Thứ Hai, ngày 02/02/2026, 17:00

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị của mục tiêu “hòa bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” nền tảng định hướng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Ngô Quang Trung
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu “hòa bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” là giá trị cốt lõi, thể hiện khát vọng phát triển toàn diện của dân tộc Việt Nam hướng tới vì con người và vì nhân loại tiến bộ. Bài viết làm rõ nội dung cơ bản và những giá trị bền vững của mục tiêu đó trong tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời đề xuất giải pháp vận dụng, phát triển sáng tạo những giá trị đó vào xây dựng và phát triển đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.

 

80 năm Quốc khánh (291945 - 292025) Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc (nguồn news.vnanet.vn)


Đặt vấn đề

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng. Trong hệ thống tư tưởng đó, mục tiêu “hòa bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” thể hiện khát vọng cháy bỏng của Người về một đất nước tự do, phát triển, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Đây không chỉ là mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong một thời kỳ mà là giá trị định hướng có ý nghĩa lâu dài đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định mục tiêu “...vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội[1] cho thấy sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Việc nghiên cứu, làm rõ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, định hướng cho con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

1. Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về những giá trị của mục tiêu “Hòa bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”

Về hòa bình:

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, hòa bình là một nội dung xuyên suốt, thể hiện rõ khát vọng nhân văn cao cả của Người. Theo thống kê, Hồ Chí Minh hơn một nghìn lần nhắc đến từ “hòa bình” trong các bài viết, bài nói và hoạt động thực tiễn của mình. Với Người, hòa bình phải gắn liền với độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân; không thể có hòa bình thực sự nếu dân tộc chưa được độc lập. Người khẳng định: “Bảo vệ hoà bình tức là chống chiến tranh”[4, t.11, tr.517], “Hòa bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thật sự”. “Giữ gìn hoà bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”[4,t.8, tr.273].

Hồ Chí Minh coi hòa bình là khát vọng thiêng liêng của nhân loại, là điều kiện tiên quyết để nhân dân được sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Người chỉ rõ: “Giữ gìn hoà bình là nhiệm vụ chung của toàn dân. Mỗi người dân Việt Nam phải là một chiến sĩ hăng hái đấu tranh cho hoà bình”[4, t.11,tr.518]. Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam “thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hoà bình thế giới lâu dài”[4, t.11, tr.269], trung thành với chính sách hòa bình và hợp tác trên nền tảng “năm nguyên tắc chung sống hòa bình”[4, t.11, tr.271]. “Các nước có chế độ xã hội khác nhau có thể chung sống hoà bình với nhau”[4, t.12, tr.107].

Theo Hồ Chí Minh, hòa bình phải dựa trên công lý, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, chứ không phải thứ hòa bình giả tạo dựa trên áp đặt hay khuất phục. Người nhấn mạnh: nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, song “không bao giờ hy sinh độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình để đổi lấy hòa bình”[4, t.15, tr.46].

Tư tưởng ấy thể hiện nhất quán trong đường lối đối ngoại của Việt Nam, từ phương châm “Thêm bạn, bớt thù”, “Sẵn sàng là bạn của tất cả các nước dân chủ” đến chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Hoà bình, hữu nghị luôn thường trực và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đối với Hồ Chí Minh, hòa bình vừa là mục tiêu của cách mạng, vừa là phương tiện để bảo đảm quyền sống và hạnh phúc của con người, là giá trị nhân văn bền vững trong tư tưởng của Người.

Về độc lập:

Độc lập, tự do là quyền tự nhiên, thiêng liêng, quý giá nhất, bất khả xâm phạm của các dân tộc. Người khẳng định dứt khoát: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”[4, t.15, tr131]. Độc lập mà Hồ Chí Minh nói tới là độc lập toàn diện - độc lập chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại và toàn vẹn lãnh thổ. Độc lập là không lệ thuộc, áp đặt, phải xoá bỏ mọi quan hệ bất bình đẳng, là độc lập thực sự chứ không phải giả hiệu, nửa vời, hình thức.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”[4, t.5, tr.162]. Nền độc lập và chủ quyền phải được thực hiện một cách triệt để theo nguyên tắc: Nước Việt Nam là của người Việt Nam, mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia do nhân dân Việt Nam tự quyết định, không có sự can thiệp của bên ngoài. Mọi sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam đấu tranh cho độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc luôn được nhân dân Việt Nam hoan nghênh, ghi nhớ: “Nhân dân Việt Nam rất tha thiết với hoà bình, nhưng hoà bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thật sự”[4, t.15, tr.3]. Trong bài trả lời phỏng vấn của phóng viên năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nguyện vọng của tôi cũng như nguyện vọng của nhân dân Việt Nam là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, tăng cường đoàn kết phe xã hội chủ nghĩa và giữ gìn hoà bình lâu dài trên thế giới”[4, t.14, tr.325].

Giá trị của độc lập phải được thể hiện ở ý chí tự lực, tự cường, vươn tới mục tiêu giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tự lực, tự cường là có quan điểm độc lập trong giành và giữ, bảo vệ độc lập dân tộc cũng như xây dựng phát triển đất nước, không phụ thuộc vào lực lượng bên ngoài, có quan điểm độc lập trong quan hệ quốc tế. Tự lực, tự cường trên cơ sở nhận thức rõ sức mạnh dân tộc, sức mạnh quốc tế để phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Sức mạnh nội lực của dân tộc là điểm mấu chốt để bảo đảm tiếp nhận sự giúp đỡ từ bên ngoài đạt hiệu quả: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”; Người nhấn mạnh: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”[4, t.7, tr.445]

“Hoà bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” không chỉ là yêu cầu, mục tiêu mà còn là mô hình, động lực và giá trị đích thực của cách mạng. Trong “Thư gửi uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 17/10/1945, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[4, t.4, tr.64]. “Đã làm chủ, thì mọi người, mọi dân tộc phải chung sức làm cho dân giàu nước mạnh, làm cho đời sống của nhân dân được cải thiện không ngừng, làm cho con cháu ta ngày càng sung sướng”[4, t.13, tr.104]

Về giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc:

Theo Hồ Chí Minh, độc lập, hòa bình là điều kiện, còn giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc là kết quả tất yếu của con đường cách mạng đúng đắn. Người luôn mong muốn đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu”, nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Giàu mạnh không chỉ được hiểu ở khía cạnh vật chất, mà còn bao hàm sự phát triển toàn diện về con người, văn hóa, xã hội.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phồn vinh và văn minh gắn liền với tiến bộ xã hội, với việc nâng cao dân trí, phát triển kinh tế và xây dựng đời sống văn hóa mới. Giá trị của mục tiêu giàu mạnh, phồn vinh là kết quả nỗ lực không ngừng nghỉ của mỗi một người dân và của cả cộng đồng dân tộc: “Nếu mỗi người đều tốt, thì thành làng tốt, nước mạnh. Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường”[4, t.5, tr.117]. Dân tộc giàu mạnh, phồn vinh trước hết phải làm cho “Đời sống toàn thể đồng bào ta có thể phong lưu, dồi dào”[4, t.5, tr.128]. Xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng, dân chủ có nền văn hoá tiên tiến vẫn giữ được cốt cách dân tộc, con người được phát triển toàn diện, đó là một xã hội văn minh. Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội: “Chúng ta tiến lên xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa tức là một nước có một cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập, tức là nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”[4, t.12, tr.251]. “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”[4, t.15, tr.131].

Hạnh phúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là giá trị cao nhất, là đích đến của mọi mục tiêu phát triển. Theo Hồ Chí Minh, giá trị của hạnh phúc mà mỗi con người, mỗi dân tộc có được lại chính là độc lập, tự do. Con người chỉ có hạnh phúc thực sự dưới chế độ mới: xã hội xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc”[4, t.1, tr.496]. Ở chủ nghĩa xã hội, tiêu chí đo lường, đánh giá chỉ số hạnh phúc là: “Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[4, t.13, tr.438]. “Xây dựng xã hội chủ nghĩa làm cho toàn dân ấm no, nước nhà giàu mạnh”[4, t.3, tr.48]; “Chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ”[4, t.12, tr.521]; “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận”[4, t.11, tr.354].

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu “Hòa bình, Độc lập, Giàu mạnh, Phồn vinh, Hạnh phúc” còn chứa đựng giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Một là, tư tưởng ấy khẳng định tính phổ quát của quyền con người, quyền dân tộc trong thời đại mới - quyền được sống trong hòa bình, độc lập và phát triển. Hai là,, tư tưởng này chỉ ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Ba là, Người nêu rõ mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu và phương tiện - hòa bình, độc lập là nền tảng; giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc là kết quả.

Giá trị của tư tưởng này còn thể hiện ở chỗ, Hồ Chí Minh không chỉ nói về lý tưởng mà còn đưa ra những phương thức, con đường cụ thể để đạt được. Đó là phải phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, nâng cao dân trí, bồi dưỡng đạo đức cách mạng và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

Hoà bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc đã khẳng định con đường đi đúng đắn của dân tộc Việt Nam; trở thành mục tiêu, chân lý bất di, bất dịch của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới, là những nội dung cơ bản, kim chỉ nam định hướng cho con đường đi và tương lai của đất nước. Tư tưởng của Người về giá trị của mục tiêu hoà bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc đã đóng góp to lớn về phương diện lý luận, bổ sung và làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện mới, đặc biệt là trở thành tiêu chí cụ thể đối với các nước dân chủ, tiến bộ đang hướng tới.

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tư tưởng Hồ Chí Minh về hòa bình, độc lập, phồn vinh và hạnh phúc vẫn mang giá trị thời sự sâu sắc. Nó vừa là kim chỉ nam cho đường lối, chính sách của Đảng, vừa là nền tảng tinh thần định hướng cho sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.

Ngày nay, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải nhận thức rõ rằng hòa bình, độc lập và hạnh phúc không phải là trạng thái tĩnh, mà là quá trình phấn đấu liên tục, gắn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia phải đi đôi với củng cố quốc phòng, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng văn hóa và con người Việt Nam hiện đại, nhân văn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh còn là lời nhắc nhở sâu sắc về trách nhiệm của mỗi người dân đối với Tổ quốc. Mỗi cá nhân, tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải góp phần làm cho đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc hơn. Như Người từng căn dặn: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[4, t.4. tr.7]; do đó, học tập, rèn luyện, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi công dân yêu nước.

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu “Hòa bình, Độc lập, Giàu mạnh, Phồn vinh, Hạnh phúc” là kết tinh của trí tuệ, đạo đức và tầm nhìn của Người; là sự kết hợp hài hòa giữa giá trị dân tộc và tinh hoa nhân loại; giữa khát vọng hòa bình và ý chí độc lập tự cường; giữa mục tiêu vật chất và tinh thần, cá nhân và cộng đồng. Đó không chỉ là mục tiêu của cách mạng Việt Nam, mà còn là thông điệp nhân văn có ý nghĩa toàn cầu trong thời đại hôm nay.

2. Một số giải pháp vận dụng và phát triển sáng tạo những giá trị của mục tiêu “Hoà bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” vào xây dựng chủ và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ nhất, luôn luôn quyết tâm bảo vệ và giữ vững hoà bình, độc lập dân tộc.

Không thể tách rời tinh thần độc lập dân tộc với hoà bình, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Việc lựa chọn con đường cách mạng nói chung cũng như tiến hành công cuộc đổi mới đất nước hiện nay và thực hiện mục tiêu “Hoà bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với quy luật và thời đại, mang tính lịch sử. Từ một nước thuộc địa, nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam vươn lên giành độc lập, tự do, đến nay đã thoát khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp; chủ quyền quốc gia và môi trường hoà bình được giữ vững, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế ngày càng phát triển; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao.

Thứ hai, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Tinh thần yêu nước, đoàn kết và lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong thời kỳ có độc lập, hoà bình là sự tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, vươn lên làm chủ, làm giàu nhằm xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Khơi dậy khát vọng chính là động lực mạnh mẽ đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Hoà bình, độc lập, tự do không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa chống giặc ngoại xâm hay giữ vững độc lập và chủ quyền lãnh thổ mà còn là khả năng tự chủ trong xây dựng, phát triển đất nước hiện nay trên nền tảng sức mạnh văn hoá, kinh tế, khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao.

Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước”[1, t.2, tr. 48]. Chủ động đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời các tình huống, chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ bên trong và bên ngoài ngay trong thời bình, khi chưa có chiến tranh, xung đột, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi chưa nguy.

Độc lập, tự do cho dân tộc phải đảm bảo gắn liền với tự do sáng tạo trong tư duy, học thuật, tiếp cận cơ hội phát triển một cách chính đáng từ mỗi cá nhân và cộng đồng. Chủ động, tích cực tiếp cận, khai thác có hiệu quả cơ hội và thành tựu của cách mạng công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Tập trung vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đồng bộ, thông suốt, hiệu quả. Tiếp tục nhanh chóng chuyển đổi trạng thái từ chủ yếu giải quyết thủ tục hành chính sang nền hành chính kiến tạo, phục vụ nhân dân. Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân là đòn bẩy đưa đất nước bước vào kỷ nguyên thịnh vượng.

Chăm lo và cải thiện mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá xã hội để nâng cao mức sống của nhân dân. Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an ninh con người, an ninh xã hội. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt, theo vòng đời và bao phủ toàn dân, lấy con người làm trung tâm, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân. Mở rộng và phát huy dân chủ; hoàn thiện thể chế về quyền con người và cơ chế nâng cao chỉ số hạnh phúc; nâng cao chất lượng dịch vụ công, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, có chất lượng, “không để ai bị bỏ lại phía sau”; khuyến khích làm giàu chính đáng, phát triển mạnh tầng lớp trung lưu.

Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về những giá trị của mục tiêu “Hoà bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” có ý nghĩa phổ quát vô cùng to lớn, sâu sắc, sẽ mãi mãi trường tồn, là kim chỉ nam dẫn dắt dân tộc Việt Nam tiến bước trên hành trình hiện thực hoá khát vọng xây dựng đất nước vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thấm nhuần những giá trị của mục tiêu trong tư tưởng Hồ Chí Minh để mỗi người dân Việt Nam luôn nâng cao nhận thức và tìm ra được giải pháp thiết thực trong việc bảo vệ độc lập, hoà bình cho Tổ quốc, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, đưa đất nước bứt phá mạnh mẽ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tư tưởng này của Người không chỉ là di sản tư tưởng, mà còn là chiến lược phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới - nơi khát vọng dân tộc hòa quyện với xu thế tiến bộ của nhân loại”.

 

Tài liệu tham khảo:

[1] Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Khẳng định tầm nhìn chiến lược, khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, https://baochinhphu.vn

[2] Tổng Bí thư Tô Lâm trao đổi chuyên đề “Kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”,https://baochinhphu.vn

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I; tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[5] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

 

Đọc thêm

Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm với khu vực và thế giới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tác giả: TRIỆU QUANG MINH

(GDLL) Bài viết chỉ ra cơ sở xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; những thách thức trong quá trình hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân hiện đại ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại theo nội dung văn kiện Đại hội XIV cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV - bước phát triển về tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên mới

Tác giả: PHẠM THỊ TRỌNG HIẾU

(GDLL) Sau 40 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, hình thành hệ thống “Lý luận về đường lối đổi mới”. Bài viết phân tích tính tất yếu, nội dung cốt lõi của lý luận về đường lối đổi mới và vai trò, ý nghĩa của việc bổ sung thành tố lý luận này vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới - bước phát triển tất yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội và định hướng chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VIỆT HÀ

(GDLL) Bài viết phân tích những điểm mới trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam về “hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Từ đó góp phần làm rõ Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là bước tiến quan trọng về lý luận của Đảng, khẳng định vị trí trung tâm của thể chế đối với các đột phá phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đẩy mạnh đột phá công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc tổ quốc trước mọi tình huống nhất là chú trọng công nghệ cao trong Dự thảo VĂn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tác giả: NGUYỄN VĂN ĐỨC

(GDLL) Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng hiện đại trong đó chú trọng công nghệ cao là nhiệm vụ trọng yếu để bảo vệ Tổ quốc...

Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Tác giả: NGUYỄN TIẾN SÁNG - ĐẶNG THỊ TỐ TÂM

(GDLL) Kinh tế tư nhân hiện nay đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Trên cơ sở nội dung Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết phân tích vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đề xuất giải pháp phát huy vai trò động lực của khu vực này đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số, gắn với yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.