
Việt Nam vững bước phát triển sau gần 40 năm Đổi mới
(nguồn news.vnanet.vn)
Đặt vấn đề
Quá trình đổi mới từ năm 1986 đến
nay là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, lâu dài và liên tục, tạo ra bước
ngoặt lịch sử trong sự phát triển của đất nước. Trong Dự thảo văn kiện Đại hội
XIV của Đảng đã bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của
Đảng và xác định: “Đến năm 2025, cần hoàn thiện cơ bản hệ thống lý luận về đường
lối đổi mới; đến năm 2030 có thể bổ sung, làm phong phú hơn nền tảng tư tưởng của
Đảng” [3, tr.70].
Điều đó cho thấy, “Lý luận về đường lối đổi mới” đã trở thành hệ thống lý luận
có vai trò nền tảng, cần được chính thức bổ sung vào nền tảng tư tưởng của Đảng
cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để tiếp tục dẫn dắt thực
hiện thành công khát vọng, tầm nhìn và các định hướng phát triển mới trong kỷ
nguyên vươn mình của dân tộc.
1.
Tính tất yếu của việc bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng
của Đảng trong Dự thảo văn kiện Đại hội XIV
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu có tính nguyên tắc trong quy luật phát
triển của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Việc bổ sung “Lý luận về đường
lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ được quyết định bởi thực
tiễn đổi mới hay bối cảnh thời đại, mà còn bắt nguồn từ một yêu cầu mang tính nguyên tắc trong sự phát triển
của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). C.Mác, Ph.Ăngghen nhiều
lần khẳng định: "Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ
không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách
máy móc" [5, tr.628].
Hệ tư tưởng XHCN là "lý luận của sự phát triển", nghĩa là nó luôn được
bổ sung và phát triển để phù hợp với hoàn cảnh thực tế thay đổi, chứ không phải
là những công thức có sẵn, bất biến. Do đó, việc vận dụng sáng tạo, bổ sung và
phát triển lý luận gắn với điều kiện thực tiễn mỗi quốc gia, mỗi Đảng Cộng sản
là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự thành công của sự nghiệp xây dựng CNXH. Việc
bổ sung các thành tựu lý luận mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu tất
yếu, phù hợp với bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thứ hai, sự chín muồi của thực tiễn đổi mới và yêu cầu hệ thống hóa lý
luận trong bối cảnh mới.
Trong quá
trình lãnh đạo, chỉ đạo quá trình đổi mới, Đảng ta luôn xác định: “Công tác tư
tưởng, lý luận là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động
của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế
độ... thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc” [1, tr.41]. Quá trình
này là bước chuyển từ việc “vận dụng”, “tổng kết thực tiễn” sang việc “hệ thống
hóa”, “khái quát hóa thành lý luận” - một tiến trình logic trong phát triển lý
luận của Đảng. Lý luận không chỉ khái quát những gì đã làm, mà còn có chức năng
dự báo, dẫn đường và chỉ đạo tương lai: “Lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng
hành với thực tiễn, phải có tầm nhìn vượt trước” [4, tr.17]. Công cuộc đổi mới đất nước đã tạo nên bước ngoặt quan
trọng trong sự phát triển của chế độ XHCN ở Việt Nam với những kết quả nổi bật.
Quy mô nền kinh tế tăng gấp nhiều lần, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể;
vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao; thể chế kinh tế thị trường
định hướng XHCN ngày càng hoàn thiện; quốc phòng - an ninh được củng cố; độc lập,
chủ quyền được giữ vững... Khi thực tiễn đã phát triển đến mức độ nhất định và
có nhiều thành tựu mang tính hệ thống thì đặt ra yêu cầu lý luận phải được nâng
lên tương ứng.
Trong Dự thảo
văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định: “Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi
mới, Đảng ta đã từng bước hình thành và hoàn thiện được lý luận về đường lối đổi
mới ở Việt Nam. Đây là sự vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể Việt Nam thời kỳ mới; là
sự phát triển sáng tạo lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, phù
hợp với các quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước và xu thế thời
đại; kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa,
giá trị văn hóa và các thành tựu phát triển của nhân loại” [3, tr.22].
Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc hoàn thiện thể chế và
phương thức lãnh đạo của Đảng.
Trong kỷ
nguyên mới, Việt Nam đang thực hiện những nhiệm vụ đột phá: chuyển đổi mô hình
tăng trưởng gắn với khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền XHCN; xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập; phát triển
kinh tế số, xã hội số và công dân số; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; hoàn
thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị... Tất cả những nhiệm
vụ đó đòi hỏi một cơ sở lý luận mang tính tổng hợp, hiện đại và phù hợp thực tiễn
Việt Nam. Đó chính là “Lý luận về đường lối đổi mới”. Năng lực cầm quyền của Đảng
không chỉ dựa trên tổ chức hay chất lượng cán bộ mà còn dựa trên: sức mạnh của
nền tảng tư tưởng; chất lượng tư duy lý luận; năng lực hoạch định chủ trương,
chính sách. Sự phát triển của đất nước đòi hỏi Đảng phải có hệ thống lý luận mạnh
hơn, đầy đủ hơn, rõ ràng hơn. Đó là yêu cầu tất yếu của một Đảng cầm quyền
trong bối cảnh mới. Điều này phù hợp với các nghị quyết, chủ trương xây dựng,
chỉnh đốn Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện
nay.
2. Nội dung cơ bản của “Lý luận về đường lối đổi mới”
Một là, hệ thống quan điểm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở
Việt Nam. Đảng đã xác định rõ mô hình CNXH với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”,
xác định tám đặc trưng, tám phương hướng và mười mối quan hệ cần giải quyết
trong quá trình đi lên CNXH, hình thành các trụ cột của mô hình như kinh tế thị
trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN do Đảng
lãnh đạo.
Hai là, hệ thống quan điểm về phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Đây là một trong những đột phá lớn
nhất trong tư duy lý luận của Đảng từ sau Đại hội VI. Đảng đã khẳng định: kinh
tế thị trường là tất yếu khách quan... là phương thức để xây dựng CNXH; kinh tế
thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời
kỳ quá độ lên CNXH; mô hình kinh tế này vừa vận hành theo quy luật thị trường,
vừa chịu sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN nhằm bảo đảm mục tiêu XHCN. Nội
dung cốt lõi bao gồm: phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, hoàn thiện các
loại thị trường, xử lý hài hòa quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội, đẩy mạnh
CNH, HĐH và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng.
Ba là, hệ thống quan điểm về phát triển văn hóa, xã hội và con người. Đảng khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Xác định nhiệm vụ trọng tâm là
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển các
lĩnh vực văn hóa theo hướng hiện đại, hội nhập nhưng vẫn giữ bản sắc. Trong
lĩnh vực xã hội, phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, hướng
đến nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Về giáo dục và đào tạo, Đảng nhất
quán quan điểm phát triển con người toàn diện, kết hợp giữa tri thức, đạo đức,
năng lực sáng tạo và lý tưởng XHCN.
Bốn là, hệ thống quan điểm về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Hình thành hệ thống quan điểm toàn diện về xây dựng nền
quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, coi đây là sức mạnh toàn diện...
nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Đảng
xác định phải kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh - đối ngoại với phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, bảo đảm ổn định
chính trị trong mọi tình huống. Về đối ngoại, nhận thức lý luận phát triển mạnh
theo hướng nâng tầm đối ngoại đa phương, chủ động tham gia và phát huy vai trò
tại các cơ chế đa phương, đồng thời kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc
trước các thách thức và hành động can thiệp từ bên ngoài. Nền ngoại giao toàn
diện, hiện đại được xác lập, thống nhất ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao
Nhà nước và đối ngoại Nhân dân nhằm phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của đất
nước trong hội nhập quốc tế.
Năm là, hệ thống quan điểm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng,
chỉnh đốn Đảng là trụ cột then chốt trong toàn bộ hệ lý luận đổi mới. Đảng đề
ra yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả;
tăng cường kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây
dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, nhất là người đứng đầu. Nhiều
nội dung lý luận quan trọng được bổ sung như: xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ XHCN và vai trò của
Nhân dân trong quản trị đất nước.
3. Vai trò, ý nghĩa của việc bổ sung “Lý luận về đường lối
đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng
Thứ nhất, khẳng định bước phát triển vượt bậc về tư duy lý luận của Đảng,
đồng thời tạo nền tảng lý luận thống nhất cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Trước hết,
việc đưa “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng thể hiện rõ bước
trưởng thành mới về năng lực tư duy lý luận của Đảng trong giai đoạn đổi mới và
hội nhập quốc tế sâu rộng. Đại hội XIII đã nhấn mạnh: “Lý luận về đường lối đổi
mới của Đảng tiếp tục được bổ sung, phát triển, hoàn thiện qua thực tiễn lãnh đạo
cách mạng”[2, tr.72].
Điều đó cho thấy sự phát triển của “Lý luận về đường lối đổi mới” không phải là
sự cộng gộp kinh nghiệm mà là quá trình khái quát hóa khoa học, làm rõ những
quy luật vận động mới của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
Sự thống nhất
này không chỉ là sự thống nhất về quan điểm, mà còn là sự thống nhất về phương
pháp tư duy, về cách tiếp cận đổi mới: đổi mới có nguyên tắc, đổi mới toàn diện
nhưng không đổi màu, đổi mới vì mục tiêu xây dựng CNXH và phát triển đất nước
giàu mạnh, dân chủ, văn minh. Như vậy, việc bổ sung lý luận Đổi mới vào nền tảng tư tưởng chính là điều kiện bảo đảm
sự thống nhất về tư tưởng - lý luận, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho sự thống nhất
trong hành động của toàn hệ thống chính trị.
Thứ hai, cung cấp cơ sở lý luận cho việc hoạch định đường lối, chính
sách phát triển đất nước nhanh, bền vững, tự lực, tự chủ, tự cường.
Trong bối cảnh
thế giới đang chuyển biến với tốc độ nhanh chóng, sự cạnh tranh chiến lược giữa
các nước lớn ngày càng gay gắt, nền kinh tế toàn cầu đối mặt nhiều biến động
khó lường, việc xây dựng một hệ thống lý luận vững chắc cho phát triển đất nước
là yêu cầu cấp bách. “Lý luận về đường lối đổi mới” chính là cơ sở khoa học
giúp Đảng xác định đường hướng phát triển phù hợp, phát triển nhanh gắn với bền
vững, độc lập tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
“Lý luận về
đường lối đổi mới” cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - mô hình mà Việt Nam là quốc gia đầu tiên
xây dựng và thực tiễn chứng minh tính đúng đắn. Việc đưa lý luận đổi mới vào nền
tảng tư tưởng tạo cơ sở để tiếp tục lý giải đầy đủ, nhất quán mô hình này, định
hình rõ cấu trúc, quan hệ và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường đặc thù
Việt Nam, từ đó làm nền tảng cho các chiến lược phát triển trung và dài hạn.
“Lý luận về
đường lối đổi mới” tạo nền tảng tư duy mới cho việc xây dựng nền kinh tế tự chủ,
tự lực, tự cường, gắn với chiến lược phát triển bền vững và năng lực chống chịu
cao. Trong bối cảnh nhiều rủi ro toàn cầu như đại dịch, đứt gãy chuỗi cung ứng,
xung đột địa - kinh tế, biến đổi khí hậu..., một nền kinh tế muốn phát triển phải
dựa trên lý luận vững chắc, đảm bảo hài hòa giữa nội lực và ngoại lực, giữa độc
lập tự chủ và hội nhập. “Lý luận về đường lối đổi mới” cung cấp tầm nhìn và
phương pháp luận để xử lý các quan hệ lớn này.
“Lý luận về
đường lối đổi mới” là cơ sở để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn... - những ngành, lĩnh vực mà
Việt Nam phải chủ động chinh phục nếu muốn bứt
phá. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định:
Đổi mới phải đi vào chiều sâu, đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu cho phát
triển nhanh và bền vững. Như vậy, việc bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới”
vào nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ giúp củng cố phương pháp luận cho lãnh
đạo phát triển đất nước mà còn tạo nền tảng lý luận khoa học cho mọi chính sách
chiến lược, đảm bảo đất nước đi đúng hướng, phát triển bền vững trong kỷ nguyên
mới.
Thứ ba, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng cầm quyền, tạo động lực mới
cho phát triển đất nước.
Một trong
những yếu tố tạo nên sức mạnh cầm quyền của Đảng là năng lực lý luận, khả năng
giải thích thuyết phục các vấn đề của thời đại và đưa ra đường lối phù hợp với
lợi ích dân tộc. Khi “Lý luận về đường lối đổi mới” được chính thức hóa trong nền
tảng tư tưởng, Đảng có cơ sở lý luận mạnh hơn để thể hiện vai trò lãnh đạo
chính trị - tư tưởng đối với toàn xã hội, từ đó nâng cao tính chính danh của
mình với tư cách Đảng cầm quyền.
Đảng là lực
lượng duy nhất cầm quyền, xây dựng, định hướng phát triển đất nước bằng tư duy
khoa học, không giáo điều, không rập khuôn mà sáng tạo trên cơ sở thực tiễn Việt
Nam. Việc hệ thống hóa “Lý luận về đường lối đổi mới” cho thấy Đảng không chỉ
là người tổ chức thực tiễn, mà còn là chủ thể sáng tạo lý luận - yếu tố cốt lõi
bảo đảm sự cầm quyền bền vững.
Một Đảng cầm
quyền muốn giữ được vai trò lãnh đạo phải có khả năng giải quyết các vấn đề phức
tạp và đưa ra các quyết sách chiến lược. “Lý luận về đường lối đổi mới” chính
là cơ sở để định hướng những quyết sách như vậy. Khi “Lý luận về đường đổi mới”
được nâng lên thành nền tảng tư tưởng, nó mang tính hiệu triệu mạnh mẽ, truyền
cảm hứng đổi mới sáng tạo, khơi dậy “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh
phúc” [2, tr.28].
Kết luận
Việc bổ
sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu khách
quan, cấp bách trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Khẳng định năng lực
sáng tạo lý luận độc lập của Đảng Cộng sản Việt Nam; củng cố nền tảng tư tưởng
thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; đồng thời mở ra không gian tư
duy mới cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên hội nhập, chuyển đổi số và toàn
cầu hóa. Việc bổ sung này sẽ tiếp tục tăng cường sức mạnh lãnh đạo của Đảng, tạo
cơ sở lý luận vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ
nguyên mới.
Tài
liệu tham khảo:
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam
(2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương
khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam
(2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam
(2025), Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[4] Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia (2025), Công tác lý luận của Đảng và những định hướng nghiên cứu
quan trọng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tập 1, Nxb. Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995),
Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội.