Thứ Bảy, ngày 10/01/2026, 09:55

Bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV - bước phát triển về tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên mới

PHẠM THỊ TRỌNG HIẾU
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) Sau 40 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, hình thành hệ thống “Lý luận về đường lối đổi mới”. Bài viết phân tích tính tất yếu, nội dung cốt lõi của lý luận về đường lối đổi mới và vai trò, ý nghĩa của việc bổ sung thành tố lý luận này vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới - bước phát triển tất yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội và định hướng chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

 

Việt Nam vững bước phát triển sau gần 40 năm Đổi mới (nguồn news.vnanet.vn)

 

Đặt vấn đề

Quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, lâu dài và liên tục, tạo ra bước ngoặt lịch sử trong sự phát triển của đất nước. Trong Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng và xác định: “Đến năm 2025, cần hoàn thiện cơ bản hệ thống lý luận về đường lối đổi mới; đến năm 2030 có thể bổ sung, làm phong phú hơn nền tảng tư tưởng của Đảng” [3, tr.70]. Điều đó cho thấy, “Lý luận về đường lối đổi mới” đã trở thành hệ thống lý luận có vai trò nền tảng, cần được chính thức bổ sung vào nền tảng tư tưởng của Đảng cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để tiếp tục dẫn dắt thực hiện thành công khát vọng, tầm nhìn và các định hướng phát triển mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

1. Tính tất yếu của việc bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong Dự thảo văn kiện Đại hội XIV

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu có tính nguyên tắc trong quy luật phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Việc bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ được quyết định bởi thực tiễn đổi mới hay bối cảnh thời đại, mà còn bắt nguồn từ một yêu cầu mang tính nguyên tắc trong sự phát triển của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). C.Mác, Ph.Ăngghen nhiều lần khẳng định: "Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc" [5, tr.628]. Hệ tư tưởng XHCN là "lý luận của sự phát triển", nghĩa là nó luôn được bổ sung và phát triển để phù hợp với hoàn cảnh thực tế thay đổi, chứ không phải là những công thức có sẵn, bất biến. Do đó, việc vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển lý luận gắn với điều kiện thực tiễn mỗi quốc gia, mỗi Đảng Cộng sản là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự thành công của sự nghiệp xây dựng CNXH. Việc bổ sung các thành tựu lý luận mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu tất yếu, phù hợp với bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thứ hai, sự chín muồi của thực tiễn đổi mới và yêu cầu hệ thống hóa lý luận trong bối cảnh mới.

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo quá trình đổi mới, Đảng ta luôn xác định: “Công tác tư tưởng, lý luận là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ... thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[1, tr.41]. Quá trình này là bước chuyển từ việc “vận dụng”, “tổng kết thực tiễn” sang việc “hệ thống hóa”, “khái quát hóa thành lý luận” - một tiến trình logic trong phát triển lý luận của Đảng. Lý luận không chỉ khái quát những gì đã làm, mà còn có chức năng dự báo, dẫn đường và chỉ đạo tương lai: “Lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng hành với thực tiễn, phải có tầm nhìn vượt trước[4, tr.17]. Công cuộc đổi mới đất nước đã tạo nên bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của chế độ XHCN ở Việt Nam với những kết quả nổi bật. Quy mô nền kinh tế tăng gấp nhiều lần, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao; thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng hoàn thiện; quốc phòng - an ninh được củng cố; độc lập, chủ quyền được giữ vững... Khi thực tiễn đã phát triển đến mức độ nhất định và có nhiều thành tựu mang tính hệ thống thì đặt ra yêu cầu lý luận phải được nâng lên tương ứng.

Trong Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định: “Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã từng bước hình thành và hoàn thiện được lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam. Đây là sự vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể Việt Nam thời kỳ mới; là sự phát triển sáng tạo lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, phù hợp với các quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước và xu thế thời đại; kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa, giá trị văn hóa và các thành tựu phát triển của nhân loại” [3, tr.22].

Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc hoàn thiện thể chế và phương thức lãnh đạo của Đảng.

Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam đang thực hiện những nhiệm vụ đột phá: chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN; xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập; phát triển kinh tế số, xã hội số và công dân số; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị... Tất cả những nhiệm vụ đó đòi hỏi một cơ sở lý luận mang tính tổng hợp, hiện đại và phù hợp thực tiễn Việt Nam. Đó chính là “Lý luận về đường lối đổi mới”. Năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ dựa trên tổ chức hay chất lượng cán bộ mà còn dựa trên: sức mạnh của nền tảng tư tưởng; chất lượng tư duy lý luận; năng lực hoạch định chủ trương, chính sách. Sự phát triển của đất nước đòi hỏi Đảng phải có hệ thống lý luận mạnh hơn, đầy đủ hơn, rõ ràng hơn. Đó là yêu cầu tất yếu của một Đảng cầm quyền trong bối cảnh mới. Điều này phù hợp với các nghị quyết, chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

2. Nội dung cơ bản của “Lý luận về đường lối đổi mới”

Một là, hệ thống quan điểm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đảng đã xác định rõ mô hình CNXH với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xác định tám đặc trưng, tám phương hướng và mười mối quan hệ cần giải quyết trong quá trình đi lên CNXH, hình thành các trụ cột của mô hình như kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN do Đảng lãnh đạo.

Hai là, hệ thống quan điểm về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đây là một trong những đột phá lớn nhất trong tư duy lý luận của Đảng từ sau Đại hội VI. Đảng đã khẳng định: kinh tế thị trường là tất yếu khách quan... là phương thức để xây dựng CNXH; kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH; mô hình kinh tế này vừa vận hành theo quy luật thị trường, vừa chịu sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN nhằm bảo đảm mục tiêu XHCN. Nội dung cốt lõi bao gồm: phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, hoàn thiện các loại thị trường, xử lý hài hòa quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng.

Ba là, hệ thống quan điểm về phát triển văn hóa, xã hội và con người. Đảng khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển các lĩnh vực văn hóa theo hướng hiện đại, hội nhập nhưng vẫn giữ bản sắc. Trong lĩnh vực xã hội, phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, hướng đến nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Về giáo dục và đào tạo, Đảng nhất quán quan điểm phát triển con người toàn diện, kết hợp giữa tri thức, đạo đức, năng lực sáng tạo và lý tưởng XHCN.

Bốn là, hệ thống quan điểm về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Hình thành hệ thống quan điểm toàn diện về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, coi đây là sức mạnh toàn diện... nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Đảng xác định phải kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh - đối ngoại với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, bảo đảm ổn định chính trị trong mọi tình huống. Về đối ngoại, nhận thức lý luận phát triển mạnh theo hướng nâng tầm đối ngoại đa phương, chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đồng thời kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trước các thách thức và hành động can thiệp từ bên ngoài. Nền ngoại giao toàn diện, hiện đại được xác lập, thống nhất ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân nhằm phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của đất nước trong hội nhập quốc tế.

Năm là, hệ thống quan điểm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là trụ cột then chốt trong toàn bộ hệ lý luận đổi mới. Đảng đề ra yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tăng cường kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, nhất là người đứng đầu. Nhiều nội dung lý luận quan trọng được bổ sung như: xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ XHCN và vai trò của Nhân dân trong quản trị đất nước.

3. Vai trò, ý nghĩa của việc bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng

Thứ nhất, khẳng định bước phát triển vượt bậc về tư duy lý luận của Đảng, đồng thời tạo nền tảng lý luận thống nhất cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Trước hết, việc đưa “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng thể hiện rõ bước trưởng thành mới về năng lực tư duy lý luận của Đảng trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đại hội XIII đã nhấn mạnh: “Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được bổ sung, phát triển, hoàn thiện qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng”[2, tr.72]. Điều đó cho thấy sự phát triển của “Lý luận về đường lối đổi mới” không phải là sự cộng gộp kinh nghiệm mà là quá trình khái quát hóa khoa học, làm rõ những quy luật vận động mới của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.

Sự thống nhất này không chỉ là sự thống nhất về quan điểm, mà còn là sự thống nhất về phương pháp tư duy, về cách tiếp cận đổi mới: đổi mới có nguyên tắc, đổi mới toàn diện nhưng không đổi màu, đổi mới vì mục tiêu xây dựng CNXH và phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh. Như vậy, việc bổ sung lý luận Đổi mới vào nền tảng tư tưởng chính là điều kiện bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng - lý luận, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho sự thống nhất trong hành động của toàn hệ thống chính trị.

Thứ hai, cung cấp cơ sở lý luận cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước nhanh, bền vững, tự lực, tự chủ, tự cường.

Trong bối cảnh thế giới đang chuyển biến với tốc độ nhanh chóng, sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, nền kinh tế toàn cầu đối mặt nhiều biến động khó lường, việc xây dựng một hệ thống lý luận vững chắc cho phát triển đất nước là yêu cầu cấp bách. “Lý luận về đường lối đổi mới” chính là cơ sở khoa học giúp Đảng xác định đường hướng phát triển phù hợp, phát triển nhanh gắn với bền vững, độc lập tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

“Lý luận về đường lối đổi mới” cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - mô hình mà Việt Nam là quốc gia đầu tiên xây dựng và thực tiễn chứng minh tính đúng đắn. Việc đưa lý luận đổi mới vào nền tảng tư tưởng tạo cơ sở để tiếp tục lý giải đầy đủ, nhất quán mô hình này, định hình rõ cấu trúc, quan hệ và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường đặc thù Việt Nam, từ đó làm nền tảng cho các chiến lược phát triển trung và dài hạn.

“Lý luận về đường lối đổi mới” tạo nền tảng tư duy mới cho việc xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, gắn với chiến lược phát triển bền vững và năng lực chống chịu cao. Trong bối cảnh nhiều rủi ro toàn cầu như đại dịch, đứt gãy chuỗi cung ứng, xung đột địa - kinh tế, biến đổi khí hậu..., một nền kinh tế muốn phát triển phải dựa trên lý luận vững chắc, đảm bảo hài hòa giữa nội lực và ngoại lực, giữa độc lập tự chủ và hội nhập. “Lý luận về đường lối đổi mới” cung cấp tầm nhìn và phương pháp luận để xử lý các quan hệ lớn này.

“Lý luận về đường lối đổi mới” là cơ sở để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn... - những ngành, lĩnh vực mà Việt Nam phải chủ động chinh phục nếu muốn bứt phá. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Đổi mới phải đi vào chiều sâu, đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu cho phát triển nhanh và bền vững. Như vậy, việc bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ giúp củng cố phương pháp luận cho lãnh đạo phát triển đất nước mà còn tạo nền tảng lý luận khoa học cho mọi chính sách chiến lược, đảm bảo đất nước đi đúng hướng, phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

Thứ ba, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng cầm quyền, tạo động lực mới cho phát triển đất nước.

Một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh cầm quyền của Đảng là năng lực lý luận, khả năng giải thích thuyết phục các vấn đề của thời đại và đưa ra đường lối phù hợp với lợi ích dân tộc. Khi “Lý luận về đường lối đổi mới” được chính thức hóa trong nền tảng tư tưởng, Đảng có cơ sở lý luận mạnh hơn để thể hiện vai trò lãnh đạo chính trị - tư tưởng đối với toàn xã hội, từ đó nâng cao tính chính danh của mình với tư cách Đảng cầm quyền.

Đảng là lực lượng duy nhất cầm quyền, xây dựng, định hướng phát triển đất nước bằng tư duy khoa học, không giáo điều, không rập khuôn mà sáng tạo trên cơ sở thực tiễn Việt Nam. Việc hệ thống hóa “Lý luận về đường lối đổi mới” cho thấy Đảng không chỉ là người tổ chức thực tiễn, mà còn là chủ thể sáng tạo lý luận - yếu tố cốt lõi bảo đảm sự cầm quyền bền vững.

Một Đảng cầm quyền muốn giữ được vai trò lãnh đạo phải có khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp và đưa ra các quyết sách chiến lược. “Lý luận về đường lối đổi mới” chính là cơ sở để định hướng những quyết sách như vậy. Khi “Lý luận về đường đổi mới” được nâng lên thành nền tảng tư tưởng, nó mang tính hiệu triệu mạnh mẽ, truyền cảm hứng đổi mới sáng tạo, khơi dậy “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” [2, tr.28].

Kết luận

Việc bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu khách quan, cấp bách trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Khẳng định năng lực sáng tạo lý luận độc lập của Đảng Cộng sản Việt Nam; củng cố nền tảng tư tưởng thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; đồng thời mở ra không gian tư duy mới cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên hội nhập, chuyển đổi số và toàn cầu hóa. Việc bổ sung này sẽ tiếp tục tăng cường sức mạnh lãnh đạo của Đảng, tạo cơ sở lý luận vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[4] Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia (2025), Công tác lý luận của Đảng và những định hướng nghiên cứu quan trọng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[5] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Đọc thêm

Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm với khu vực và thế giới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tác giả: TRIỆU QUANG MINH

(GDLL) Bài viết chỉ ra cơ sở xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; những thách thức trong quá trình hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân hiện đại ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại theo nội dung văn kiện Đại hội XIV cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VIỆT HÀ

(GDLL) Bài viết phân tích những điểm mới trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam về “hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Từ đó góp phần làm rõ Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là bước tiến quan trọng về lý luận của Đảng, khẳng định vị trí trung tâm của thể chế đối với các đột phá phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đẩy mạnh đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc tổ quốc trước mọi tình huống nhất là chú trọng công nghệ cao trong Dự thảo VĂn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VĂN ĐỨC

(GDLL) Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại trong đó chú trọng công nghệ cao là nhiệm vụ trọng yếu để bảo vệ Tổ quốc...

Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGUYỄN TIẾN SÁNG - ĐẶNG THỊ TỐ TÂM

(GDLL) Kinh tế tư nhân hiện nay đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trên cơ sở nội dung Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết phân tích vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đề xuất giải pháp phát huy vai trò động lực của khu vực này đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số, gắn với yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGÔ QUANG HUY

(GDLL) Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Bài viết bàn về thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam thời gian tới.