Thứ Bảy, ngày 10/01/2026, 09:51

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng

NGUYỄN VIỆT HÀ
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) Bài viết phân tích những điểm mới trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam về “hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Từ đó góp phần làm rõ Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là bước tiến quan trọng về lý luận của Đảng, khẳng định vị trí trung tâm của thể chế đối với các đột phá phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Việt Nam 2045 - đột phá thể chế cho một Tương lai thu nhập cao (nguồn news.vnanet.vn)

 

Đặt vấn đề

Từ sau công cuộc đổi mới năm 1986, “xây dựng và hoàn thiện thể chế” luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong ba đột phá chiến lược của phát triển đất nước. Tại Đại hội XIII, Đảng khẳng định nhiệm vụ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường...” [3,tr.114]. Đây là lần đầu khái niệm “thể chế phát triển bền vững” được đặt trong phạm vi rộng, không chỉ gắn với kinh tế mà bao gồm cả chính trị và xã hội. Trên cơ sở kế thừa định hướng này, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có sự phát triển hơn về chất, đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về thể chế: thể chế không chỉ là phương tiện quản lý mà là trụ cột, động lực và điều kiện để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

1. “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước” - Định hướng trọng tâm trong Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng

Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng, đã dành riêng một chương cho “hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Sự thay đổi về cấu trúc văn kiện cho thấy Đảng đã xem thể chế như một hệ thống tổng thể, có tính liên kết giữa các lĩnh vực thay vì là các cải cách rời rạc trong từng lĩnh vực. Cách tiếp cận “toàn diện, đồng bộ” cũng khắc phục tình trạng cục bộ, chồng chéo và tăng tính hiệu lực, hiệu quả của thể chế đất nước. Không những vậy, việc Đảng khẳng định “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước” là định hướng đầu tiên để xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là sự sắp xếp về trật tự ưu tiên, mà là sự khẳng định vai trò quyết định của thể chế trong toàn bộ tiến trình phát triển đất nước giai đoạn mới.

Trong văn kiện các kỳ đại hội trước, Đảng đều chỉ ra ba điểm nghẽn cản trở phát triển, đó là: thể chế, kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Tại Đại hội XI, Đảng xác định “thể chế kinh tế thị trường... vẫn là những điểm yếu cản trở sự phát triển”[2,tr.178]. Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định thể chế là một trong ba khâu đột phá chiến lược, đồng thời yêu cầu tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển. Tại Phiên khai mạc kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Thể chế chính là điểm nghẽn của các điểm nghẽn”[4]. Phát biểu này có ý nghĩa lý luận sâu sắc: trong ba điểm nghẽn mà Đảng từng xác định, thể chế là yếu tố gốc, chi phối hai yếu tố còn lại. Một thể chế chưa thông suốt sẽ kìm hãm việc huy động, phân bổ nguồn lực cho hạ tầng, cũng như cản trở cơ chế phát triển và sử dụng nhân lực chất lượng cao.

Có thể thấy, tại Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định trọng tâm thể chế vẫn chủ yếu đặt vào kinh tế. Đến Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV, nội dung này đã được nâng tầm rõ rệt: “Tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”[1]. Việc bổ sung yếu tố “phát triển nhanh” cùng cách diễn đạt nhấn mạnh “toàn diện, đồng bộ” cho Dự thảoBáo cáo chính trị tại Đại hội XIV có mở rộng về cả mức độ (toàn diện, đồng bộ) và tốc độ (phát triển nhanh, bền vững); chuyển mạnh sang tư duy kiến tạo, coi thể chế là công cụ tạo động lực, thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Sự thay đổi này thể hiện tầm nhìn của Đảng trong bối cảnh mới, khi Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, và đến năm 2045 trở thành nước phát triển.

Bên cạnh đó, Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV còn yêu cầu “chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm”[1] dựa trên chuẩn mực và trách nhiệm. Đây là bước tiến về phương pháp quản trị, phản ánh tư duy nhà nước kiến tạo phát triển.

2. Xác định vai trò của các thể chế trong Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng

Điểm mới mang tính khái quát chiến lược của Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV là sự xác định rõ ràng vai trò các thể chế. Theo đó, “thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng”[1]. Điều này không chỉ thể hiện thứ tự ưu tiên mà Đảng xác định trong hoàn thiện thể chế mà còn nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa ổn định chính trị và đổi mới kinh tế - giữa nền tảng lãnh đạo của Đảng và động lực phát triển của thị trường.

Văn kiện Đại hội XIII đề cập tới “thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “thể chế chính trị, văn hóa, xã hội” nhưng chưa có sự phân loại theo vai trò tương đối. Sự phân tầng trong xây dựng thể chế trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV cũng hàm chứa thông điệp sâu sắc: thể chế chính trị giữ vai trò định hướng và bảo đảm tính ổn định của đất nước, thể chế kinh tế là công cụ tạo ra của cải, động lực vật chất cho xã hội còn các thể chế khác (văn hóa, giáo dục, khoa học, quốc phòng, môi trường, đối ngoại...) là nền tảng củng cố sức mạnh mềm của quốc gia. Ở cấp độ tư duy, đây là sự phát triển có tính hệ thống: thể chế được nhìn nhận không chỉ trong giới hạn của luật pháp và quy định, mà như một mạng lưới các quy tắc, cơ chế, quan hệ tổ chức nhằm vận hành toàn bộ hệ thống quốc gia.

3. Các lĩnh vực thể chế tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ trong Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV

Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV trình bày nội dung thể chế bằng hệ thống nhóm lĩnh vực cụ thể, bao gồm: thể chế tổ chức bộ máy; thể chế Đảng; thể chế Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; thể chế kinh tế; thể chế văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ; thể chế quốc phòng, an ninh, đối ngoại; và thể chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Cụ thể

Một là, về xây dựng thể chế tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Quan điểm này đã được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tại Đại hội XIII. Tuy nhiên, Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV phát triển tư duy này lên một cấp độ mới khi yêu cầu “tiếp tục hoàn thiện, triển khai hiệu quả tổ chức bộ máy mới của hệ thống chính trị; xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân công, cơ chế hoạt động, kiểm tra, giám sát và mối quan hệ giữa các tổ chức, cơ quan, đơn vị ở Trung ương và địa phương, bảo đảm hoạt động thông suốt, đồng bộ, nhịp nhàng”[1]. Sự phát triển này xuất phát từ việc chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đòi hỏi phải phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền giữa Trung ương – địa phương, giữa cấp chính quyền và cơ quan Đảng, Mặt trận, đoàn thể, để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và tránh chồng chéo. Đồng thời, yêu cầu “xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân công” cũng hướng tới bảo đảm sự thông suốt của quyền lực nhà nước và sự lãnh đạo thống nhất của Đảng trên toàn hệ thống.

Hai là, Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV đã mở rộng và phát triển nội dung hoàn thiện thể chế phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Bên cạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, Dự thảo đã bổ sung các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư là những chủ thể tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong hoạt động "tự chủ - tự quản" theo pháp luật. Các chủ thể này không chỉ tham gia mà còn "tự chủ - tự quản" theo pháp luật”[1], phối hợp với chính quyền và Đảng, qua đó tạo điều kiện để nhân dân tham gia thực thi và bảo đảm dân chủ tại cơ sở. Đặc biệt, mặc dù các văn kiện của Đảng đều quy định cụ thể Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình, đây là lần đầu tiên Đảng nhấn mạnh cần “xây dựng và thực thi hiệu quả cơ chế giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của các tổ chức đảng”[1], không chỉ với các cơ quan nhà nước. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc khẳng định quyền làm chủ của nhân dân đối với cả hệ thống chính trị, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình của Đảng trước Nhân dân.

Ba là, Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy về xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, với mỗi nội dung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đều nhấn mạnh yêu cầu tương ứng. Cụ thể, đối với việc hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Dự thảo đặt ra yêu cầu: “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tạo đột phá để sớm hoàn thiện đồng bộ”[1]. Sự bổ sung này phản ánh nhận định trong Dự thảo rằng thể chế vẫn là điểm nghẽn lớn trong phát triển, từ đó đòi hỏi sự chuyển biến quyết liệt và cấp bách hơn. Bên cạnh đó, tiếp nối quan điểm về giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, xã hội, trong Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV, Đảng cũng đặt ra yêu cầu giải quyết hiệu quả mối quan hệ này và “khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển”[1]. Đối với nội dung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, Đảng nhấn mạnh phải “bảo đảm thuận lợi, công khai, minh bạch, ổn định”[1]. Điều này cho thấy Đảng xác định rõ hơn các tiêu chí cốt lõi của môi trường kinh doanh hiện đại, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập sâu rộng. Về mô hình tăng trưởng, Đại hội XIII đã đề cập vai trò của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, song Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV đã xác định hoàn thiện thể chế “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính”[1]. Điều này phản ánh sự nhận thức sâu sắc về vai trò của kinh tế số trong kỷ nguyên mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự cụ thể hóa này còn được thể hiện qua việc lần đầu tiên Dự thảo liệt kê chi tiết các lĩnh vực công nghệ mới cần xây dựng pháp luật để quản lý và thúc đẩy, bao gồm công nghệ tài chính (Fintech), tài sản số, và trí tuệ nhân tạo (AI). Về hoàn thiện hệ thống pháp luật, Dự thảo đưa ra loạt lĩnh vực hoàn toàn mới trong văn kiện của Đảng, bao gồm: công nghệ tài chính, tài sản số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, các ngành công nghệ mới... trong yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Đặc biệt, về chiến lược phát triển đột phá, Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIVđã thể hiện tầm nhìn chiến lược vượt trội thông qua việc đề xuất "cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội"[1] cho các mô hình kinh tế mới như kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn (được đặt ngang hàng với kinh tế số) và các dự án hạ tầng, không gian kinh tế chiến lược mang tính dẫn dắt quốc gia như đường sắt tốc độ cao, trung tâm tài chính quốc tế, hay điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi. Đây là sự cụ thể hóa mạnh mẽ và mở rộng phạm vi chiến lược, vượt ra khỏi khuôn khổ chung về cơ cấu lại nền kinh tế đã được đề cập tại Đại hội XIII, nhằm tạo ra những cực tăng trưởng mới cho đất nước.

Bốn là, về thể chế văn hóa. Trên cơ sở tiếp nối nhiệm vụ đã nêu tại Đại hội XIII: “nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người... Việt Nam trong thời kỳ mới”[3,tr.143], Dự thảo đã nhấn mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cần gắn với bốn giá trị cơ bản: Dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học.

Năm là, về thể chế quản lý phát triển xã hội. Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV nêu rõ yêu cầu: “Đẩy mạnh đổi mới và hoàn thiện thể chế quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững, tăng cường sự tham gia của các chủ thể, sự giám sát của Nhân dân; gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội.” [1]. Nếu như Đại hội XIII nhấn mạnh “xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa”[3, tr.148], nghĩa là “giải quyết hài hoà các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân” [3,tr.148] và chủ yếu nói đến các nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân thì Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV bổ sung thêm yêu cầu thể chế này cần phải “hiện đại, bao trùm, bền vững”, “tăng cường sự tham gia của các chủ thể” và “sự giám sát của Nhân dân” [1] trong quản lý phát triển xã hội. Đây là những điểm mới thể hiện rõ sự chuyển dịch từ việc triển khai chính sách xã hội theo hướng chủ yếu do Nhà nước bảo đảm sang mô hình mà trong đó xã hội, người dân và các tổ chức đại diện tham gia vào hoạch định và giám sát chính sách.

Sáu là, về thể chế quản lý tài nguyên môi trường. Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV nêu rõ: Hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Chủ động xây dựng thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn”[1]. Có thể thấy, Dự thảo nhấn mạnh vai trò thể chế quản lý tài nguyên, môi trường ở cả ba cấp độ: quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, và ứng phó biến đổi khí hậu. Đồng thời, yêu cầu chủ động xây dựng thể chế nhằm phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Đây là sự mở rộng quan trọng phù hợp với các xu thế toàn cầu về phát triển bền vững, chuyển dịch năng lượng và bảo vệ môi trường.

Bảy là, về thể chế quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV thể hiện bước phát triển mới và toàn diện trong tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, hoàn thiện thể chế quốc phòng, an ninh và đối ngoại khi khẳng định: “Xây dựng, hoàn thiện thể chế quốc phòng, an ninh, đối ngoại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Thể chế hoá đầy đủ, đồng bộ các quan điểm, đường lối của Đảng về quốc phòng, an ninh, đối ngoại để xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới[1]. Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chủ động hội nhập quốc tế. Đến Dự thảo Đại hội XIV, Đảng đề cập đến “xây dựng, hoàn thiện thể chế quốc phòng, an ninh, đối ngoại” như một nhóm nhiệm vụ về thể chế. Cụ thể, “thể chế hoá đầy đủ, đồng bộ các quan điểm, đường lối của Đảng về quốc phòng, an ninh, đối ngoại[1]. Qua đó cho thấy cách tiếp cận mới của Đảng: quốc phòng, an ninh và đối ngoại không chỉ là các lĩnh vực chiến lược mà cần có khung pháp lý, cơ chế và chính sách được đồng bộ hoá, nhằm bảo đảm tính nhất quán và sức mạnh tổng hợp trong quá trình bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Đặc biệt, Dự thảo nêu rõ cần: “Bổ sung, hoàn thiện thể chế để phát huy cao nhất vai trò của 3 trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam tiên phong, toàn diện, hiện đại”[1]. Trên cơ sở ba trụ cột đối ngoại đã được xác định từ Đại hội XIII, Dự thảo đặt ra nhiệm vụ “bổ sung, hoàn thiện thể chế” nhằm phát huy “sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam tiên phong, toàn diện, hiện đại”[1]. Yêu cầu “tiên phong” và “hiện đại” cho thấy Đảng đặt đối ngoại vào vị trí chủ động trong môi trường cạnh tranh chiến lược và biến động địa chính trị toàn cầu, đồng thời nhấn mạnh sự phát triển của ngoại giao Việt Nam theo hướng chủ động thích ứng, có năng lực dẫn dắt, không chỉ theo sau các xu thế quốc tế.

Kết luận

Có thể khẳng định, các điểm mới về xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là quá trình phát triển tư duy của Đảng trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước. Thể chế vừa là điều kiện, vừa là động lực, vừa là phương thức để hiện thực hoá mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, xây dựng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Việc Đảng nhấn mạnh “hoàn thiện toàn diện” và “hoàn thiện đồng bộ” cho thấy phạm vi thể chế đã được nhìn nhận một cách đầy đủ và đa chiều hơn, bao trùm mọi lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Từ góc độ lý luận và thực tiễn, những điều chỉnh, bổ sung về quan điểm thể chế phát triển trong Dự thảo khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trước những biến đổi nhanh chóng của môi trường phát triển, đồng thời khẳng định quyết tâm đổi mới tư duy, đổi mới quản trị quốc gia, nhằm đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển cao hơn với nền tảng thể chế hiện đại, hội nhập và mang bản sắc Việt Nam.

 

Tài liệu tham khảo:

[1] Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[4] Thùy Linh (2024), “Khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV”, https://tapchicongsan.org.vn

 

Đọc thêm

Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm với khu vực và thế giới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tác giả: TRIỆU QUANG MINH

(GDLL) Bài viết chỉ ra cơ sở xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; những thách thức trong quá trình hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân hiện đại ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại theo nội dung văn kiện Đại hội XIV cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV - bước phát triển về tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên mới

Tác giả: PHẠM THỊ TRỌNG HIẾU

(GDLL) Sau 40 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, hình thành hệ thống “Lý luận về đường lối đổi mới”. Bài viết phân tích tính tất yếu, nội dung cốt lõi của lý luận về đường lối đổi mới và vai trò, ý nghĩa của việc bổ sung thành tố lý luận này vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới - bước phát triển tất yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội và định hướng chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đẩy mạnh đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc tổ quốc trước mọi tình huống nhất là chú trọng công nghệ cao trong Dự thảo VĂn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VĂN ĐỨC

(GDLL) Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại trong đó chú trọng công nghệ cao là nhiệm vụ trọng yếu để bảo vệ Tổ quốc...

Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGUYỄN TIẾN SÁNG - ĐẶNG THỊ TỐ TÂM

(GDLL) Kinh tế tư nhân hiện nay đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trên cơ sở nội dung Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết phân tích vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đề xuất giải pháp phát huy vai trò động lực của khu vực này đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số, gắn với yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGÔ QUANG HUY

(GDLL) Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Bài viết bàn về thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam thời gian tới.