
Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025
(nguồn news.vnanet.vn)
Đặt vấn đề
Trong
bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng
nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện bước đột
phá về tư duy khi Nghị quyết số 68-NQ/TW khoá XIII và Dự thảo Văn kiện Đại hội
XIV đều khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất
của nền kinh tế. Kinh tế tư nhân Việt Nam đã không ngừng mở rộng quy mô, đóng
góp lớn vào GDP, việc làm và ngân sách, song vẫn đối mặt với nhiều hạn chế về
thể chế, năng suất, năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn
cầu. Việc khơi dậy và phát huy tiềm năng to lớn của khu vực này trở thành yêu cầu
cấp bách để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và khát vọng phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
1.
Cơ sở lý luận và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của kinh tế tư
nhân trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.1. Cơ sở lý luận
Trong nền kinh tế
thị trường hiện đại, khu vực kinh tế tư nhân luôn được xem là một trong những
trụ cột quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Về mặt lý luận, kinh tế
tư nhân phản ánh bản chất năng động và hiệu quả của cơ chế thị trường, nơi các
chủ thể kinh tế được tự do lựa chọn hoạt động sản xuất - kinh doanh theo tín hiệu
cung - cầu. Sự tồn tại và phát triển của khu vực tư nhân là tất yếu khách quan,
vì đó là khu vực trực tiếp tạo ra của cải vật chất, việc làm và đổi mới công
nghệ. V.I.Lênin từng nhấn mạnh: “Hoặc giả tìm
cách ngăn cấm, triệt để để chặn đứng mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân,
không phải là quốc doanh, tức là của thương mại, tức là của chủ nghĩa tư bản, một
sự phát triển không thể tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ. Chính
sách ấy là dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó”[6, tr.267]. Điều đó cho thấy, việc thừa nhận và phát triển
khu vực kinh tế tư nhân không trái với định hướng xã hội chủ nghĩa, mà là điều
kiện để nền kinh tế phát triển năng động và bền vững.
Từ góc độ lý thuyết
phát triển hiện đại, tăng trưởng kinh tế bền vững chỉ có thể đạt được khi nguồn
lực xã hội được huy động tối đa và phân bổ hiệu quả, trong đó khu vực tư nhân
đóng vai trò quyết định. Các mô hình tăng trưởng của Hàn Quốc, Nhật Bản,
Singapore hay Trung Quốc đều chứng minh rằng khu vực tư nhân, khi được trao quyền
và tạo điều kiện thuận lợi, sẽ trở thành động lực trực tiếp của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và đổi mới sáng tạo[4]. Kinh tế tư nhân
không chỉ mang lại tăng trưởng nhanh, mà còn thúc đẩy cạnh tranh, lan tỏa công
nghệ và hình thành hệ sinh thái sáng tạo - những yếu tố cốt lõi bảo đảm tăng
trưởng dài hạn. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng phát triển bền vững chỉ
có thể đạt được khi các quyết định quan trọng của nền kinh tế - gồm sản xuất
cái gì, sản xuất bao nhiêu và sản xuất cho ai - chủ yếu do khu vực kinh tế tư
nhân đảm nhận[7].
Trong điều kiện Việt
Nam xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển
của kinh tế tư nhân là yêu cầu tất yếu và phù hợp quy luật khách quan. Khu vực
này cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cấu thành ba
trụ cột chính của nền kinh tế nhiều thành phần. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo, FDI là kênh hội nhập và lan tỏa công nghệ, còn kinh tế tư nhân
là động lực trực tiếp, mạnh mẽ nhất của tăng trưởng.
1.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhận thức của Đảng
về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mạnh mẽ và ngày
càng sâu sắc qua các kỳ Đại hội. Nếu như tại Đại hội IX (2001), Đảng xác định
“kinh tế tư nhân có vị trí quan trọng lâu dài”, thì đến Đại hội X (2006) đã nhấn
mạnh “kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế” và Đại hội
XI (2011) coi “kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế”. Bước
ngoặt quan trọng được đánh dấu bằng Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2017, khi Đảng lần
đầu tiên xác định rõ: “Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững,
thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa”[1]. Sự thay đổi nhận thức tiếp tục được thể hiện rõ nét hơn ở Nghị quyết số
68-NQ/TW năm 2025, trong đó Đảng khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực
quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền
kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực
chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh
vượng[2]. Đây là bước tiến nhận thức mang tính chiến lược, thể hiện sự nhất quán
của Đảng trong việc phát huy nội lực quốc gia và tạo điều kiện để khu vực tư
nhân trở thành đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu
tăng trưởng hai con số.
Theo
định hướng của Nghị quyết 68, mục tiêu đến năm 2030, khu vực tư nhân đóng góp
60-65% GDP, 35-40% ngân sách nhà nước, 84-85% việc làm xã hội, có 70 doanh nghiệp
có vốn hóa trên 1 tỷ USD và ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân tham gia chuỗi giá
trị toàn cầu. Đồng thời, Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, bảo đảm môi
trường đầu tư - kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng, khuyến khích đổi
mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh, gắn tăng trưởng với công bằng xã
hội và phát triển bền vững.
Tư tưởng chỉ đạo của
Tổng Bí thư Tô Lâm (2025) đã nhấn mạnh rõ định hướng này: “Một nền kinh tế cường
thịnh không thể chỉ dựa vào Nhà nước hay đầu tư nước ngoài, mà phải dựa vào nội
lực - khu vực tư nhân vững mạnh, tiên phong trong đổi mới và phát triển”[5]. Như vậy, phát triển
khu vực kinh tế tư nhân không chỉ là giải pháp kinh tế thuần túy, mà còn là
chính sách chiến lược để khơi thông nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo
và bảo đảm sự phát triển tự chủ, bền vững của đất nước.
Tiếp
nối tinh thần đó, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIVcủa Đảng tiếp tục khẳng định rõ hơn rằng kinh tế tư nhân là một
trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững của
nền kinh tế Việt Nam, là lực lượng nòng cốt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Cùng với đó, cần “đổi mới cơ chế, chính sách thúc đẩy phát
triển kinh tế tư nhân, đặc biệt từ năm 2025 khẳng định phát triển kinh tế tư
nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Bước đầu hình thành một số
tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh
tranh trên thị trường quốc tế”[3].
2.
Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay
2.1. Kết quả đạt được
Trong gần bốn mươi
năm thực hiện công cuộc đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã phát triển
mạnh mẽ cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng, trở thành một trong những động lực
quan trọng của tăng trưởng kinh tế quốc dân. Từ chỗ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ
trong những năm đầu đổi mới, đến nay khu vực này đã vươn lên giữ vai trò chủ lực
trong nhiều lĩnh vực kinh tế, góp phần to lớn vào phát triển đất nước. Khu vực
tư nhân hiện đóng góp khoảng 43% GDP, chiếm 53,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội,
tạo việc làm cho 82% lực lượng lao động và đóng góp trên 42% tổng thu ngân sách
nhà nước. Tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực tư nhân đạt khoảng 6,3%/năm,
cao hơn mức tăng trưởng bình quân chung của nền kinh tế[8].
Nếu trước đây phần
lớn doanh nghiệp tư nhân chỉ hoạt động trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ
nhỏ lẻ thì nay đã có sự dịch chuyển mạnh sang các ngành có giá trị gia tăng cao
hơn như công nghiệp chế biến - chế tạo, logistics, hàng không, công nghệ thông
tin, bất động sản, tài chính, năng lượng tái tạo và nông nghiệp công nghệ cao. Nhiều tập đoàn tư nhân lớn đã hình thành và khẳng định
vị thế dẫn dắt trên thị trường như Vingroup, Masan, Hòa Phát, FPT, Vietjet, Thế
Giới Di Động, DOJI, Sun Group, BRG... Các doanh nghiệp này không chỉ đóng góp lớn
về quy mô vốn, doanh thu và việc làm mà còn tiên phong trong đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số, phát triển xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong bảng xếp hạng VNR500, doanh nghiệp tư nhân chiếm hơn 60%, trong đó 315
doanh nghiệp có quy mô lớn và chiếm gần 20% tổng doanh thu toàn khu vực doanh
nghiệp Việt Nam[9].
Cùng với sự lớn mạnh
về quy mô, khu vực tư nhân còn có đóng góp ngày càng quan trọng trong hình
thành các động lực tăng trưởng mới. Các doanh nghiệp tư nhân là lực lượng chủ yếu
đầu tư vào những ngành kinh tế của tương lai như kinh tế số, công nghệ cao,
thương mại điện tử, logistics và khởi nghiệp sáng tạo. Khoảng 70% các dự án đổi
mới sáng tạo và khởi nghiệp hiện nay thuộc khu vực tư nhân. Nhiều doanh nghiệp
lớn đã xây dựng các trung tâm nghiên cứu - phát triển, đầu tư vào trí tuệ nhân
tạo, dữ liệu lớn, sản xuất thông minh và phát triển sản phẩm “Make in Vietnam”.
2.2. Một số hạn chế
Thứ
nhất, phần lớn doanh
nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp,
năng suất lao động thấp, năng lực tài chính yếu và thiếu khả năng tích lũy để đầu
tư mở rộng. Theo đánh giá của các
chuyên gia, năng suất lao động của khu vực tư nhân chỉ bằng khoảng 37-40% khu vực
FDI.
Thứ
hai, môi trường kinh
doanh và thể chế kinh tế tuy đã cải thiện nhưng vẫn tồn tại nhiều rào cản; thủ
tục hành chính còn phức tạp, tiếp cận đất đai, tín dụng, thông tin và thị trường
còn hạn chế, chưa thật sự tạo được bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Thứ ba,
năng lực quản trị, khả năng đổi mới sáng tạo của phần lớn doanh nghiệp tư nhân
vẫn còn yếu. Nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư cho nghiên cứu - phát triển,
thiếu chiến lược dài hạn và còn phụ thuộc vào mô hình kinh doanh truyền thống.
Mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước, giữa doanh nghiệp tư nhân với
khu vực FDI và doanh nghiệp nhà nước còn lỏng lẻo, chưa hình thành được chuỗi
giá trị nội địa bền vững.
Thứ
tư, chính sách hỗ trợ phát
triển kinh tế tư nhân vẫn còn thiếu đồng bộ. Một số quy định pháp luật còn chồng
chéo, chưa theo kịp thực tiễn; cơ chế ưu đãi, thuế, đất đai, khuyến khích đổi mới
sáng tạo chưa ổn định và còn khó tiếp cận. Việc triển khai các chính sách phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, khởi nghiệp sáng tạo còn mang tính hình thức,
thiếu sự kết nối hiệu quả giữa các bộ, ngành, địa phương.
3.
Một số giải pháp phát huy vai trò của kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng
nhất của nền kinh tế Việt Nam
Một là, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển
kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW khoá XIII và Dự thảo Văn
kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đây là giải pháp mang tính nền tảng, bởi thể chế kinh tế là yếu tố quyết định để
giải phóng và huy động nguồn lực xã hội. Nhà nước cần rà soát, điều chỉnh các
quy định pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, tín dụng, đấu thầu, cạnh
tranh... theo hướng đảm bảo quyền tự do kinh doanh, bình đẳng thực chất giữa
các thành phần kinh tế. Cần cụ thể hóa quan điểm “kinh tế tư nhân là động lực
quan trọng nhất” thành các cơ chế ưu tiên phát triển doanh nghiệp tư nhân trong
những lĩnh vực có tiềm năng tạo đột phá năng suất và đổi mới công nghệ, đồng thời
khắc phục triệt để các rào cản hành chính, chi phí không chính thức, tình trạng
phân biệt đối xử trong tiếp cận nguồn lực.
Hai là, khơi thông và phát huy các nguồn lực cho khu vực tư
nhân, nhất là về vốn, đất đai, công nghệ và nhân lực. Đây là điều kiện trực tiếp để khu vực tư nhân mở
rộng quy mô, nâng cao năng suất và đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng. Nhà nước
cần phát triển thị trường vốn đa dạng và hiệu quả, trong đó đẩy mạnh vai trò của
thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo nhằm
giúp doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận được
nguồn vốn dài hạn, chi phí thấp. Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế minh bạch,
linh hoạt trong sử dụng đất đai phục vụ sản xuất, kinh doanh, khuyến khích phát
triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp cho doanh nghiệp tư nhân. Đầu tư cho nguồn
nhân lực chất lượng cao và khoa học - công nghệ cũng là yêu cầu cấp bách; cần
có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đổi mới công nghệ, chuyển đổi số,
phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Ba là, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh
nghiệp tư nhân Việt Nam.
Kinh tế tư nhân chỉ có thể trở thành động lực quan trọng nhất khi bản thân khu vực này
đủ mạnh về nội lực. Vì vậy, các doanh nghiệp tư nhân cần chủ động đổi mới mô
hình quản trị theo chuẩn quốc tế, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng
công nghệ mới, xây dựng thương hiệu và văn hóa doanh nghiệp. Cần khuyến khích
và hỗ trợ hình thành các tập đoàn tư nhân lớn, đa ngành, có năng lực cạnh tranh
khu vực và quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị và lan tỏa công nghệ cho
khu vực doanh nghiệp nhỏ hơn. Đồng thời, khu vực tư nhân cần phát triển theo hướng
xanh - số - sáng tạo, kết hợp tăng trưởng kinh tế với trách nhiệm xã hội, bảo vệ
môi trường và đóng góp vào phát triển bền vững.
Bốn
là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý hiệu quả của Nhà nước và sự đồng
hành của các tổ chức chính trị - xã hội trong phát triển kinh tế tư nhân. Đảng lãnh đạo thống nhất việc thực hiện các chủ trương, chính sách về
phát triển kinh tế tư nhân, bảo đảm định hướng Xã hội Chủ nghĩa trong nền kinh
tế thị trường. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng, hỗ trợ và bảo vệ doanh
nghiệp tư nhân hoạt động hợp pháp, hiệu quả; đồng thời xây dựng hệ thống giám
sát, đánh giá chính sách linh hoạt để kịp thời điều chỉnh, tạo môi trường phát
triển thuận lợi nhất cho khu vực này. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng
cao nhận thức trong toàn xã hội về vai trò của doanh nghiệp tư nhân, khơi dậy
tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, lòng tự hào dân tộc và khát vọng vươn
lên của đội ngũ doanh nhân Việt Nam.
Năm
là, xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển doanh nghiệp
tư nhân gắn với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Chiến lược này cần
dựa trên quan điểm phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực trung tâm của
tăng trưởng, đồng thời hướng tới hình thành nền kinh tế tư nhân Việt Nam hiện đại,
năng suất cao, có khả năng cạnh tranh quốc tế. Để đạt được mục tiêu đó, Chính
phủ cần phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương trong thực thi chính
sách; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, giảm
chi phí cho doanh nghiệp; đồng thời thúc đẩy phát triển thị trường khoa học -
công nghệ, thị trường lao động và thị trường vốn, bảo đảm các yếu tố của nền
kinh tế thị trường vận hành đầy đủ, đồng bộ.
Kết
luận
Dự
thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định việc phát huy vai trò của kinh tế
tư nhân phải gắn với hoàn thiện thể chế, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển
đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm tạo dựng lực lượng sản
xuất hiện đại và nâng cao năng suất quốc gia. Khi các yếu tố này được khơi dậy
và phát huy đồng bộ, kinh tế tư nhân sẽ trở thành trụ cột vững chắc, góp phần
hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự
chủ và đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc.
Tài
liệu tham khảo:
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị lần thứ
năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về
phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hà Nội.
[2] Ban Chấp hành Trung ương (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị
về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng,
Hà Nội.
[4] EC (2014), A
Stronger Role of the Private Sector in Achieving Inclusive and Sustainable
Growth in Developing Countries, Bruxelles.
[5] Tô Lâm (2025), Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh
vượng, https://special.nhandan.vn
[6] V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 43, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[7] Ngô Thắng Lợi (2011), Hoạch định phát triển kinh tế - xã hội: lý luận và thực tiễn,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[8] Ngô Thắng Lợi (trưởng nhóm nghiên cứu) (2025),
Tháo gỡ nút thắt trong phát triển kinh tế tư nhân nhằm thực hiện mục tiêu tăng
trưởng hai con số, https://khoahoc.neu.edu.vn
[9] Tạp chí Đầu tư Tài chính (2025), Báo cáo toàn cảnh kinh tế tư nhân Việt Nam 2025,
Hà Nội.