Thứ Bảy, ngày 10/01/2026, 09:49

Đẩy mạnh đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc tổ quốc trước mọi tình huống nhất là chú trọng công nghệ cao trong Dự thảo VĂn kiện Đại hội XIV của Đảng

NGUYỄN VĂN ĐỨC
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại trong đó chú trọng công nghệ cao là nhiệm vụ trọng yếu để bảo vệ Tổ quốc...

Việt Nam tham dự Triển lãm Quốc phòng tại Anh (nguồn news.vnanet.vn)

 

 

Đặt vấn đề

Hiện nay, bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, khó dự báo, tác động trực tiếp đến chủ quyền, lợi ích quốc gia sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Do đó, phát triển một nền công nghiệp quốc phòng, an ninh tự cường, kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu quân sự và mục tiêu kinh tế - kỹ thuật, theo hướng lưỡng dụng, hiện đại, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao, đã trở thành xu thế tất yếu đối với nhiều quốc gia. Việc khẳng định trong Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng về đẩy mạnh đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chú trọng công nghệ cao có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc.

1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại trong bảo vệ Tổ quốc

Từ góc độ lý luận và thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh là một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, gắn kết chặt chẽ với mục tiêu độc lập dân tộc, tự chủ và phát triển bền vững của đất nước. Quan điểm này vừa kế thừa truyền thống tự lực tự cường của nhân dân Việt Nam, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện tiềm lực quốc phòng – an ninh trong bối cảnh thế giới biến động nhanh và cạnh tranh chiến lược gay gắt. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2021), Đảng khẳng định yêu cầu củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội với trọng tâm là dựa vào sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn diện mọi mặt của đất nước và lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ đó[3]. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cụ thể hóa tư duy gắn kết quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, trong đó nhấn mạnh xây dựng và phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng cả yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hội. Đây là bước phát triển chiến lược nhằm tăng cường tiềm lực nội lực, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và tự chủ trong trang bị, huấn luyện kỹ thuật quân sự cho Quân đội và lực lượng Công an nhân dân. Việc phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng cũng phản ánh tư duy tích hợp giữa nhiệm vụ quốc phòng và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Tại dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, quan điểm về phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh được tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn với nội hàm mở rộng và nhấn mạnh yếu tố tự chủ, tự lực, tự cường. Dự thảo báo cáo chính trị nêu rõ “đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”[2] đồng thời xem đó là một chủ trương chiến lược trọng tâm. Điều đó cho thấy quyết tâm tạo bước nhảy về khả năng nghiên cứu - sản xuất trang thiết bị, vũ khí, công nghệ an ninh - quốc phòng trên cơ sở nội lực, giảm phụ thuộc nguồn cung bên ngoài, đồng thời phát huy khả năng ứng dụng trong đời sống dân sự và kinh tế - xã hội. Việc bổ sung yếu tố tự chủ, tự lực, tự cường đánh dấu bước phát triển tư duy chiến lược: phát triển công nghiệp quốc phòng không chỉ nhằm trang bị cho lực lượng vũ trang mà còn nâng cao năng lực khoa học - công nghệ quốc gia, góp phần đảm bảo an ninh con người, an ninh mạng và các thách thức phi truyền thống trong kỷ nguyên số. Đây cũng là biểu hiện của tư duy quốc phòng hiện đại, kết hợp sức mạnh cứng và mềm, dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội.

2. Thực trạng công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại trong bảo vệ Tổ quốc

2.1. Kết quả đạt được

Một là, năng lực tự thiết kế, chế tạo, sửa chữa và hiện đại hóa một số loại vũ khí, trang bị kỹ thuật trọng yếu của Việt Nam từng bước được hình thành và củng cố. Từ chỗ phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu, nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng trong nước nay đã tự sản xuất, cải tiến và nâng cấp vũ khí, đạn dược và phương tiện quân sự, đáp ứng nhu cầu huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và dự trữ chiến lược. Trong lĩnh vực đóng tàu quân sự, Việt Nam đã làm chủ thiết kế, thi công một số loại tàu tuần tra, vận tải, xuồng cao tốc, trong đó có tàu lớp TT-400TP và một số tàu tải trọng lớn phục vụ cả mục tiêu quân sự và dân sự. Từ năm 2020 đến nay, ngành đã sản xuất nhiều chủng loại vũ khí, đóng mới và sửa chữa hàng trăm tàu quân sự, đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa một số sản phẩm lên 60–70% hoặc cao hơn, góp phần tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian bảo đảm kỹ thuật và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang[7].

Hai là, Việt Nam từng bước xây dựng năng lực nghiên cứu, phát triển và tiếp cận công nghệ mới phục vụ hiện đại hóa lực lượng vũ trang. Hiện Bộ Quốc phòng và Bộ Công an có hơn 40 cơ sở nghiên cứu, viện, trung tâm và nhà máy quốc phòng tham gia R&D, hằng năm triển khai hàng trăm đề tài khoa học - công nghệ trong các lĩnh vực trọng điểm, với tỷ lệ ứng dụng thực tiễn đạt trên 65%. Từ năm 2018 đến nay, nhiều cơ sở được đầu tư nâng cấp dây chuyền, phòng thí nghiệm và xưởng thử nghiệm theo hướng hiện đại, tự động hóa cao, giúp rút ngắn thời gian thiết kế, giảm sai lỗi kỹ thuật và từng bước làm chủ công nghệ vật liệu mới. Một số kết quả nghiên cứu được chuyển giao sang lĩnh vực dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và thể hiện rõ tính lưỡng dụng. Đồng thời, việc phát triển các trung tâm mô phỏng, thiết kế số và huấn luyện ảo đã giúp giảm chi phí thử nghiệm, nâng cao độ an toàn và độ chính xác trong đánh giá, hoàn thiện sản phẩm quốc phòng, an ninh[5].

Ba là, tính lưỡng dụng trong công nghiệp quốc phòng ngày càng được phát huy, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp quốc gia thông qua việc linh hoạt sử dụng công nghệ, nhân lực và dây chuyền sản xuất cho cả mục tiêu quốc phòng và dân sinh. Nhờ mở rộng sản xuất dân dụng, công suất sử dụng dây chuyền tại nhiều cơ sở tăng từ khoảng 55–65% lên 80–90%, qua đó giảm chi phí và nâng cao hiệu quả đầu tư. Doanh thu từ sản phẩm dân dụng chiếm tỷ trọng đáng kể, giúp các cơ sở giảm phụ thuộc vào đơn hàng quốc phòng và tạo nguồn lực tái đầu tư đổi mới công nghệ. Quá trình này đồng thời thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao trình độ quản trị, nhân lực và khả năng nội địa hóa, góp phần tạo việc làm ổn định, cung ứng sản phẩm công nghiệp có giá cạnh tranh và hỗ trợ phát triển bền vững nền kinh tế.

Bốn là, công nghiệp quốc phòng Việt Nam từng bước hình thành nền tảng tự chủ, phù hợp với quy hoạch công nghiệp và chiến lược bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước. Đến năm 2024, cả nước có 79 cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, với quy mô và hiệu quả hoạt động ngày càng nâng cao; doanh thu năm 2022 đạt 33 nghìn tỷ đồng, trong đó 59% từ kinh tế dân dụng. Ngành đã làm chủ một số công nghệ lõi, thiết kế và sản xuất nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật, tiêu biểu là mẫu xe chiến đấu bộ binh nội địa XCB-01. Đồng thời, các doanh nghiệp quốc phòng tham gia sâu vào nhiều lĩnh vực kinh tế dân dụng, khẳng định vai trò công nghiệp quốc phòng là bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, hướng tới xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, hiện đại và gắn kết chặt chẽ với phát triển đất nước[6].

2.2. Một số hạn chế

Thứ nhất, việc sản xuất các loại vũ khí lớn vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu, tỷ lệ làm chủ công nghệ lõi còn thấp.

Thứ hai, quy mô và năng lực sản xuất của công nghiệp quốc phòng còn nhỏ, thiếu nền tảng công nghiệp hiện đại. Dù một số đơn vị đã sản xuất được tàu, xuồng, nhưng việc mở rộng sản xuất quy mô lớn với tiêu chuẩn công nghệ cao, nhất là trong các lĩnh vực quốc phòng hiện đại, vẫn gặp nhiều khó khăn. Công nghệ, máy móc và mức độ tự động hóa ở một số cơ sở còn hạn chế, làm giảm khả năng sản xuất hàng loạt, tăng chi phí và khó đạt hiệu quả kinh tế, từ đó hạn chế năng lực mở rộng sản xuất khi cần thiết.

Thứ ba, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo của công nghiệp quốc phòng còn hạn chế, thể hiện rõ ở việc chưa làm chủ được công nghệ lõi, nhất là công nghệ vũ khí hiện đại. Phần lớn sản phẩm vẫn ở mức cơ bản, chưa hình thành được các hệ thống vũ khí chiến lược do nội địa phát triển. Việc huy động khu vực tư nhân và công nghiệp dân sự tham gia còn gặp nhiều rào cản về cơ chế, chính sách và yêu cầu đặc thù quốc phòng, khiến tình trạng thiếu công nghệ lõi và nhân lực trình độ cao trở thành điểm nghẽn lớn đối với phát triển công nghiệp quốc phòng trong thời gian tới.

Thư tư, mối quan hệ công - tư và tính lưỡng dụng giữa công nghiệp quốc phòng với công nghiệp dân dụng chưa phát triển đồng bộ. Dù chủ trương liên kết, tương hỗ đã được xác định, nhưng hợp tác, chia sẻ công nghệ và hạ tầng với khu vực dân dụng, đặc biệt là kinh tế tư nhân, còn hạn chế do cơ chế, chính sách chưa hoàn thiện. Điều này làm giảm khả năng huy động nguồn lực xã hội, mở rộng sản xuất, phát triển công nghiệp hỗ trợ và đa dạng hóa sản phẩm, qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và tính bền vững của công nghiệp quốc phòng[4].

3. Một số giải pháp đẩy mạnh đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng chú trọng công nghệ cao nhằm bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới

Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Quân ủy Trung ương đối với phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho quá trình đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại đi đúng định hướng chính trị, chiến lược và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng, nhất là các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân gắn với phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh. Đồng thời, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong các tập đoàn, tổng công ty, cơ sở nghiên cứu - sản xuất quốc phòng; phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong tổ chức thực hiện. Qua đó, bảo đảm sự thống nhất giữa tư duy chiến lược, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện, tạo nền tảng chính trị - tổ chức vững chắc cho đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới.

Hai là, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù cho phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh.

Cần xây dựng và bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù cho công nghiệp quốc phòng, an ninh trên cơ sở quán triệt tinh thần của dự thảo Văn kiện Đại hội XIV về “đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”. Cụ thể hóa các chính sách ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế, đầu tư công, bảo lãnh Nhà nước cho các dự án trọng điểm liên quan đến công nghệ quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các dự án phát triển công nghệ lõi và công nghệ chiến lược. Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng vừa bảo đảm yếu tố bí mật, an ninh, an toàn, vừa tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo và mở rộng hợp tác nghiên cứu, sản xuất. Cần làm rõ và phân định rạch ròi giữa lĩnh vực tuyệt đối bí mật phục vụ quốc phòng và lĩnh vực lưỡng dụng có thể mở rộng hợp tác có kiểm soát với khu vực dân sự, khu vực tư nhân. Xây dựng hành lang pháp lý phù hợp để hình thành các mô hình liên kết mới như: khu công nghiệp quốc phòng an ninh công nghệ cao; trung tâm nghiên cứu sản xuất lưỡng dụng; doanh nghiệp quốc phòng kết hợp kinh tế dân sinh. Việc hoàn thiện thể chế, chính sách không chỉ tạo nền tảng pháp lý vững chắc mà còn đóng vai trò là “đòn bẩy” để phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội trong phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự chủ, tự cường và hiện đại.

Ba là, tập trung đầu tư cho khoa học, công nghệ quốc phòng để làm chủ công nghệ lõi và công nghệ chiến lược.

Xây dựng các chương trình khoa học công nghệ trọng điểm quốc gia về công nghiệp quốc phòng, an ninh, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), tự động hóa, robot quân sự, công nghệ không gian, công nghệ vật liệu mới, công nghệ siêu bền, công nghệ định vị, dẫn đường, an ninh mạng và tác chiến điện tử. Đây là những lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh quân sự trong tương lai. Đầu tư nâng cấp hơn nữa các viện nghiên cứu, trung tâm khoa học, phòng thí nghiệm trọng điểm trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đồng thời hình thành các trung tâm nghiên cứu liên ngành gắn kết giữa quân đội, công an, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ cao. Thông qua liên kết nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, từng bước làm chủ các quy trình thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, tiến tới tự sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Ưu tiên đầu tư nhiều hơn cho các cơ sở đã có kết quả nghiên cứu tốt, có khả năng phát triển thành các “đầu tàu” công nghệ quốc phòng. Tránh đầu tư dàn trải, phân tán nguồn lực, mà cần tập trung cho một số lĩnh vực cốt lõi có khả năng tạo ra sự bứt phá rõ rệt, đủ sức kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ. Phát triển khoa học công nghệ quốc phòng không chỉ nhằm tạo ra vũ khí, trang bị hiện đại mà còn là xây dựng năng lực đổi mới sáng tạo độc lập, chủ động, tạo nền tảng bảo đảm an ninh công nghệ quốc gia về lâu dài[1].

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố then chốt để đột phá chiến lược công nghiệp quốc phòng, an ninh.

Cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng, an ninh đến năm 2035 và tầm nhìn đến năm 2050, trong đó xác định những nhóm ngành, lĩnh vực then chốt cần ưu tiên đào tạo như: kỹ thuật quân sự công nghệ cao, điện và điện tử, AI, cơ điện tử, công nghệ vật liệu, an ninh mạng, công nghệ vũ trụ, hàng không - vũ trụ quân sự... Mở rộng mô hình đào tạo liên kết giữa các học viện, nhà trường quân đội, công an với các trường đại học, viện nghiên cứu dân sự, doanh nghiệp công nghệ cao trong và ngoài nước. Đẩy mạnh hình thức đào tạo theo đơn đặt hàng, gắn đào tạo với nhu cầu nghiên cứu, sản xuất thực tế của các cơ sở công nghiệp quốc phòng. Xây dựng cơ chế đặc thù để thu hút, đãi ngộ và giữ chân nhân tài, nhất là các chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học trẻ, kỹ sư giỏi. Có chính sách tiền lương, điều kiện làm việc, môi trường nghiên cứu cạnh tranh, tạo động lực cho đội ngũ trí thức yên tâm cống hiến lâu dài cho lĩnh vực đặc thù này. Chỉ khi có đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, công nghiệp quốc phòng, an ninh mới có khả năng đột phá về công nghệ, từng bước làm chủ các hệ thống vũ khí và trang thiết bị hiện đại.

Năm là, đẩy mạnh phát triển mô hình công nghiệp lưỡng dụng, gắn quốc phòng với kinh tế.

Tập trung quy hoạch, xây dựng các khu công nghiệp lưỡng dụng, trong đó doanh nghiệp quốc phòng và doanh nghiệp dân sự cùng tham gia sản xuất những sản phẩm có khả năng phục vụ cả hai mục tiêu quốc phòng và dân sinh. Đẩy mạnh chuyển giao khoa học công nghệ từ quốc phòng sang dân dụng và ngược lại một cách có kiểm soát. Các công nghệ vật liệu mới, tự động hóa, công nghệ cơ khí chính xác, an ninh mạng... hoàn toàn có thể phục vụ hiệu quả cho các ngành công nghiệp dân dụng như giao thông, y tế, viễn thông, năng lượng. Đồng thời, sự phát triển của công nghệ dân dụng cũng bổ trợ tích cực cho công nghiệp quốc phòng. Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ cao, tham gia vào chuỗi cung ứng của công nghiệp quốc phòng thông qua các đơn hàng linh kiện, phụ tùng, phần mềm, dịch vụ công nghệ. Việc phát triển mạnh tính lưỡng dụng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn làm tăng tính linh hoạt, khả năng huy động công nghiệp khi đất nước ở trong tình huống khẩn cấp về quốc phòng, an ninh.

Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế có chọn lọc, gắn với mục tiêu tự chủ chiến lược.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc hợp tác quốc tế là cần thiết, tuy nhiên phải đặt trong nguyên tắc bảo đảm lợi ích quốc gia và mục tiêu tự chủ chiến lược. Cần ưu tiên hợp tác với các quốc gia, đối tác có trình độ công nghệ cao, có khả năng chuyển giao công nghệ nền tảng, đào tạo chuyên gia và hợp tác nghiên cứu. Tránh những dạng hợp tác chỉ dừng lại ở lắp ráp, gia công đơn giản, không đem lại giá trị công nghệ cốt lõi. Cùng với đó, phải xây dựng lộ trình “nội địa hóa công nghệ”, từng bước thay thế linh kiện, vật tư nhập khẩu bằng sản phẩm trong nước, bảo đảm khả năng duy trì, sửa chữa, nâng cấp trang bị ngay cả khi bị phong tỏa, cấm vận. Hợp tác quốc tế trong công nghiệp quốc phòng, an ninh chính là công cụ để rút ngắn khoảng cách, tiến nhanh hơn đến mục tiêu tự chủ, tự cường, đúng với tinh thần dự thảo văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đề ra[2].

Kết luận

Công nghiệp quốc phòng, an ninh phát triển theo hướng tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trong đó chú trọng công nghệ cao, giữ vai trò trọng yếu, thường xuyên trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo định hướng này không chỉ là yêu cầu cấp thiết trước những biến động nhanh, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực, mà còn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài nhằm nâng cao tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm đất nước luôn ở thế chủ động, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với mọi tình huống, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển bền vững.

 

Tài liệu tham khảo:

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội.

[2] Báo điện tử Chính phủ (2025), Toàn văn: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn

[3] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Hà Nội.

[4] Nguyễn Văn Sự (2025), Chủ trương “Đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng hiện đại” - Bước phát triển tư duy lý luận trong dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, htts://tapchilichsudang.vn

[5] Cao Thành (2024), Phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại - chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng, https://lyluanchinhtri.vn

[6] Hồ Quang Tuấn (2024), Phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, https://www.tapchicongsan.org.vn

[7] Hồ Quang Tuấn (2025), Bài diễn văn tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (15/9/1945 - 15/9/2025), https://dangcongsan.org.vn

Đọc thêm

Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm với khu vực và thế giới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tác giả: TRIỆU QUANG MINH

(GDLL) Bài viết chỉ ra cơ sở xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; những thách thức trong quá trình hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân hiện đại ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại theo nội dung văn kiện Đại hội XIV cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV - bước phát triển về tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên mới

Tác giả: PHẠM THỊ TRỌNG HIẾU

(GDLL) Sau 40 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, hình thành hệ thống “Lý luận về đường lối đổi mới”. Bài viết phân tích tính tất yếu, nội dung cốt lõi của lý luận về đường lối đổi mới và vai trò, ý nghĩa của việc bổ sung thành tố lý luận này vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới - bước phát triển tất yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội và định hướng chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VIỆT HÀ

(GDLL) Bài viết phân tích những điểm mới trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam về “hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Từ đó góp phần làm rõ Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là bước tiến quan trọng về lý luận của Đảng, khẳng định vị trí trung tâm của thể chế đối với các đột phá phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGUYỄN TIẾN SÁNG - ĐẶNG THỊ TỐ TÂM

(GDLL) Kinh tế tư nhân hiện nay đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trên cơ sở nội dung Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết phân tích vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đề xuất giải pháp phát huy vai trò động lực của khu vực này đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số, gắn với yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGÔ QUANG HUY

(GDLL) Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Bài viết bàn về thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam thời gian tới.