
một người nào, một vật gì. Phải cẩn thận phòng gian. Phải giúp đỡ bộ đội. Các
cơ quan phải quân sự hoá triệt để, phải luôn luôn gần gũi và giúp đỡ dân. Quân
và dân tất cả mọi người phải tuỳ hoàn cảnh mà hăng hái thực hành Thi đua ái quốc”[6, T.5, tr.627].
Đối ngoại phải phục vụ đấu tranh giành độc lập, phục vụ kiến thiết đất nước.
Người có nhiều bài viết tuyên bố và bày tỏ
quan điểm của Việt Nam về chính sách đối ngoại: “Việt Nam sẵn sàng thực
thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”; “Nước Việt Nam dành sự tiếp
nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất
cả các ngành kỹ nghệ của mình”[6, T.4, tr.523]. Về ngoại giao, mối quan hệ
giữa nội lực và ngoại lực, Người khẳng định: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh,
ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng.
Chiêng có to tiếng mới lớn”[6, T.4, tr.147]. Hoặc: “Ta có mạnh thì họ mới
chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ
ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”[6, T.7, tr.112].
2. Nâng cao chất lượng vận dụng
và
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về kết
hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở các tỉnh
biên giới phía Bắc theo nội dung dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng
2.1. Sự vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối
ngoại ở các tỉnh biên giới phía Bắc hiện nay
Các tỉnh biên giới phía Bắc từ Quảng Ninh, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai tới
Lai Châu, Điện Biên, Sơn La... đều là vùng “phên dậu” của Tổ
quốc với hàng ngàn km đường biên, có nhiều cửa khẩu với quốc gia láng giềng
Trung Quốc, Lào đóng vai trò quan trọng về địa - chính trị, kinh tế - xã hội,
an ninh quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái song cũng là vùng có nơi nghèo
và khó khăn nhất cả nước, trình độ dân trí không đồng đều, sản xuất lạc hậu,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, sản phẩm bản địa chưa cao, hoạt động tội phạm
như ma tuý, gian lận thương mại, buôn bán người, lao động bất hợp pháp, truyền
đạo trái phép, di cư tự do còn diễn biến phức tạp; hệ thống chính trị cơ sở xã,
phường còn hạn chế.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào thực
tiễn, các cấp uỷ, chính quyền địa phương các tỉnh biên giới phía Bắc đã thực hiện
sáng tạo kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại
theo từng giai đoạn. Thời kỳ đầu đổi mới, các địa phương chú trọng về mối quan
hệ giữa 3 yếu tố: Kinh tế - quốc phòng - an ninh. Sau Đại hội VIII (1996) của Đảng
gồm 4 yếu tố: Kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Nghị quyết Trung ương 8
khoá IX (2013) nêu 5 yếu tố: Kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại,
nhấn mạnh phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối
ngoại; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh. Đại hội XIII của Đảng
(2021) nhấn mạnh: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả
giữa kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc
phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại”[3, T.1, tr.157], ngay sau Đại hội XIII, tinh thần đó đã đi vào cuộc sống, phù hợp
với đặc trưng khu vực các tỉnh biên giới phía Bắc.
Từ Nghị quyết của Đảng, sự kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc
phòng, an ninh, đối ngoại đã được hiến định, là một nội dung của Điều 68, Chương IV của Hiến pháp năm 2013.
Nhà nước ban hành hàng loạt các bộ luật, nghị định, quyết định về kết hợp phát
triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại để tạo hành lang pháp
lý nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với công tác quy hoạch, kế
hoạch tổng thể xây dựng, phát triển các khu kinh tế - quốc phòng. Đây là những
cơ sở quan trọng để cấp uỷ các cấp và chính quyền địa phương các tỉnh biên giới
phía Bắc căn cứ vào điều kiện thực tiễn vận
dụng thực hiện. Các tỉnh biên giới phía Bắc đã tích cực triển khai
các nghị quyết, chương trình, đề án, và đạt được kết quả đóng góp quan trọng vào đổi
mới, phát triển kinh tế - xã hội, làm thay đổi hẳndiện mạo địa phương, góp phần củng cố, tăng
cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Các cơ quan, bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp của các tỉnh biên giới
phía Bắc thể hiện rõ vai trò tham gia xây dựng chiến lược tổng thể về kết hợp để
đi vào triển khai hiệu quả. Các địa phương đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn
mới, giải quyết được một phần việc làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số; lồng
ghép có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư công để xây dựng kết cấu hạ tầng các xã
biên giới; triển khai có hiệu quả phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”; chủ động nắm chắc
tình hình “nội biên”, “ngoại biên”. Thực hiện có hiệu quả các giải pháp giữ gìn
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới; đấu tranh làm thất
bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Phòng ngừa và xử lý kịp
thời, hiệu quả các tình huống xảy ra, không để bị động bất ngờ đối với các hoạt
động lợi dụng dân tộc, tôn giáo để chống phá, kích động gây mất đoàn kết trong
nhân dân; lôi kéo kích động di cư tự do, xuất nhập cảnh trái phép hàng lậu, các
chất ma tuý qua biên giới; tăng cường hợp tác với các lực lượng chức năng nước
bạn trong thực hiện nhiệm vụ giữ vững chủ quyền biên giới. Quan hệ đối ngoại, hội
nhập quốc tế ngày một sâu rộng, hợp tác và kết nghĩa giữa các địa phương ngày
càng chặt chẽ.
Bên cạnh thành tựu, trong vận dụng về kết hợp phát triển còn có hạn chế
như: “Việc kết hợp kinh tế, văn hoá, xã hội với quốc phòng, an ninh ở một số địa
phương, đơn vị thiếu hiệu quả, còn biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác, nặng về lợi
ích kinh tế đơn thuần, trước mắt”[3, T.1, tr.88]. Cơ chế hoạt động lãnh đạo,
quản lý, điều hành giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội với quốc phòng
an ninh và đối ngoại thiếu chặt chẽ, vận hành còn lúng túng. Việc tổ chức triển
khai ở một số ngành, lĩnh vực, địa phương còn chưa chủ động, tích cực, thiếu
tính đồng bộ; cơ chế phối hợp chưa rõ ràng, chặt chẽ, thiếu thường xuyên giữa
các bộ, ban, ngành, địa phương trong lập kế hoạch, dự án, phê duyệt, ký kết đầu
tư. Một số quy hoạch, kế hoạch dự án kinh tế, khu kinh tế, khu công nghiệp được
bố trí ở các địa bàn không bảo đảm yêu cầu của chiến lược quốc phòng, an ninh
và lợi ích quốc gia. Có nơi còn nhận thức, thực hiện chưa đúng hướng dẫn, chỉ đạo
của cơ quan chức năng và cơ quan cấp trên trong kết hợp phát triển kinh tế - xã
hội với quốc phòng an ninh và đối ngoại.
Nguyên nhân của những hạn chế trên do xuất phát từ việc
cán bộ, công chức, viên chức một số cơ quan Trung ương và các tỉnh biên giới
phía Bắc chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc kết hợp phát triển kinh
tế - xã hội với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; chưa phát huy được tiềm
năng, lợi thế của địa phương, chưa thực hiện tốt sự liên kết giữa các địa
phương, không nắm vững các yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng một
số dự án đầu tư. Ngoài ra, do lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của
ngành, địa phương mà cơ quan hay công chức chủ trì xây dựng, thẩm định, phê duyệt
dự án và tổ chức thực hiện đã bỏ qua tính đặc thù khu vực phía Bắc, các nguy cơ
tác động tiêu cực của dự án đối với kinh tế, quốc phòng, an ninh. Cơ quan quản
lý Nhà nước ở nhiều địa phương chỉ tập trung nỗ lực để phát triển kinh tế địa phương, tăng nguồn thu mà chưa thật sự chú trọng đến quốc
phòng, an ninh. Sự kết hợp giữa các lĩnh vực chưa đi vào chiều sâu, bộc lộ sự bất cập về cơ chế vận hành, nội dung,
phương thức kết hợp.
2.2. Một số giải pháp
Để nâng cao chất lượng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an
ninh, đối ngoại ở các tỉnh biên giới phía Bắc theo nội dung Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng cần thực hiện
các giải pháp:
Một là, chú trọng tuyên truyền nâng cao nhận
thức, ý thức, trách nhiệm cho cán bộ và nhân dân về kết hợp phát triển kinh tế
- xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở các tỉnh biên giới phía
Bắc. Cụ thể hoá về kết
hợp phát triển các lĩnh vực, khắc phục tình trạng coi trọng phát triển kinh tế
- xã hội, xem nhẹ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Hai là, nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống chính trị
các cấp. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh với các thiết chế đầy đủ, cơ cấu hợp
lý và cơ chế hoạt động hiệu quả, phù hợp với điều kiện đặc thù. Tập trung lãnh
đạo phát triển kinh tế - xã hội, gắn kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh,
đối ngoại, đáp ứng yêu cầu mới. Thực hiện tốt chính sách xã hội đối với đồng
bào dân tộc thiểu số, nhất là vùng sâu, vùng
xa, địa bàn trọng điểm. Coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ và sự phối hợp hoạt
động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở mỗi địa phương, tạo thế trận
phòng thủ vững chắc để tập hợp và sử dụng có hiệu quả sức mạnh lực lượng tại chỗ
phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Ba là, củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh, trật tự, giữ vững
chủ quyền biên giới; bảo đảm cuộc sống ấm no cho người dân. Thực hiện lời căn dặn của
Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn thể đồng bào miền núi phải nâng cao tinh thần cảnh
giác, giữ gìn trật tự trị an, luôn luôn sẵn sàng tiêu diệt bọn biệt kích, ngăn
chặn bọn phản cách mạng âm mưu phá hoại” [6, T.14, tr.263], vận dụng trong tình hình mới để đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực
thù địch, chống phá; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an
ninh con người. Ưu tiên xây dựng, phát triển vùng kinh tế trọng điểm, địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo.
Giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia trong các mối quan hệ quốc tế, bảo
đảm cho kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển với tăng cường mở rộng hợp tác kinh
tế quốc tế, chú trọng hợp tác kinh tế biển với các nước có thế mạnh, tạo đan
xen lợi ích. Tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài hợp tác làm ăn lâu
dài; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, gắn phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Hợp tác về quốc phòng, an ninh tạo thời cơ thuận lợi cho hợp tác quốc tế ổn
định, bền vững, đi vào chiều sâu, tạo điều kiện cho hợp tác phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, đối ngoại, thu hút nguồn lực, nhân lực chất lượng cao, khoa học,
công nghệ tiên tiến. Nâng cao hiệu quả kết hợp phát triển các lĩnh vực này ngay từ trong quy hoạch,
kế hoạch tổng thể đến triển khai thực hiện từng ngành, từng lĩnh vực, địa
phương: Phát triển vùng cao biên giới, kinh tế cửa khẩu quốc tế. Quảng Ninh trở
thành cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm, trung tâm phát triển năng động, toàn
diện, tỉnh kiểu mẫu giàu đẹp, văn minh, hiện đại, cực tăng trưởng của khu vực
phía Bắc; Sơn La trở thành tỉnh trọng điểm nông nghiệp quốc gia thuộc nhóm dẫn
đầu của vùng Tây Bắc và miền núi phía Bắc. Điện Biên trở thành tỉnh khá; Tuyên
Quang, Cao Bằng, Lào Cai phấn đấu có nền kinh tế phát triển nhanh, năng động,
xanh, bền vững, toàn diện. Gắn kết hài hoà giữa tính tổng thể với xây dựng thế
trận quân sự trong khu vực phòng thủ, các công trình dân sinh, trọng điểm phải
luôn bảo đảm thực hiện mục tiêu kép vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vừa
bảo đảm quốc phòng, an ninh khi cần thiết. Xây dựng, củng cố đường biên giới trên bộ hòa bình,
hữu nghị, hợp tác và phát triển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực
lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo.
Các tỉnh biên giới phía Bắc phát huy thế mạnh của mình, triển khai hoạt động
đối ngoại trên 3 trụ cột: Đối ngoại Đảng, hợp tác hữu nghị chính quyền và đối
ngoại nhân dân. Duy trì, coi trọng quan hệ đối tác, địa phương truyền thống như
tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc), Phong Sa Lỳ, Hủa Phăn, Luông Pha Băng, Bô
Ly Khăm Xay, Khăm Muộn (Lào) và một số nước khác. Mở rộng quan hệ hợp tác cấp địa
phương với các quốc gia và vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, các thiết chế
tài chính trên thế giới. Tranh thủ nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội,
văn hoá thể thao, du lịch, giữ vững quốc phòng, an ninh và chủ quyền biên giới
quốc gia.
Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp phát triển kinh tế
- xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại là cơ sở lý luận định hướng quan trọng
đối với các tỉnh biên giới phía Bắc. Việc kết hợp giữa các lĩnh vực để phát triển trong thực tiễn đổi mới đã được các tỉnh vận dụng sáng tạo, đưa ra giải pháp giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lớn trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội. Phát huy thành tựu đạt được và khắc phục hạn chế trong nâng cao hiệu quả kết hợp này sẽ tiếp tục góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; giữ vững quốc phòng, an ninh; đối ngoại mở rộng, ngày càng khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực hiện tốt những nội dung
này là thiết thực triển khai trên thực tế những nhiệm vụ “trọng yếu, thường
xuyên” theo tinh thần dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh và phức
tạp hiện nay.
Tài
liệu tham khảo:
[1] Báo Điện tử Chính phủ (2025), Một số điểm mới,
quan trọng trong dự thảo các văn kiện trình Đại
hội XIV của Đảng, https://chinhphu.vn
[2] Đảng Cộng
sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập,
tập 21, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng
sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II,
Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[4] Phan Văn
Giang (2021), Định hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng vào
xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới, https://bienphongvietnam.gov.vn
[5] Lương Thanh
Hân (2024), Kết hợp phát triển kinh tế
- xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong bối cảnh mới, https://tapchicongsan,org.vn
[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập,
Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.