Thứ Ba, ngày 06/01/2026, 10:35

Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay

NGUYỄN TIẾN SÁNG - ĐẶNG THỊ TỐ TÂM
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) Kinh tế tư nhân hiện nay đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trên cơ sở nội dung Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết phân tích vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đề xuất giải pháp phát huy vai trò động lực của khu vực này đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số, gắn với yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.

Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 (nguồn news.vnanet.vn)


Đặt vấn đề

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện bước đột phá về tư duy khi Nghị quyết số 68-NQ/TW khoá XIII và Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đều khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Kinh tế tư nhân Việt Nam đã không ngừng mở rộng quy mô, đóng góp lớn vào GDP, việc làm và ngân sách, song vẫn đối mặt với nhiều hạn chế về thể chế, năng suất, năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Việc khơi dậy và phát huy tiềm năng to lớn của khu vực này trở thành yêu cầu cấp bách để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

1. Cơ sở lý luận và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của kinh tế tư nhân trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1.1. Cơ sở lý luận

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, khu vực kinh tế tư nhân luôn được xem là một trong những trụ cột quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Về mặt lý luận, kinh tế tư nhân phản ánh bản chất năng động và hiệu quả của cơ chế thị trường, nơi các chủ thể kinh tế được tự do lựa chọn hoạt động sản xuất - kinh doanh theo tín hiệu cung - cầu. Sự tồn tại và phát triển của khu vực tư nhân là tất yếu khách quan, vì đó là khu vực trực tiếp tạo ra của cải vật chất, việc làm và đổi mới công nghệ. V.I.Lênin từng nhấn mạnh: “Hoặc giả tìm cách ngăn cấm, triệt để để chặn đứng mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân, không phải là quốc doanh, tức là của thương mại, tức là của chủ nghĩa tư bản, một sự phát triển không thể tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ. Chính sách ấy là dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó”[6, tr.267]. Điều đó cho thấy, việc thừa nhận và phát triển khu vực kinh tế tư nhân không trái với định hướng xã hội chủ nghĩa, mà là điều kiện để nền kinh tế phát triển năng động và bền vững.

Từ góc độ lý thuyết phát triển hiện đại, tăng trưởng kinh tế bền vững chỉ có thể đạt được khi nguồn lực xã hội được huy động tối đa và phân bổ hiệu quả, trong đó khu vực tư nhân đóng vai trò quyết định. Các mô hình tăng trưởng của Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore hay Trung Quốc đều chứng minh rằng khu vực tư nhân, khi được trao quyền và tạo điều kiện thuận lợi, sẽ trở thành động lực trực tiếp của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới sáng tạo[4]. Kinh tế tư nhân không chỉ mang lại tăng trưởng nhanh, mà còn thúc đẩy cạnh tranh, lan tỏa công nghệ và hình thành hệ sinh thái sáng tạo - những yếu tố cốt lõi bảo đảm tăng trưởng dài hạn. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng phát triển bền vững chỉ có thể đạt được khi các quyết định quan trọng của nền kinh tế - gồm sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu và sản xuất cho ai - chủ yếu do khu vực kinh tế tư nhân đảm nhận[7].

Trong điều kiện Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của kinh tế tư nhân là yêu cầu tất yếu và phù hợp quy luật khách quan. Khu vực này cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cấu thành ba trụ cột chính của nền kinh tế nhiều thành phần. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, FDI là kênh hội nhập và lan tỏa công nghệ, còn kinh tế tư nhân là động lực trực tiếp, mạnh mẽ nhất của tăng trưởng. 

1.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mạnh mẽ và ngày càng sâu sắc qua các kỳ Đại hội. Nếu như tại Đại hội IX (2001), Đảng xác định “kinh tế tư nhân có vị trí quan trọng lâu dài”, thì đến Đại hội X (2006) đã nhấn mạnh “kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế” và Đại hội XI (2011) coi “kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế”. Bước ngoặt quan trọng được đánh dấu bằng Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2017, khi Đảng lần đầu tiên xác định rõ: “Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[1]. Sự thay đổi nhận thức tiếp tục được thể hiện rõ nét hơn ở Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025, trong đó Đảng khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng[2]. Đây là bước tiến nhận thức mang tính chiến lược, thể hiện sự nhất quán của Đảng trong việc phát huy nội lực quốc gia và tạo điều kiện để khu vực tư nhân trở thành đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Theo định hướng của Nghị quyết 68, mục tiêu đến năm 2030, khu vực tư nhân đóng góp 60-65% GDP, 35-40% ngân sách nhà nước, 84-85% việc làm xã hội, có 70 doanh nghiệp có vốn hóa trên 1 tỷ USD và ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, bảo đảm môi trường đầu tư - kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng, khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh, gắn tăng trưởng với công bằng xã hội và phát triển bền vững.

Tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm (2025) đã nhấn mạnh rõ định hướng này: “Một nền kinh tế cường thịnh không thể chỉ dựa vào Nhà nước hay đầu tư nước ngoài, mà phải dựa vào nội lực - khu vực tư nhân vững mạnh, tiên phong trong đổi mới và phát triển”[5]. Như vậy, phát triển khu vực kinh tế tư nhân không chỉ là giải pháp kinh tế thuần túy, mà còn là chính sách chiến lược để khơi thông nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm sự phát triển tự chủ, bền vững của đất nước.

Tiếp nối tinh thần đó, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIVcủa Đảng tiếp tục khẳng định rõ hơn rằng kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế Việt Nam, là lực lượng nòng cốt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với đó, cần “đổi mới cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt từ năm 2025 khẳng định phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Bước đầu hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế”[3].

2. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay

2.1. Kết quả đạt được

Trong gần bốn mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng, trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế quốc dân. Từ chỗ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong những năm đầu đổi mới, đến nay khu vực này đã vươn lên giữ vai trò chủ lực trong nhiều lĩnh vực kinh tế, góp phần to lớn vào phát triển đất nước. Khu vực tư nhân hiện đóng góp khoảng 43% GDP, chiếm 53,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tạo việc làm cho 82% lực lượng lao động và đóng góp trên 42% tổng thu ngân sách nhà nước. Tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực tư nhân đạt khoảng 6,3%/năm, cao hơn mức tăng trưởng bình quân chung của nền kinh tế[8].

Nếu trước đây phần lớn doanh nghiệp tư nhân chỉ hoạt động trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ nhỏ lẻ thì nay đã có sự dịch chuyển mạnh sang các ngành có giá trị gia tăng cao hơn như công nghiệp chế biến - chế tạo, logistics, hàng không, công nghệ thông tin, bất động sản, tài chính, năng lượng tái tạo và nông nghiệp công nghệ cao. Nhiều tập đoàn tư nhân lớn đã hình thành và khẳng định vị thế dẫn dắt trên thị trường như Vingroup, Masan, Hòa Phát, FPT, Vietjet, Thế Giới Di Động, DOJI, Sun Group, BRG... Các doanh nghiệp này không chỉ đóng góp lớn về quy mô vốn, doanh thu và việc làm mà còn tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Trong bảng xếp hạng VNR500, doanh nghiệp tư nhân chiếm hơn 60%, trong đó 315 doanh nghiệp có quy mô lớn và chiếm gần 20% tổng doanh thu toàn khu vực doanh nghiệp Việt Nam[9].

Cùng với sự lớn mạnh về quy mô, khu vực tư nhân còn có đóng góp ngày càng quan trọng trong hình thành các động lực tăng trưởng mới. Các doanh nghiệp tư nhân là lực lượng chủ yếu đầu tư vào những ngành kinh tế của tương lai như kinh tế số, công nghệ cao, thương mại điện tử, logistics và khởi nghiệp sáng tạo. Khoảng 70% các dự án đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp hiện nay thuộc khu vực tư nhân. Nhiều doanh nghiệp lớn đã xây dựng các trung tâm nghiên cứu - phát triển, đầu tư vào trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, sản xuất thông minh và phát triển sản phẩm “Make in Vietnam”.

2.2. Một số hạn chế

Thứ nhất, phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp, năng suất lao động thấp, năng lực tài chính yếu và thiếu khả năng tích lũy để đầu tư mở rộng. Theo đánh giá của các chuyên gia, năng suất lao động của khu vực tư nhân chỉ bằng khoảng 37-40% khu vực FDI.

Thứ hai, môi trường kinh doanh và thể chế kinh tế tuy đã cải thiện nhưng vẫn tồn tại nhiều rào cản; thủ tục hành chính còn phức tạp, tiếp cận đất đai, tín dụng, thông tin và thị trường còn hạn chế, chưa thật sự tạo được bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.

Thứ ba, năng lực quản trị, khả năng đổi mới sáng tạo của phần lớn doanh nghiệp tư nhân vẫn còn yếu. Nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư cho nghiên cứu - phát triển, thiếu chiến lược dài hạn và còn phụ thuộc vào mô hình kinh doanh truyền thống. Mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước, giữa doanh nghiệp tư nhân với khu vực FDI và doanh nghiệp nhà nước còn lỏng lẻo, chưa hình thành được chuỗi giá trị nội địa bền vững.

Thứ tư, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân vẫn còn thiếu đồng bộ. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, chưa theo kịp thực tiễn; cơ chế ưu đãi, thuế, đất đai, khuyến khích đổi mới sáng tạo chưa ổn định và còn khó tiếp cận. Việc triển khai các chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, khởi nghiệp sáng tạo còn mang tính hình thức, thiếu sự kết nối hiệu quả giữa các bộ, ngành, địa phương.

3. Một số giải pháp phát huy vai trò của kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam 

Một là, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW khoá XIII và Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Đây là giải pháp mang tính nền tảng, bởi thể chế kinh tế là yếu tố quyết định để giải phóng và huy động nguồn lực xã hội. Nhà nước cần rà soát, điều chỉnh các quy định pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, tín dụng, đấu thầu, cạnh tranh... theo hướng đảm bảo quyền tự do kinh doanh, bình đẳng thực chất giữa các thành phần kinh tế. Cần cụ thể hóa quan điểm “kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất” thành các cơ chế ưu tiên phát triển doanh nghiệp tư nhân trong những lĩnh vực có tiềm năng tạo đột phá năng suất và đổi mới công nghệ, đồng thời khắc phục triệt để các rào cản hành chính, chi phí không chính thức, tình trạng phân biệt đối xử trong tiếp cận nguồn lực.

Hai là, khơi thông và phát huy các nguồn lực cho khu vực tư nhân, nhất là về vốn, đất đai, công nghệ và nhân lực. Đây là điều kiện trực tiếp để khu vực tư nhân mở rộng quy mô, nâng cao năng suất và đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng. Nhà nước cần phát triển thị trường vốn đa dạng và hiệu quả, trong đó đẩy mạnh vai trò của thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo nhằm giúp doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận được nguồn vốn dài hạn, chi phí thấp. Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế minh bạch, linh hoạt trong sử dụng đất đai phục vụ sản xuất, kinh doanh, khuyến khích phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp cho doanh nghiệp tư nhân. Đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao và khoa học - công nghệ cũng là yêu cầu cấp bách; cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Ba là, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Kinh tế tư nhân chỉ có thể trở thành động lực quan trọng nhất khi bản thân khu vực này đủ mạnh về nội lực. Vì vậy, các doanh nghiệp tư nhân cần chủ động đổi mới mô hình quản trị theo chuẩn quốc tế, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ mới, xây dựng thương hiệu và văn hóa doanh nghiệp. Cần khuyến khích và hỗ trợ hình thành các tập đoàn tư nhân lớn, đa ngành, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị và lan tỏa công nghệ cho khu vực doanh nghiệp nhỏ hơn. Đồng thời, khu vực tư nhân cần phát triển theo hướng xanh - số - sáng tạo, kết hợp tăng trưởng kinh tế với trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường và đóng góp vào phát triển bền vững.

Bốn là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý hiệu quả của Nhà nước và sự đồng hành của các tổ chức chính trị - xã hội trong phát triển kinh tế tư nhân. Đảng lãnh đạo thống nhất việc thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế tư nhân, bảo đảm định hướng Xã hội Chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng, hỗ trợ và bảo vệ doanh nghiệp tư nhân hoạt động hợp pháp, hiệu quả; đồng thời xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá chính sách linh hoạt để kịp thời điều chỉnh, tạo môi trường phát triển thuận lợi nhất cho khu vực này. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn xã hội về vai trò của doanh nghiệp tư nhân, khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, lòng tự hào dân tộc và khát vọng vươn lên của đội ngũ doanh nhân Việt Nam.

Năm là, xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển doanh nghiệp tư nhân gắn với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Chiến lược này cần dựa trên quan điểm phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, đồng thời hướng tới hình thành nền kinh tế tư nhân Việt Nam hiện đại, năng suất cao, có khả năng cạnh tranh quốc tế. Để đạt được mục tiêu đó, Chính phủ cần phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương trong thực thi chính sách; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, giảm chi phí cho doanh nghiệp; đồng thời thúc đẩy phát triển thị trường khoa học - công nghệ, thị trường lao động và thị trường vốn, bảo đảm các yếu tố của nền kinh tế thị trường vận hành đầy đủ, đồng bộ.

Kết luận

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định việc phát huy vai trò của kinh tế tư nhân phải gắn với hoàn thiện thể chế, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm tạo dựng lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao năng suất quốc gia. Khi các yếu tố này được khơi dậy và phát huy đồng bộ, kinh tế tư nhân sẽ trở thành trụ cột vững chắc, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

Tài liệu tham khảo:

[1] Ban Chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hà Nội.

[2] Ban Chấp hành Trung ương (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội.

[4] EC (2014), A Stronger Role of the Private Sector in Achieving Inclusive and Sustainable Growth in Developing Countries, Bruxelles. 

[5] Tô Lâm (2025), Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng, https://special.nhandan.vn

[6] V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 43, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[7] Ngô Thắng Lợi (2011), Hoạch định phát triển kinh tế - xã hội: lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[8] Ngô Thắng Lợi (trưởng nhóm nghiên cứu) (2025), Tháo gỡ nút thắt trong phát triển kinh tế tư nhân nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, https://khoahoc.neu.edu.vn

[9] Tạp chí Đầu tư Tài chính (2025), Báo cáo toàn cảnh kinh tế tư nhân Việt Nam 2025, Hà Nội.

Đọc thêm

Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm với khu vực và thế giới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tác giả: TRIỆU QUANG MINH

(GDLL) Bài viết chỉ ra cơ sở xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; những thách thức trong quá trình hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân hiện đại ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại theo nội dung văn kiện Đại hội XIV cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV - bước phát triển về tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên mới

Tác giả: PHẠM THỊ TRỌNG HIẾU

(GDLL) Sau 40 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, hình thành hệ thống “Lý luận về đường lối đổi mới”. Bài viết phân tích tính tất yếu, nội dung cốt lõi của lý luận về đường lối đổi mới và vai trò, ý nghĩa của việc bổ sung thành tố lý luận này vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới - bước phát triển tất yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội và định hướng chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VIỆT HÀ

(GDLL) Bài viết phân tích những điểm mới trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam về “hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Từ đó góp phần làm rõ Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là bước tiến quan trọng về lý luận của Đảng, khẳng định vị trí trung tâm của thể chế đối với các đột phá phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đẩy mạnh đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc tổ quốc trước mọi tình huống nhất là chú trọng công nghệ cao trong Dự thảo VĂn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VĂN ĐỨC

(GDLL) Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại trong đó chú trọng công nghệ cao là nhiệm vụ trọng yếu để bảo vệ Tổ quốc...

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGÔ QUANG HUY

(GDLL) Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Bài viết bàn về thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam thời gian tới.