
Đại hội XIV của Đảng Hà Nội và hành trình thổi
bùng sức sống, bước vào kỷ nguyên mới (nguồn news.vnanet.vn)
Đặt vấn
đề
Tư tưởng Hồ Chí
Minh về khát vọng đưa Việt Nam không chỉ “theo kịp” mà còn “sánh vai với các cường
quốc năm châu” thể hiện mục tiêu chiến lược, sứ mệnh lịch sử và tầm nhìn vĩ đại
của Người đối với sự phát triển của dân tộc. Thành công của Cách mạng Tháng Tám
(1945) mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, đồng thời đặt nền tảng cho việc xây dựng
một quốc gia giàu mạnh, hùng cường, thịnh vượng. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng
và đổi mới toàn diện hiện nay, khát vọng này vẫn là kim chỉ nam định hướng con
đường phát triển của đất nước. Việc nghiên cứu, làm rõ và phát huy một số nội
dung cơ bản về khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” trong tư tưởng
Hồ Chí Minh và liên hệ với hành trình vươn mình mạnh mẽ, toàn diện của dân tộc
Việt Nam trong kỷ nguyên mới là một yêu cầu phù hợp về lý luận và thực tiễn.
1.
Về khát vọng Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu theo tư tưởng Hồ Chí
Minh
Thứ
nhất, xây dựng Tổ quốc hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, phồn vinh, có
quan hệ hữu nghị với các dân tộc trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn mong muốn xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, tự do, hạnh
phúc; “Mong cho nước thịnh, dân cường”[3, t.4, tr.246]. Trong trả lời phỏng
vấn về tương lai của dân tộc Việt Nam sau chiến tranh, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hoà
bình được lập lại, nhân dân Việt Nam sẽ đem hết sức mình xây dựng lại Tổ quốc để
biến nó thành một nước thống nhất, hoà bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, có
quan hệ hữu nghị với tất cả các dân tộc hoà bình trên thế giới”[3, t.15, tr.187].
Thứ
hai, xây dựng nền giáo dục tiến bộ, hiện đại; nâng cao dân trí, trọng dụng nhân
tài.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh
giáo dục là nền tảng thực hiện khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm
châu”. Trong “Thư gửi các học sinh” nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, Người khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp
hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường
quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các
em”[3, t.4, tr.35]. Để hiện thực hóa khát vọng này, cần xây dựng “một nền giáo dục của một
nước độc lập”, “một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” tiến bộ và hiện đại, đào tạo
con người cho xã hội mới, trở thành “những người công dân hữu ích cho nước Việt
Nam”[3, t.4, tr.34].
Người nhấn mạnh cốt
lõi là dạy thế hệ trẻ yêu nước, thương nòi, tự lập, tự cường, “quyết không chịu
thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”[3, t.5, tr.120], đồng thời rèn
“các kỹ thuật để trở thành những tay chuyên môn nhân tài ứng dụng vào các ngành
thực nghiệp và các cơ quan hành chính”[3, t.4, tr.98-99].
Hồ Chí Minh cũng
coi việc nâng cao dân trí là nhiệm vụ cấp bách ngay sau giành độc lập: “Một
trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”[3, t.4, tr.40], đồng thời giáo dục lại nhân dân, xóa bỏ “những thói xấu, lười biếng,
gian giảo, tham ô” để dân tộc trở nên “dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”[3, t.4, tr.7]. Người đề xuất chiến dịch giáo dục tinh thần nhân dân theo chuẩn “Cần,
kiệm, liêm, chính”[3, t.4, tr.7], đồng thời nâng cao nhận thức của mỗi công dân “về quyền lợi của mình, bổn
phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng
nước nhà”[3, t.4, tr.40].
Học tập và lao động
được Hồ Chí Minh xem là công cụ xây dựng đất nước giàu mạnh: “Tôi cũng mong anh
chị em trí thức, sinh viên và công nhân gắng sức học tập nắm vững khoa học kỹ
thuật tiên tiến của thế giới, để sau này về nước góp phần vào công cuộc xây dựng
Tổ quốc ta mau chóng trở thành một nước giàu mạnh”[3, t.15, tr.543]. Người đặc biệt
chú trọng trọng dụng nhân tài, “khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì
nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”[3, t.4, tr.114], sử dụng đúng năng
lực, sở trường để phát huy tối đa tài năng, tránh lãng phí.
Ba
là, Đảng là người định hướng, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng; Nhà nước quản lý xã
hội và tổ chức thực hiện đường lối phù hợp với lòng dân; Nhân dân là người làm
chủ nước nhà, đóng vai trò quyết định tới vận mệnh đất nước.
Hồ Chí Minh luôn khẳng
định và nhấn mạnh: “Đảng cách mệnh” là “người cầm lái” con thuyền cách mạng. Cần
giữ vững vai trò lãnh đạo, thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, nâng cao
năng lực cầm quyền của Đảng; “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh
hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân
dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà
nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội”[3, t.12, tr.374]. Trong sự nghiệp
cách mạng, Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của nhân dân đối với vận mệnh dân tộc:
“nước Việt Nam ta sau này thịnh hay suy, mạnh hay yếu, trách nhiệm ở toàn thể
quốc dân”[3, t.4, tr.36].
Chăm lo sức khỏe và
đời sống của mỗi công dân là trách nhiệm của toàn xã hội: “Mỗi một người dân yếu
ớt, tức là cả nước yếu ớt; mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”[3, t.4, tr.241]. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân cường thì quốc thịnh”[3, t.4, tr.241] và kêu gọi mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng, địa phương trở thành “kiểu
mẫu” về chính trị, kinh tế, quân sự. “Một tỉnh kiểu mẫu, một nước kiểu mẫu, thì
thế giới biết nước ta là một nước đáng được độc lập, thống nhất; dân tộc tự do;
kháng chiến thắng lợi”[3, t.5, tr.77]; “Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới, thì dân tộc nhất định
sẽ phú cường”, “văn minh”[3, t.5, tr.117-118].
Đoàn kết toàn dân
là điều kiện then chốt để bảo vệ độc lập, phát triển đất nước: “Không đoàn kết
thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn”[3, t.4, tr.55]. Hồ Chí Minh còn
nhấn mạnh mở rộng đoàn kết ra cộng đồng người Việt ở nước ngoài và các dân tộc
hữu bang, thực hiện “Tứ hải giai huynh đệ”. Nước Việt Nam được thịnh vượng thì
các bạn cũng được hạnh phúc”[3, t.4, tr.273]. Bởi, “Sự chia rẽ
và chia cắt không thể mang lại phồn vinh”[3, t.4, tr.328-329].
Bốn
là, để xây dựng Việt Nam độc lập, giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc cần tập trung
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng, an ninh, đối ngoại vững mạnh.
Hồ Chí Minh khẳng định
phát triển kinh tế là nền tảng để “làm cho nước giàu, dân mạnh”[3, t.4, tr.530], “Thực túc binh cường”. Người chỉ rõ: “Tăng gia là tay phải của hạnh
phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”[3, t.14, tr.311]. Mỗi ngành, lĩnh vực
đều quan trọng: nông nghiệp là gốc của quốc gia, công nghiệp và công thương
nghiệp phải phát triển song song để xây dựng nền kinh tế tự chủ, giàu mạnh. Hồ
Chí Minh nhấn mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, máy móc hiện đại, phát huy sáng
tạo và nâng cao năng suất lao động để đời sống nhân dân dồi dào và xã hội phát
triển bền vững.
Về văn hóa - xã hội,
Hồ Chí Minh cho rằng con người “muốn điều khiển và sản xuất được các máy móc hiện
đại, cán bộ và công nhân ta cần phải ra sức học tập văn hoá và kỹ thuật”[3, t.12, tr.459-460] để góp phần xây dựng đất nước. Về quan hệ quốc tế, Người nhấn mạnh mở rộng
hợp tác, hữu nghị trên cơ sở tôn trọng độc lập, học hỏi kỹ thuật và quản lý của
các nước tiên tiến, đồng thời giữ vững chính nghĩa và ngoại giao nhân văn. “Phải
đối đãi rất thành thật và hữu nghị với các chuyên gia các nước anh em sang giúp
nước ta”[3, t.15, tr.225].
Trong Di chúc, Hồ
Chí Minh nhấn mạnh mục tiêu cuối cùng: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu,
xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[3, t.15, tr.624].
2.
Quan điểm của Đảng và hành trình khơi dậy, thực hiện khát vọng phát triển đất
nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Từ khi Đảng Cộng sản
Việt Nam được thành lập đến nay đã không ngừng bổ sung, phát triển lý luận về
đường lối chiến lược của cách mạng, khẳng định về mục tiêu, xác lập các chặng
đường tiến bước tiếp theo của đất nước, đồng thời khơi dậy khát vọng về giành
và giữ độc lập tự do, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Cách mạng Tháng
Tám thành công đã mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc và cũng là hành trình đấu
tranh bảo vệ độc lập, tự do và thống nhất nước nhà. Sau năm 1975, thực hiện hàn
gắn vết thương chiến tranh với khát vọng đưa đất nước tiến lên. Từ năm 1986 đến
nay, Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, thực hiện “vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[2, t.1, tr.9]. Để hiện thực hoá
khát vọng xây dựng nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc và sánh vai với
các cường quốc năm châu theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam
khẳng định: Một là, giương cao ngọn
cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt của
cách mạng; Hai là, đổi mới phương
thức lãnh đạo và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, bảo đảm vai trò định hướng
toàn diện; Ba là, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả; Bốn là, phát huy vai
trò và sức mạnh của các chủ thể, lực lượng trong xã hội để thực hiện khát vọng
phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; Năm
là, mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác chặt chẽ và hội nhập quốc tế
sâu rộng, nâng cao vị thế quốc gia.
Sau 40 năm đổi mới,
Việt Nam đã vươn lên từ nước nghèo trở thành quốc gia đang phát triển, thu nhập
trung bình cao, hội nhập sâu rộng và đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế. Việt
Nam nằm trong nhóm 40 nền kinh tế lớn, 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại,
thu hút đầu tư, duy trì quan hệ với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ; đời sống
nhân dân cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, tiềm lực quốc gia không ngừng
nâng cao. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách trọng yếu nhằm tháo gỡ điểm
nghẽn, tạo đà phát triển, nổi bật là bộ tứ chiến lược: Nghị quyết số 57-NQ/TW
ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc
tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công
tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới;
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Những nghị
quyết này là nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số,
củng cố nền tảng vững chắc cho đất nước vươn tới phồn vinh, hạnh phúc.
Việt Nam từng bước
cải cách thể chế, chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang
kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa kinh tế thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy
mạnh xuất khẩu, tập trung phát triển nội lực. Kinh tế luôn tăng trưởng, tốc độ ổn
định. Từ 4,4% (1986-1990) lên đạt 6,5%/năm (1990-2022). Quy mô nền kinh tế năm
2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Năm 2024, Việt Nam đạt 476,3 tỷ USD, đứng
thứ 4 Đông Nam Á và nằm trong top 35 toàn cầu. GDP bình quân đầu người tăng từ
gần 100 USD (năm 1986) lên hơn 4.700 USD (năm 2024) năm 2025 khoảng 5000USD. Việt
Nam chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, đã ký kết và triển khai 17 Hiệp định
thương mại tự do, gọi vốn đầu tư nước ngoài từ 60 nền kinh tế tiếp cận 200 thị
trường toàn cầu. Kim ngạch thương mại liên tục tăng, đạt 786,3 tỷ USD (năm 2024),
Việt Nam nằm trong nhóm 20 nền kinh tế có thương mại lớn thế giới, trở thành điểm
đến hấp dẫn của dòng vốn toàn cầu[4]; chủ động tham gia
các cam kết toàn cầu, khẳng định vai trò là một đối tác tin cậy, có trách nhiệm
vì tương lai chung của nhân loại. Việt Nam tham gia chống biến đổi khí hậu, chủ
động chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng xanh, phát thải thấp; quan hệ ngoại
giao với 191 quốc gia, tham gia tích cực hơn 70 tổ chức quốc tế; là thành viên
tích cực của Liên Hợp quốc, ASEAN, APEC, WTO, thể hiện bản lĩnh, trách nhiệm,
vì một thế giới đa phương, công bằng và phát triển hài hoà. Việt Nam thể hiện
rõ vai trò trung gian hoà giải, thúc đẩy đối thoại, hợp tác vì hoà bình và phát
triển bền vững.
Thực hiện mục tiêu
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới trở
thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu
rộng, trọng tâm là kinh tế số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo, đồng thời nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị quốc gia. Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội tập trung tăng trưởng bền vững, bảo vệ môi trường, thúc
đẩy khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trên mọi lĩnh vực, hướng tới nền kinh
tế cạnh tranh toàn cầu, gắn kết chặt chẽ với thị trường quốc tế, đảm bảo phát
triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Đời sống vật chất và tinh thần
của 105 triệu dân ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; Việt Nam
hoàn thành sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ. Tiềm lực kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại cùng vị thế
quốc gia trong khu vực và trên trường quốc tế được nâng cao. Cải cách bộ máy,
thực hiện chính quyền 3 cấp với 34/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ
1/7/2025, giảm tầng nấc trung gian, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ
động, linh hoạt, đồng thời tái cấu trúc tổ chức, nâng cao năng lực quản trị và
phát triển nội lực, kết hợp hài hòa với ngoại lực để đưa Việt Nam vươn lên.
Song song với cải
cách bộ máy, chuyển đổi số quốc gia được đẩy mạnh trong mọi lĩnh vực, là bước
tiến quan trọng để Việt Nam thích ứng và phát triển trong kỷ nguyên trí tuệ
nhân tạo và công nghệ số. Đây là thời kỳ đất nước chuyển mình, nâng cao chất lượng
cuộc sống người dân và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
3.
Một số giải pháp thực hiện khát vọng vươn lên của dân tộc trong kỷ nguyên mới
Một
là, tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức. Đẩy mạnh tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về
các truyền thống tốt đẹp, khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực,
tự cường; nâng cao ý thức, trách nhiệm cống hiến cho sự phát triển chung, lan tỏa
giá trị tích cực trong xã hội và khuyến khích hành động, lối sống hữu ích. Phát
huy sức mạnh nội tại, không dựa dẫm bên ngoài để vượt qua khó khăn, biến mục
tiêu thành hiện thực.
Hai
là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đổi mới giáo dục và đào tạo
theo hướng hiện đại, thiết thực, hiệu quả, chất lượng đáp ứng yêu cầu của nền
kinh tế tri thức, kỹ năng số. Đề cao tính sáng tạo, đổi mới tư duy, thích ứng với sự phát triển của
công nghệ. Định hướng đúng về đào tạo ngành nghề, đẩy mạnh xây dựng xã hội học
tập suốt đời, phát triển các mô hình, phương thức học tập đa dạng, phù hợp với
mọi đối tượng. Xây dựng cơ chế tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, tạo
môi trường để phát huy tối đa năng lực, sở trường góp phần tạo nên những đột
phá cho quốc gia.
Ba
là, tạo động lực cho đổi mới, sáng tạo. Khuyến khích tư duy độc lập,tự chủ, đổi
mới, dám nghĩ dám làm, có cơ chế tạo môi trường để phát triển nhân tài và cống
hiến. Xây dựng cơ chế,
chính sách khuyến khích, bảo vệ tư duy đổi mới, sáng tạo, dám đột phá vì lợi
ích chung. Khơi nguồn sáng tạo cho cán bộ, viên chức, người lao động phát huy sở
trường, tài năng và ý chí quyết đoán trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện
nhiệm vụ được giao trước khó khăn thử thách; xử lý các trường hợp đùn đẩy, né
tránh trách nhiệm, bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp
luật.
Bốn
là, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng nền công nghiệp quốc phòng vững mạnh, an ninh chủ động, tự lực,
tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ, tạo môi trường hoà bình cho phát triển.Thực hiện tốt đối sách và chiến lược giữ vững an ninh quốc
gia “trong ấm, ngoài êm”, “nội yên, ngoại tĩnh” trong bối cảnh thế giới biến động,
diễn biến phức tạp, khó lường nhằm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột
từ sớm, từ xa.
Năm
là, nâng cao tiềm lực khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; phát triển kinh tế xanh bền vững và
phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ thông tin đồng bộ, hiện đại,
kết nối quốc tế.
Sáu
là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, nền quản trị quốc gia hiện đại sẽ tạo đột phá trong huy động, sử dụng tối ưu và nuôi dưỡng các nguồn lực
để thực hiện khát vọng vươn lên. Xây dựng cơ chế vận hành của cơ quan, tổ chức
trong hệ thống chính trị đảm bảo thống nhất, thông suốt, nhanh nhạy, hiệu lực,
hiệu quả. Lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp
làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền
vững. Chủ động hội nhập quốc tế chính là con đường để Việt Nam tiếp cận các nguồn
lực, thị trường, công nghệ từ bên ngoài, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
nâng cao đời sống nhân dân. Tích cực tháo gỡ những nút thắt, điểm nghẽn về kinh
tế - xã hội, đặc biệt là phòng, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực; khơi
thông động lực thực hiện khát vọng vươn lên; đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng
Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh,
hạnh phúc.
Kết
luận
Hiện thực hóa khát
vọng phát triển đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng là xây
dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước trên con đường chủ
nghĩa xã hội. Đây là mạch nguồn tư duy vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính thời
đại, thể hiện ý chí độc lập, tự cường, nhằm không chỉ tránh tụt hậu so với thế
giới mà còn vươn lên hội nhập, phát triển, sánh vai với các cường quốc năm
châu. Từ khi đổi mới đến nay, đặc biệt trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, Việt
Nam đã chuyển mình mạnh mẽ, trở thành quốc gia hòa bình, phát triển, hội nhập
sâu rộng và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Việt Nam đang tiến bước cùng
thời đại, chủ động kiến tạo tương lai và hiện thực hóa khát vọng “sánh vai với
các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khát khao.
Tài
liệu tham khảo:
[1] Báo Điện tử Chính phủ (2025), TOÀN VĂN: Dự thảo
các VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG,https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,
Tập I, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[3] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
[4] Thanh Nguyên (2025), Việt Nam sánh vai cùng các
cường quốc năm châu, https://tapchikinhtetaichinh.vn