Thứ Hai, ngày 02/02/2026, 16:53

Từ khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam

Nguyễn Xuân Trung - Hà Thị Mỹ Hạnh
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) Bài viết tập trung làm rõ khát vọng đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa là sứ mệnh lịch sử, vừa là kim chỉ nam cho hành trình phát triển đất nước. Bài viết phân tích quan điểm của Đảng trong hiện thực hóa khát vọng này, nhấn mạnh vai trò của đổi mới toàn diện, hội nhập sâu rộng, phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh, đối ngoại và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng. Đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm đưa Việt Nam vươn mình mạnh mẽ, phát triển bền vững và hội nhập toàn cầu.

 

Đại hội XIV của Đảng Hà Nội và hành trình thổi bùng sức sống, bước vào kỷ nguyên mới (nguồn news.vnanet.vn)

Đặt vấn đề

Tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng đưa Việt Nam không chỉ “theo kịp” mà còn “sánh vai với các cường quốc năm châu” thể hiện mục tiêu chiến lược, sứ mệnh lịch sử và tầm nhìn vĩ đại của Người đối với sự phát triển của dân tộc. Thành công của Cách mạng Tháng Tám (1945) mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, đồng thời đặt nền tảng cho việc xây dựng một quốc gia giàu mạnh, hùng cường, thịnh vượng. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và đổi mới toàn diện hiện nay, khát vọng này vẫn là kim chỉ nam định hướng con đường phát triển của đất nước. Việc nghiên cứu, làm rõ và phát huy một số nội dung cơ bản về khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và liên hệ với hành trình vươn mình mạnh mẽ, toàn diện của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới là một yêu cầu phù hợp về lý luận và thực tiễn.

1. Về khát vọng Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ nhất, xây dựng Tổ quốc hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, phồn vinh, có quan hệ hữu nghị với các dân tộc trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mong muốn xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, tự do, hạnh phúc; “Mong cho nước thịnh, dân cường”[3, t.4, tr.246]. Trong trả lời phỏng vấn về tương lai của dân tộc Việt Nam sau chiến tranh, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hoà bình được lập lại, nhân dân Việt Nam sẽ đem hết sức mình xây dựng lại Tổ quốc để biến nó thành một nước thống nhất, hoà bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, có quan hệ hữu nghị với tất cả các dân tộc hoà bình trên thế giới”[3, t.15, tr.187].

Thứ hai, xây dựng nền giáo dục tiến bộ, hiện đại; nâng cao dân trí, trọng dụng nhân tài.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh giáo dục là nền tảng thực hiện khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Trong “Thư gửi các học sinh” nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”[3, t.4, tr.35]. Để hiện thực hóa khát vọng này, cần xây dựng “một nền giáo dục của một nước độc lập”, “một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” tiến bộ và hiện đại, đào tạo con người cho xã hội mới, trở thành “những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam”[3, t.4, tr.34].

Người nhấn mạnh cốt lõi là dạy thế hệ trẻ yêu nước, thương nòi, tự lập, tự cường, “quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”[3, t.5, tr.120], đồng thời rèn “các kỹ thuật để trở thành những tay chuyên môn nhân tài ứng dụng vào các ngành thực nghiệp và các cơ quan hành chính”[3, t.4, tr.98-99].

Hồ Chí Minh cũng coi việc nâng cao dân trí là nhiệm vụ cấp bách ngay sau giành độc lập: “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”[3, t.4, tr.40], đồng thời giáo dục lại nhân dân, xóa bỏ “những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô” để dân tộc trở nên “dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”[3, t.4, tr.7]. Người đề xuất chiến dịch giáo dục tinh thần nhân dân theo chuẩn “Cần, kiệm, liêm, chính”[3, t.4, tr.7], đồng thời nâng cao nhận thức của mỗi công dân “về quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”[3, t.4, tr.40].

Học tập và lao động được Hồ Chí Minh xem là công cụ xây dựng đất nước giàu mạnh: “Tôi cũng mong anh chị em trí thức, sinh viên và công nhân gắng sức học tập nắm vững khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới, để sau này về nước góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc ta mau chóng trở thành một nước giàu mạnh”[3, t.15, tr.543]. Người đặc biệt chú trọng trọng dụng nhân tài, “khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”[3, t.4, tr.114], sử dụng đúng năng lực, sở trường để phát huy tối đa tài năng, tránh lãng phí.

Ba là, Đảng là người định hướng, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng; Nhà nước quản lý xã hội và tổ chức thực hiện đường lối phù hợp với lòng dân; Nhân dân là người làm chủ nước nhà, đóng vai trò quyết định tới vận mệnh đất nước.

Hồ Chí Minh luôn khẳng định và nhấn mạnh: “Đảng cách mệnh” là “người cầm lái” con thuyền cách mạng. Cần giữ vững vai trò lãnh đạo, thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng; “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội”[3, t.12, tr.374]. Trong sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của nhân dân đối với vận mệnh dân tộc: “nước Việt Nam ta sau này thịnh hay suy, mạnh hay yếu, trách nhiệm ở toàn thể quốc dân”[3, t.4, tr.36].

Chăm lo sức khỏe và đời sống của mỗi công dân là trách nhiệm của toàn xã hội: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt; mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”[3, t.4, tr.241]. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân cường thì quốc thịnh”[3, t.4, tr.241] và kêu gọi mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng, địa phương trở thành “kiểu mẫu” về chính trị, kinh tế, quân sự. “Một tỉnh kiểu mẫu, một nước kiểu mẫu, thì thế giới biết nước ta là một nước đáng được độc lập, thống nhất; dân tộc tự do; kháng chiến thắng lợi”[3, t.5, tr.77]; “Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường”, “văn minh”[3, t.5, tr.117-118].

Đoàn kết toàn dân là điều kiện then chốt để bảo vệ độc lập, phát triển đất nước: “Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn”[3, t.4, tr.55]. Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh mở rộng đoàn kết ra cộng đồng người Việt ở nước ngoài và các dân tộc hữu bang, thực hiện “Tứ hải giai huynh đệ”. Nước Việt Nam được thịnh vượng thì các bạn cũng được hạnh phúc”[3, t.4, tr.273]. Bởi, “Sự chia rẽ và chia cắt không thể mang lại phồn vinh”[3, t.4, tr.328-329].

Bốn là, để xây dựng Việt Nam độc lập, giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc cần tập trung phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng, an ninh, đối ngoại vững mạnh.

Hồ Chí Minh khẳng định phát triển kinh tế là nền tảng để “làm cho nước giàu, dân mạnh”[3, t.4, tr.530], “Thực túc binh cường”. Người chỉ rõ: “Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”[3, t.14, tr.311]. Mỗi ngành, lĩnh vực đều quan trọng: nông nghiệp là gốc của quốc gia, công nghiệp và công thương nghiệp phải phát triển song song để xây dựng nền kinh tế tự chủ, giàu mạnh. Hồ Chí Minh nhấn mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, máy móc hiện đại, phát huy sáng tạo và nâng cao năng suất lao động để đời sống nhân dân dồi dào và xã hội phát triển bền vững.

Về văn hóa - xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng con người “muốn điều khiển và sản xuất được các máy móc hiện đại, cán bộ và công nhân ta cần phải ra sức học tập văn hoá và kỹ thuật”[3, t.12, tr.459-460] để góp phần xây dựng đất nước. Về quan hệ quốc tế, Người nhấn mạnh mở rộng hợp tác, hữu nghị trên cơ sở tôn trọng độc lập, học hỏi kỹ thuật và quản lý của các nước tiên tiến, đồng thời giữ vững chính nghĩa và ngoại giao nhân văn. “Phải đối đãi rất thành thật và hữu nghị với các chuyên gia các nước anh em sang giúp nước ta”[3, t.15, tr.225].

Trong Di chúc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh mục tiêu cuối cùng: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[3, t.15, tr.624].

2. Quan điểm của Đảng và hành trình khơi dậy, thực hiện khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đến nay đã không ngừng bổ sung, phát triển lý luận về đường lối chiến lược của cách mạng, khẳng định về mục tiêu, xác lập các chặng đường tiến bước tiếp theo của đất nước, đồng thời khơi dậy khát vọng về giành và giữ độc lập tự do, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc và cũng là hành trình đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do và thống nhất nước nhà. Sau năm 1975, thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh với khát vọng đưa đất nước tiến lên. Từ năm 1986 đến nay, Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, thực hiện “vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[2, t.1, tr.9]. Để hiện thực hoá khát vọng xây dựng nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc và sánh vai với các cường quốc năm châu theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Một là, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng; Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, bảo đảm vai trò định hướng toàn diện; Ba là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Bốn là, phát huy vai trò và sức mạnh của các chủ thể, lực lượng trong xã hội để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; Năm là, mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác chặt chẽ và hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cao vị thế quốc gia.

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn lên từ nước nghèo trở thành quốc gia đang phát triển, thu nhập trung bình cao, hội nhập sâu rộng và đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế. Việt Nam nằm trong nhóm 40 nền kinh tế lớn, 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại, thu hút đầu tư, duy trì quan hệ với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ; đời sống nhân dân cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, tiềm lực quốc gia không ngừng nâng cao. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách trọng yếu nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, tạo đà phát triển, nổi bật là bộ tứ chiến lược: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Những nghị quyết này là nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, củng cố nền tảng vững chắc cho đất nước vươn tới phồn vinh, hạnh phúc.

Việt Nam từng bước cải cách thể chế, chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa kinh tế thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu, tập trung phát triển nội lực. Kinh tế luôn tăng trưởng, tốc độ ổn định. Từ 4,4% (1986-1990) lên đạt 6,5%/năm (1990-2022). Quy mô nền kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Năm 2024, Việt Nam đạt 476,3 tỷ USD, đứng thứ 4 Đông Nam Á và nằm trong top 35 toàn cầu. GDP bình quân đầu người tăng từ gần 100 USD (năm 1986) lên hơn 4.700 USD (năm 2024) năm 2025 khoảng 5000USD. Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, đã ký kết và triển khai 17 Hiệp định thương mại tự do, gọi vốn đầu tư nước ngoài từ 60 nền kinh tế tiếp cận 200 thị trường toàn cầu. Kim ngạch thương mại liên tục tăng, đạt 786,3 tỷ USD (năm 2024), Việt Nam nằm trong nhóm 20 nền kinh tế có thương mại lớn thế giới, trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn toàn cầu[4]; chủ động tham gia các cam kết toàn cầu, khẳng định vai trò là một đối tác tin cậy, có trách nhiệm vì tương lai chung của nhân loại. Việt Nam tham gia chống biến đổi khí hậu, chủ động chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng xanh, phát thải thấp; quan hệ ngoại giao với 191 quốc gia, tham gia tích cực hơn 70 tổ chức quốc tế; là thành viên tích cực của Liên Hợp quốc, ASEAN, APEC, WTO, thể hiện bản lĩnh, trách nhiệm, vì một thế giới đa phương, công bằng và phát triển hài hoà. Việt Nam thể hiện rõ vai trò trung gian hoà giải, thúc đẩy đối thoại, hợp tác vì hoà bình và phát triển bền vững.

Thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng, trọng tâm là kinh tế số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị quốc gia. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tập trung tăng trưởng bền vững, bảo vệ môi trường, thúc đẩy khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trên mọi lĩnh vực, hướng tới nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu, gắn kết chặt chẽ với thị trường quốc tế, đảm bảo phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Đời sống vật chất và tinh thần của 105 triệu dân ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; Việt Nam hoàn thành sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ. Tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại cùng vị thế quốc gia trong khu vực và trên trường quốc tế được nâng cao. Cải cách bộ máy, thực hiện chính quyền 3 cấp với 34/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ 1/7/2025, giảm tầng nấc trung gian, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động, linh hoạt, đồng thời tái cấu trúc tổ chức, nâng cao năng lực quản trị và phát triển nội lực, kết hợp hài hòa với ngoại lực để đưa Việt Nam vươn lên.

Song song với cải cách bộ máy, chuyển đổi số quốc gia được đẩy mạnh trong mọi lĩnh vực, là bước tiến quan trọng để Việt Nam thích ứng và phát triển trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo và công nghệ số. Đây là thời kỳ đất nước chuyển mình, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

3. Một số giải pháp thực hiện khát vọng vươn lên của dân tộc trong kỷ nguyên mới

Một là, tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức. Đẩy mạnh tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về các truyền thống tốt đẹp, khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường; nâng cao ý thức, trách nhiệm cống hiến cho sự phát triển chung, lan tỏa giá trị tích cực trong xã hội và khuyến khích hành động, lối sống hữu ích. Phát huy sức mạnh nội tại, không dựa dẫm bên ngoài để vượt qua khó khăn, biến mục tiêu thành hiện thực.

Hai là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, thiết thực, hiệu quả, chất lượng đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức, kỹ năng số. Đề cao tính sáng tạo, đổi mới tư duy, thích ứng với sự phát triển của công nghệ. Định hướng đúng về đào tạo ngành nghề, đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập suốt đời, phát triển các mô hình, phương thức học tập đa dạng, phù hợp với mọi đối tượng. Xây dựng cơ chế tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, tạo môi trường để phát huy tối đa năng lực, sở trường góp phần tạo nên những đột phá cho quốc gia.

Ba là, tạo động lực cho đổi mới, sáng tạo. Khuyến khích tư duy độc lập,tự chủ, đổi mới, dám nghĩ dám làm, có cơ chế tạo môi trường để phát triển nhân tài và cống hiến. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ tư duy đổi mới, sáng tạo, dám đột phá vì lợi ích chung. Khơi nguồn sáng tạo cho cán bộ, viên chức, người lao động phát huy sở trường, tài năng và ý chí quyết đoán trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ được giao trước khó khăn thử thách; xử lý các trường hợp đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật.

Bốn là, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng vững mạnh, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tạo môi trường hoà bình cho phát triển.Thực hiện tốt đối sách và chiến lược giữ vững an ninh quốc gia “trong ấm, ngoài êm”, “nội yên, ngoại tĩnh” trong bối cảnh thế giới biến động, diễn biến phức tạp, khó lường nhằm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.

Năm là, nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; phát triển kinh tế xanh bền vững và phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ thông tin đồng bộ, hiện đại, kết nối quốc tế.

Sáu là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, nền quản trị quốc gia hiện đại sẽ tạo đột phá trong huy động, sử dụng tối ưu và nuôi dưỡng các nguồn lực để thực hiện khát vọng vươn lên. Xây dựng cơ chế vận hành của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị đảm bảo thống nhất, thông suốt, nhanh nhạy, hiệu lực, hiệu quả. Lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững. Chủ động hội nhập quốc tế chính là con đường để Việt Nam tiếp cận các nguồn lực, thị trường, công nghệ từ bên ngoài, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Tích cực tháo gỡ những nút thắt, điểm nghẽn về kinh tế - xã hội, đặc biệt là phòng, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực; khơi thông động lực thực hiện khát vọng vươn lên; đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Kết luận

Hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng là xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước trên con đường chủ nghĩa xã hội. Đây là mạch nguồn tư duy vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính thời đại, thể hiện ý chí độc lập, tự cường, nhằm không chỉ tránh tụt hậu so với thế giới mà còn vươn lên hội nhập, phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu. Từ khi đổi mới đến nay, đặc biệt trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ, trở thành quốc gia hòa bình, phát triển, hội nhập sâu rộng và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Việt Nam đang tiến bước cùng thời đại, chủ động kiến tạo tương lai và hiện thực hóa khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khát khao.

Tài liệu tham khảo:

[1] Báo Điện tử Chính phủ (2025), TOÀN VĂN: Dự thảo các VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG,https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[3] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[4] Thanh Nguyên (2025), Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc năm châu, https://tapchikinhtetaichinh.vn

Đọc thêm

Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm với khu vực và thế giới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tác giả: TRIỆU QUANG MINH

(GDLL) Bài viết chỉ ra cơ sở xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; những thách thức trong quá trình hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân hiện đại ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại theo nội dung văn kiện Đại hội XIV cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV - bước phát triển về tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên mới

Tác giả: PHẠM THỊ TRỌNG HIẾU

(GDLL) Sau 40 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, hình thành hệ thống “Lý luận về đường lối đổi mới”. Bài viết phân tích tính tất yếu, nội dung cốt lõi của lý luận về đường lối đổi mới và vai trò, ý nghĩa của việc bổ sung thành tố lý luận này vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới - bước phát triển tất yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội và định hướng chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VIỆT HÀ

(GDLL) Bài viết phân tích những điểm mới trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam về “hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Từ đó góp phần làm rõ Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là bước tiến quan trọng về lý luận của Đảng, khẳng định vị trí trung tâm của thể chế đối với các đột phá phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đẩy mạnh đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc tổ quốc trước mọi tình huống nhất là chú trọng công nghệ cao trong Dự thảo VĂn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VĂN ĐỨC

(GDLL) Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại trong đó chú trọng công nghệ cao là nhiệm vụ trọng yếu để bảo vệ Tổ quốc...

Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGUYỄN TIẾN SÁNG - ĐẶNG THỊ TỐ TÂM

(GDLL) Kinh tế tư nhân hiện nay đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trên cơ sở nội dung Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết phân tích vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đề xuất giải pháp phát huy vai trò động lực của khu vực này đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số, gắn với yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.