
Phường Nha Trang, tỉnh Khánh
Hòa rực rỡ cờ hoa chào đón ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu
HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031._Ảnh: Khánh Hòa online.
1. Mở đầu
Trong
kỷ nguyên mới của dân tộc - kỷ nguyên của hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh,
phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thì yêu cầu
cụ thể hóa các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam vào thực tiễn phát triển
ở cơ sở ngày càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh triển khai mô
hình chính quyền địa phương hai cấp, việc xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ
nghĩa có ý nghĩa quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước,
như chỉ dẫn của V.I.Lênin: “Chúng ta đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống hàng
ngày, và chúng ta phải tìm hiểu cuộc sống hàng ngày” (V.I.Lênin, 2005b,
tr.358).
Trong
buổi tiếp xúc cử tri với 10 phường của Hà Nội gần đây, những gợi mở của Tổng Bí
thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc Hà Nội cần nghiên cứu xây dựng thí điểm “xã,
phường xã hội chủ nghĩa” đã đặt ra một hướng tiếp cận mới có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn. Để thực hiện được điều đó, một trong những yêu cầu trước hết
là phải thống nhất về hệ tiêu chí của xã, phường xã hội chủ nghĩa vừa bảo đảm
tính định hướng chính trị - tư tưởng, vừa có tính khả thi, cụ thể và phù hợp với
đặc điểm của từng loại hình địa phương.
Trên
cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam và các nghị quyết Trung ương về phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội, môi trường và chuyển đổi số, bài viết tập trung phân tích các nguyên tắc
xác định hệ tiêu chí, đồng thời đề xuất nội dung tiêu chí xây dựng xã, phường
xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
2. Nội dung
2.1. Nguyên
tắc xác định tiêu chí mô hình xã, phường xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Việc
xác định hệ tiêu chí của mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa không chỉ là vấn đề
kỹ thuật quản trị địa phương mà còn là quá trình cụ thể hóa lý luận về chủ
nghĩa xã hội vào thực tiễn phát triển ở cơ sở. Hệ tiêu chí này cần phản ánh được
bản chất, mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện Việt Nam hiện
nay; đồng thời bảo đảm tính khả thi, tính phát triển và khả năng lan tỏa trong
thực tiễn. Để đạt được điều đó, việc xây dựng hệ tiêu chí phải quán triệt một số
nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ
nhất, bảo đảm kế thừa chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng về đặc trưng của chủ nghĩa
xã hội. Đây là nguyên tắc mang tính nền tảng tư tưởng và định hướng cho toàn bộ
quá trình xây dựng hệ tiêu chí. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ
nghĩa xã hội là một hình thái xã hội hướng tới giải phóng con người, phát triển
lực lượng sản xuất hiện đại, xác lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất
chủ yếu, thực hiện công bằng xã hội và phát triển toàn diện con người. Mô hình
chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh được phác họa toàn diện và
thống nhất, trên từng lĩnh vực, phương diện cụ thể, trong đó, “công nghiệp hóa
xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thật sự của
nhân dân ta” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.445), kết hợp với xây dựng nền văn hóa mới
và “con người mới xã hội chủ nghĩa”.
Vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng
Cộng sản Việt Nam ngày càng hoàn thiện những đặc trưng, tiêu chí của chủ nghĩa
xã hội Việt Nam, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước và bối cảnh thời
đại. Đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam được Đảng Cộng sản xác định trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991
với 7 đặc trưng và được được bổ sung, phát triển với 8 đặc trưng tại Cương lĩnh
bổ sung, phát triển năm 2011: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng
là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân
làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển
toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và
hợp tác với các nước trên thế giới” (ĐCSVN, 2018, tr.502-503) .
Bên
cạnh đó, trước bối cảnh mới ở trong nước và quốc tế, bước phát triển mới của Đảng
về tư duy lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam được thể hiện trong những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng,
như: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong
tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành
pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số
68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh
năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số
71-NQ/TW, về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ
Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao
sức khỏe nhân dân; Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế
nhà nước; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam... Trên cơ sở
đó, nhận thức về nội dung của từng đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt
Nam ngày càng rõ hơn.
Từ
đó, hệ tiêu chí của mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa phải phản ánh được các
đặc trưng cốt lõi ấy ở cấp cơ sở. Nếu tách rời nền tảng lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng thì mô hình xã, phường
xã hội chủ nghĩa sẽ dễ rơi vào tình trạng hành chính hóa, hình thức hóa hoặc xa
rời bản chất của chủ nghĩa xã hội.
Thứ
hai, bảo đảm quan điểm lịch sử - cụ thể. Các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng quá trình xây dựng CNXH vừa
mang tính phổ biến của quy luật phát triển lịch sử, vừa mang tính đặc thù của từng
quốc gia, dân tộc. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “chúng tôi không bao giờ
quyết đoán rằng để đạt tới mục đích đó, đâu đâu cũng phải dùng những biện pháp
như nhau... Chúng tôi biết rằng cần phải chú ý đến những thiết chế, phong tục và
truyền thống của các nước khác nhau”(C.Mác và Ph.Ăngghen, 1994, tr.51).
V.I.Lênin cũng cho rằng: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó
là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội
không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi một dân tộc sẽ đưa đặc điểm của
mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay
loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải
tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội” (V.I.Lênin,
2005a, tr.159-160).
Theo
đó, việc xác định hệ tiêu chí của mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa phải phù
hợp với đặc điểm kinh tế, văn hóa, dân cư, trình độ phát triển và chức năng của
từng loại hình địa bàn. Đồng thời, tiêu chí của xã không thể hoàn toàn giống
tiêu chí của phường. Xã thường gắn với không gian nông thôn, kinh tế nông nghiệp,
cộng đồng dân cư truyền thống và yêu cầu phát triển nông nghiệp sinh thái, xây
dựng nông thôn mới hiện đại. Trong khi đó, phường gắn với môi trường đô thị,
kinh tế dịch vụ - công nghiệp, mật độ dân cư cao và yêu cầu quản trị đô thị
thông minh. Do đó, tiêu chí về hạ tầng, môi trường, chuyển đổi số, quản trị xã
hội hay phát triển kinh tế cần có sự khác biệt. Hoặc như ngay trong cùng một loại
hình, tiêu chí cũng cần được vận dụng linh hoạt: xã miền núi, biên giới, hải đảo
không thể áp dụng máy móc tiêu chí của xã đồng bằng phát triển; phường trung
tâm đô thị lớn cũng có yêu cầu khác với phường ven đô.
Thứ
ba, bảo đảm quan điểm toàn diện. Theo đó, việc
xác định hệ tiêu chí của mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa phải được tiếp cận
một cách toàn diện, không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế mà phải bao
quát tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Một mô hình xã, phường xã hội chủ
nghĩa không thể chỉ được đánh giá qua thu nhập bình quân hay tốc độ tăng trưởng
kinh tế, mà còn phải được phản ánh qua hiệu quả quản trị, mức độ dân chủ,
trình độ văn hóa, chất lượng giáo dục, y tế, môi trường sống, an ninh - trật tự,
chuyển đổi số, bình đẳng xã hội và mức độ hài lòng của nhân dân.
Quan
điểm toàn diện còn thể hiện ở chỗ các tiêu chí phải có sự liên kết hữu cơ với
nhau, tạo thành một hệ thống đồng bộ. Chẳng hạn, phát triển kinh tế phải gắn với
bảo vệ môi trường; chuyển đổi số phải gắn với nâng cao dân trí số; phát triển
đô thị phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa và bảo đảm an ninh, an sinh xã hội.
Thứ
tư, bảo đảm nhân dân là trung tâm, lấy lợi
ích chính đáng của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Đây là nguyên tắc thể hiện
rõ bản chất nhân văn và dân chủ của chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nhấn mạnh: “xây dựng cho nhân dân một đời sống ngày càng sung sướng. Đó là chủ
nghĩa xã hội” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.432). Hệ tiêu chí của mô hình xã, phường
xã hội chủ nghĩa, suy đến cùng, phải hướng đến phục vụ con người, nâng cao chất
lượng sống và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân.
Điều
này đòi hỏi các tiêu chí không chỉ phản ánh thành tựu quản lý của chính quyền
mà phải đo lường được mức độ thụ hưởng thực tế của người dân. Ví dụ, tiêu chí về
kinh tế không chỉ là tăng trưởng thu nhập mà còn là khả năng tiếp cận việc làm
chất lượng cao; tiêu chí về xã hội phải phản ánh khả năng tiếp cận giáo dục, y
tế, nhà ở, nước sạch, an sinh xã hội; tiêu chí về quản trị phải đánh giá mức độ
công khai, minh bạch, sự tham gia của người dân và mức độ hài lòng của nhân dân
đối với chính quyền cơ sở...
Nguyên
tắc này cũng yêu cầu phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong toàn bộ quá
trình xây dựng và thực hiện mô hình. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng
mà còn phải là chủ thể tham gia xây dựng tiêu chí, giám sát thực hiện và đánh
giá kết quả. Đây chính là sự cụ thể hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở cơ sở.
Thứ
năm, bảo đảm tính chỉnh thể và tiên phong, dẫn dắt.
Xã, phường xã hội chủ nghĩa không phải là một mô hình biệt lập mà là bộ phận cấu
thành của tổng thể phát triển chung của tỉnh, thành phố, vùng và quốc gia. Vì vậy,
hệ tiêu chí phải được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với chiến lược phát triển đất
nước, với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đô thị thông minh,
nông thôn hiện đại và hội nhập quốc tế.
Nguyên
tắc này đòi hỏi hệ tiêu chí phải vừa bảo đảm sự thống nhất với định hướng phát
triển chung của địa phương và quốc gia, vừa phát huy tính tiên phong, sáng tạo
của địa phương. Một xã, phường xã hội chủ nghĩa không chỉ đạt chuẩn ở phạm vi địa
phương mà còn phải có khả năng trở thành mô hình dẫn dắt, tạo động lực lan tỏa
cho các địa phương khác. Bởi vậy, cần tránh tư duy cục bộ địa phương hoặc chạy
theo thành tích riêng lẻ. Nếu một địa phương chỉ tập trung vào lợi ích trước mắt
của mình mà không gắn với quy hoạch chung, liên kết vùng và chiến lược quốc gia
thì sẽ dẫn đến phát triển manh mún, thiếu bền vững. Tính tiên phong thể hiện ở
khả năng thử nghiệm những phương thức quản trị mới, ứng dụng mạnh mẽ khoa học -
công nghệ, xây dựng chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, phát triển xanh và
nâng cao chất lượng sống của người dân.
Thứ
sáu, bảo đảm kế thừa, vận dụng linh hoạt những
giá trị từ kinh nghiệm trong nước và quốc tế về xây dựng các mô hình thí điểm.
Trong nước, có thể kế thừa nhiều giá trị từ các mô hình như xây dựng nông thôn
mới, đô thị văn minh, chính quyền số, xã chuyển đổi số, khu dân cư kiểu mẫu, mô
hình phát triển xanh và kinh tế tuần hoàn ở địa phương... Những mô hình này đã
cung cấp nhiều kinh nghiệm thực tiễn về huy động nguồn lực xã hội, phát huy vai
trò chủ thể của nhân dân, cải cách hành chính, ứng dụng khoa học - công nghệ và
nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở.
Ở
bình diện quốc tế, việc xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa cũng cần
tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia có định hướng xã hội chủ nghĩa hoặc có những
mô hình quản trị cộng đồng tiên tiến. Chẳng hạn, kinh nghiệm của Trung Quốc
trong xây dựng mô hình “khu vực thí điểm” đổi mới phát triển kinh tế số quốc
gia ở 07 địa phương, trong 7 lĩnh vực với tổng cộng 158 biện pháp cải cách, khu
Thí điểm mậu dịch tự do (FTZ), mô hình cải cách hành
chính ở quận Phố Đông (Thượng Hải)...
Thứ
bảy, bảo đảm tính khả thi trong triển khai thực
hiện, thông qua việc cụ thể hóa và định lượng hóa hệ tiêu chí. Đây là nguyên tắc
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa
không dừng lại ở khẩu hiệu chính trị hay định hướng mang tính khái quát mà có
thể triển khai, đo lường, kiểm tra và đánh giá trong thực tiễn.
Tính
khả thi trước hết đòi hỏi hệ tiêu chí phải được xây dựng rõ ràng, cụ thể, phù hợp
với năng lực tổ chức thực hiện và điều kiện nguồn lực của địa phương. Do đó, mỗi
tiêu chí cần được cụ thể hóa thành các nội dung, chỉ số và mức độ thực hiện rõ
ràng. Ví dụ, tiêu chí về “đời sống nhân dân” không chỉ dừng ở nhận định định
tính mà cần được lượng hóa thông qua các chỉ số như: thu nhập bình quân đầu người,
tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế, mức độ hài lòng của người dân, tỷ lệ lao động qua
đào tạo, tỷ lệ tiếp cận dịch vụ số công...
Tuy
nhiên, nguyên tắc định lượng hóa không đồng nghĩa với việc tuyệt đối hóa các
con số hay chỉ tiêu hành chính. Một số tiêu chí liên quan đến văn hóa, niềm tin
xã hội, chất lượng dân chủ hay mức độ gắn kết cộng đồng cần kết hợp giữa định
lượng và định tính để phản ánh đầy đủ bản chất của sự phát triển xã hội chủ
nghĩa ở cơ sở. Vì vậy, hệ tiêu chí cần được thiết kế theo hướng vừa khoa học, dễ
đo lường, vừa phản ánh được chiều sâu nhân văn và chất lượng phát triển.
Thứ
tám, bảo đảm kết hợp tính “ổn định” và tính
“linh hoạt” trong xác định tiêu chí.
Theo
đó, tính ổn định của hệ tiêu chí là điều kiện bảo đảm tính định
hướng chiến lược, tính kế thừa và sự thống nhất của mô hình xã, phường xã hội
chủ nghĩa. Các tiêu chí ổn định thường là những giá trị cốt lõi phản ánh bản chất
của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, như: Nhân dân làm chủ; phát triển vì con người;
bảo đảm công bằng xã hội; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
phát triển bền vững; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Đây là những nội dung mang tính nền tảng, không thay đổi theo từng
giai đoạn ngắn hạn hay từng địa phương cụ thể.
Tính linh
hoạt của tiêu chí xuất phát từ thực tế xã hội
luôn vận động và phát triển, nên những yêu cầu của một xã, phường xã hội chủ
nghĩa trong các giai đoạn khác nhau sẽ khác nhau, từ đó cho thấy tiêu chí của
mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa không thể cố định một lần cho mọi giai đoạn
mà cần được cập nhật theo trình độ phát triển mới của xã hội.
Ngoài
ra, sự kết hợp giữa ổn định và biến động còn phản ánh mối quan hệ giữa “mục
tiêu” và “phương thức thực hiện”. Những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội là
ổn định, nhưng cách thức đạt được các giá trị ấy phải linh hoạt, sáng tạo và
phù hợp với thời đại. Tuy nhiên, việc xác định đâu là tiêu chí ổn định, đâu là
tiêu chí linh hoạt cũng mang tính tương đối.
Các
nguyên tắc trên không tồn tại tách rời mà có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho
nhau, tạo thành cơ sở phương pháp luận cho việc xây dựng hệ tiêu chí của mô
hình xã/phường xã hội chủ nghĩa. Việc quán triệt đầy đủ các nguyên tắc này sẽ
giúp hệ tiêu chí vừa bảo đảm tính khoa học, tính chính trị và tính thực tiễn, vừa
phản ánh đúng bản chất của chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong điều kiện mới.
2.2. Đề
xuất nội dung tiêu chí mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam trong kỷ nguyên mới
Thứ
nhất, tiêu chí về kinh tế
Các nội
dung ổn định: Phát triển kinh tế gắn với nâng cao
đời sống vật chất và chất lượng sống của nhân dân; Bảo đảm công bằng xã hội
trong tiếp cận cơ hội phát triển, việc làm và dịch vụ kinh tế; Phát triển lực
lượng sản xuất hiện đại dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; Quan
hệ sản xuất phát triển theo hướng minh bạch, hợp tác, hài hòa lợi ích giữa Nhà
nước - doanh nghiệp - nhân dân; Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường
và phát triển bền vững; Khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân nhưng bảo đảm định
hướng xã hội chủ nghĩa; Bảo đảm an sinh xã hội và ổn định sinh kế cho người
dân; Xây dựng môi trường đầu tư - kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi;
Phát triển kinh tế số, xã hội số và công dân số; Nâng cao năng suất lao động và
chất lượng tăng trưởng; Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại,
bền vững và sinh thái; Bảo đảm công bằng trong tiếp cận đất đai, vốn, khoa học
- công nghệ và cơ hội phát triển; Phát triển quan hệ sản xuất theo hướng hợp
tác, liên kết và chia sẻ lợi ích; Khuyến khích phát triển hợp tác xã kiểu mới,
tổ hợp tác và kinh tế cộng đồng; Nâng cao năng suất lao động nông nghiệp và chất
lượng tăng trưởng; Gắn phát triển kinh tế với giữ gìn bản sắc văn hóa và ổn định
cộng đồng nông thôn; Phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới
hiện đại.
Các nội
dung linh hoạt: Tỷ trọng kinh tế số trong cơ cấu
kinh tế địa phương; Tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng AI, dữ liệu lớn hoặc tự động
hóa; Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt; Tỷ lệ dịch vụ công kinh tế thực hiện
trực tuyến; Mức thu nhập bình quân đầu người; Tỷ lệ lao động có kỹ năng số; Tỷ
lệ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo hoặc startup số; Tỷ lệ kinh tế xanh, kinh tế
tuần hoàn; Tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo; Tỷ lệ hộ kinh doanh sử dụng nền tảng
số; Tỷ lệ logistics thông minh, thương mại điện tử và kinh tế nền tảng; Chỉ số
hài lòng của doanh nghiệp và người dân về môi trường kinh doanh; Tỷ lệ lao động
trong ngành công nghệ cao và dịch vụ sáng tạo; Tỷ lệ cơ sở sản xuất đạt chuẩn
xanh hoặc phát thải thấp; Tỷ trọng kinh tế số nông nghiệp và thương mại điện tử
nông sản; Tỷ lệ hộ sản xuất ứng dụng công nghệ cao hoặc nông nghiệp thông minh;
Tỷ lệ hợp tác xã số hoặc hợp tác xã ứng dụng nền tảng số; Tỷ lệ sản phẩm OCOP
hoặc nông sản tham gia chuỗi giá trị; Tỷ lệ lao động nông thôn có kỹ năng số; Tỷ
lệ người dân sử dụng thanh toán số và dịch vụ tài chính số; Thu nhập bình quân
đầu người; Tỷ lệ diện tích sản xuất hữu cơ hoặc VietGAP; Tỷ lệ cơ giới hóa, tự
động hóa trong sản xuất nông nghiệp; Tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo trong sản
xuất và sinh hoạt; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp hoặc dịch vụ nông thôn; Tỷ lệ
hộ kinh doanh tham gia sàn thương mại điện tử; Tỷ lệ sản phẩm có truy xuất nguồn
gốc số; Tỷ lệ hộ dân sử dụng internet và dịch vụ công số; Tỷ lệ kinh tế xanh,
kinh tế tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp...
Thứ
hai, tiêu chí về chính trị
Các
nội dung ổn định: Bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện của
tổ chức đảng ở cơ sở; Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý và phát
triển địa phương; Xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh, hoạt động
vì nhân dân; Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với giữ vững kỷ cương, pháp
luật; Bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà
nước; Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân; Phát
huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; Giữ
vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân;
Xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức, năng lực và tinh thần phục vụ
nhân dân; Thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời phát huy đạo đức
và văn hóa cộng đồng.
Các
nội dung linh hoạt: Tỷ lệ dịch vụ công
trực tuyến và quản trị số ở cơ sở; Mức độ tham gia trực tuyến của người dân
trong góp ý chính sách và giám sát chính quyền; Tỷ lệ hồ sơ hành chính xử lý hoàn
toàn trên môi trường số; Mô hình dân chủ số, công dân số hoặc cộng đồng số; Tỷ
lệ người dân sử dụng nền tảng số để phản ánh, kiến nghị với chính quyền; Chỉ số
hài lòng của người dân đối với chính quyền cơ sở; Tỷ lệ cán bộ có kỹ năng số và
năng lực quản trị hiện đại; Mức độ tích hợp dữ liệu dân cư và quản trị thông
minh ở cơ sở; Tỷ lệ thực hiện họp dân, lấy ý kiến cộng đồng qua nền tảng số; Mức
độ ứng dụng AI, dữ liệu lớn hoặc công nghệ số trong quản trị cơ sở; Tỷ lệ người
dân tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý số; Các mô hình tự quản cộng đồng, tổ
dân phố số, thôn/xóm số; Phương thức giám sát cán bộ và kiểm soát quyền lực bằng
nền tảng số; Chỉ số cải cách hành chính, chuyển đổi số hoặc năng lực cạnh tranh
cấp cơ sở; Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ có trình độ công nghệ tham gia quản lý địa
phương.
Tuy
nhiên, giữa phường XHCN và xã XHCN vẫn có sự khác biệt tương đối trong xác định
tiêu chí. Cụ thể như: Đối với phường thì nhấn mạnh đến các yếu tố như chính quyền
số, quản trị đô thị thông minh, dân chủ số, dịch vụ công trực tuyến, quản trị dữ
liệu đô thị, tương tác số giữa chính quyền và người dân...; đối với xã thì tập
trung vào: dân vận cơ sở, tự quản cộng đồng, vai trò người có uy tín, hương ước,
quy ước cộng đồng, chuyển đổi số nông thôn, quản trị xã hội gắn với cộng đồng
dân cư truyền thống...
Thứ
ba, tiêu chí về xã hội
Các
nội dung ổn định: Bảo đảm người dân có cuộc sống ấm
no, an toàn và hạnh phúc; Bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, y tế, việc
làm và an sinh xã hội; Không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển;
Phát triển con người toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức và kỹ năng; Giảm
nghèo bền vững, bảo đảm sinh kế ổn định cho người dân; Bảo đảm mọi người dân được
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; Quan tâm chăm sóc người yếu thế, người cao
tuổi, trẻ em và người khuyết tật; Giữ vững ổn định xã hội, an ninh con người và
môi trường sống an toàn; Xây dựng cộng đồng đoàn kết, nhân văn và có trách nhiệm
xã hội; Phát triển xã hội gắn với nâng cao chất lượng sống và chỉ số hạnh phúc
của người dân...
Trong
đó, phường xã hội chủ nghĩa sẽ nhấn mạnh chất lượng sống đô thị, dịch vụ xã hội
hiện đại và công dân đô thị văn minh; xã xã hội chủ nghĩa, các tiêu chí ổn định
nhấn mạnh giảm nghèo bền vững, sinh kế nông thôn, đoàn kết cộng đồng và nâng
cao dân trí.
Các
nội dung linh hoạt: Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công số,
y tế số và giáo dục số; Tỷ lệ hồ sơ sức khỏe điện tử và khám chữa bệnh từ xa; Tỷ
lệ người dân có kỹ năng số cơ bản; Tỷ lệ lao động làm việc trong kinh tế số hoặc
ngành nghề mới; Tỷ lệ người dân sử dụng nền tảng học tập trực tuyến; Tỷ lệ
thanh toán số trong dịch vụ xã hội và dân sinh; Chỉ số hài lòng của người dân về
chất lượng sống; Các chỉ số về hạnh phúc, sức khỏe tinh thần và chất lượng môi
trường sống; Tỷ lệ người dân tham gia nền tảng cộng đồng số hoặc tương tác số với
chính quyền; Tỷ lệ lao động được đào tạo kỹ năng nghề mới và kỹ năng số; Mô
hình xã hội số, khu dân cư số, cộng đồng học tập số; Tỷ lệ người dân tiếp cận
internet tốc độ cao và nền tảng số; Các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em
hoặc người yếu thế bằng công nghệ số; Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ an sinh
xã hội số; Chỉ số an ninh con người trong bối cảnh xã hội số và biến đổi khí hậu...
Trong
đó, phường xã hội chủ nghĩa sẽ tập trung nhiều hơn vào: xã hội số, chất lượng sống
đô thị, dịch vụ xã hội hiện đại, công dân số, y tế số, giáo dục số, quản trị xã
hội thông minh; xã xã hội chủ nghĩa tập trung nhiều hơn vào: chuyển đổi số nông
thôn, sinh kế bền vững, đào tạo nghề mới, tiếp cận dịch vụ xã hội ở vùng khó
khăn, giảm chênh lệch phát triển giữa nông thôn và đô thị...
Thứ
tư, tiêu chí về văn hóa
Nội
dung ổn định: Xây dựng con người có đạo đức, lối sống
lành mạnh, tinh thần yêu nước và trách nhiệm cộng đồng; Giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc, văn hóa địa phương; Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh,
đoàn kết và nhân văn; Phát triển đời sống văn hóa cơ sở và bảo đảm quyền thụ hưởng
văn hóa của người dân; Bảo tồn di sản văn hóa, truyền thống lịch sử và phong tục
tốt đẹp của cộng đồng; Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng và nhà trường
trong giáo dục văn hóa; Xây dựng nếp sống văn minh, tôn trọng pháp luật và chuẩn
mực xã hội; Phát triển văn hóa gắn với nâng cao chất lượng sống và hạnh phúc của
nhân dân; Bảo đảm người dân được tham gia sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn
hóa; Xây dựng cộng đồng đoàn kết, tương trợ, giàu bản sắc và trách nhiệm xã hội.
Trong
đó, đối với phường xã hội chủ nghĩa, các tiêu chí ổn định nhấn mạnh văn minh đô
thị, văn hóa công dân và môi trường văn hóa hiện đại; xã xã hội chủ
nghĩa nhấn mạnh bảo tồn truyền thống, bản sắc cộng đồng và văn hóa nông thôn.
Các
nội dung linh hoạt: Tỷ lệ người dân sử dụng nền tảng số
để tiếp cận sản phẩm văn hóa; Mức độ phát triển văn hóa số, thư viện số và
không gian sáng tạo số; Tỷ lệ người dân tham gia hoạt động văn hóa trực tuyến;
Các mô hình “khu dân cư văn hóa số”, “công dân số văn minh”; Tỷ lệ thanh thiếu
niên tham gia hoạt động sáng tạo văn hóa hiện đại; Mức độ ứng dụng công nghệ
trong bảo tồn và quảng bá di sản; Chỉ số hài lòng của người dân về đời sống văn
hóa và tinh thần; Tỷ lệ người dân tham gia công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo;
Tỷ lệ trường học, cộng đồng triển khai giáo dục văn hóa số; Tỷ lệ người dân sử
dụng nền tảng học tập văn hóa và tri thức trực tuyến; Các mô hình du lịch văn
hóa, trải nghiệm văn hóa cộng đồng; Tỷ lệ nội dung văn hóa địa phương được số
hóa và quảng bá trực tuyến; Tỷ lệ người dân tham gia thể thao, hoạt động cộng đồng
và phong trào văn hóa mới; Mức độ ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai và khả năng
“đề kháng văn hóa” của cộng đồng; Các chuẩn mực ứng xử trên không gian mạng và
môi trường số...
Trong
đó, đối với phường xã hội chủ nghĩa, các tiêu chí linh hoạt tập trung nhiều hơn
vào: văn hóa đô thị hiện đại, văn hóa số, công dân số, công nghiệp văn hóa,
sáng tạo nghệ thuật, chuẩn mực ứng xử trên không gian mạng, văn minh đô thị và
hội nhập quốc tế; đối với xã sẽ tập trung nhiều hơn về bảo tồn văn hóa truyền
thống, số hóa di sản, du lịch cộng đồng, chuyển đổi số văn hóa nông thôn, giáo
dục truyền thống...
Thứ
năm, tiêu chí về môi trường sinh thái
Những
nội dung ổn định: Bảo đảm môi trường sống xanh, sạch,
an toàn cho người dân; Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và sử dụng
bền vững tài nguyên; Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; Bảo đảm
người dân được tiếp cận nước sạch, vệ sinh môi trường và không khí an toàn; Quản
lý hiệu quả chất thải, nước thải và ô nhiễm môi trường; Bảo vệ hệ sinh thái, cảnh
quan tự nhiên và đa dạng sinh học; Phát triển lối sống xanh, văn hóa môi trường
và ý thức cộng đồng; Chủ động phòng chống thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu;
Phát triển cộng đồng dân cư hài hòa với môi trường tự nhiên; Xây dựng môi trường
trở thành tiêu chí cốt lõi của chất lượng sống và phát triển bền vững.
Trong
đó, đối với phường xã hội chủ nghĩa, tiêu chí ổn định nhấn mạnh môi trường đô
thị xanh, giảm ô nhiễm và chất lượng sống đô thị; đối với xã xã hội chủ nghĩa,
tiêu chí ổn định nhấn mạnh bảo vệ hệ sinh thái nông thôn, đất, nước, rừng và
môi trường sản xuất nông nghiệp.
Những
nội dung linh hoạt: Tỷ lệ phân loại rác tại nguồn; Tỷ lệ
tái chế và tái sử dụng chất thải; Tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo trong sinh
hoạt và sản xuất; Mức độ ứng dụng công nghệ số trong giám sát môi trường; Tỷ lệ
phương tiện giao thông xanh hoặc tiết kiệm năng lượng; Chỉ số chất lượng không
khí, tiếng ồn và phát thải carbon; Tỷ lệ cơ sở sản xuất áp dụng tiêu chuẩn xanh
hoặc phát thải thấp; Mô hình kinh tế tuần hoàn, khu dân cư xanh hoặc cộng đồng
sinh thái; Tỷ lệ người dân sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường; Tỷ lệ số hóa
dữ liệu môi trường và cảnh báo thiên tai; Tỷ lệ diện tích cây xanh đô thị hoặc
diện tích sản xuất hữu cơ; Mức độ ứng dụng AI, IoT trong quản lý môi trường; Chỉ
số hài lòng của người dân về chất lượng môi trường sống; Các mô hình cộng đồng
xanh, trường học xanh, công sở xanh; Tỷ lệ người dân tham gia nền tảng số giám
sát môi trường hoặc phản ánh ô nhiễm...
Trong
đó, đối với phường xã hội chủ nghĩa, tiêu chí linh hoạt tập trung nhiều hơn
vào: đô thị xanh, đô thị thông minh, kiểm soát ô nhiễm không khí, giao thông
xanh, quản lý rác thải đô thị, tiết kiệm năng lượng, quản trị môi trường bằng
công nghệ số; đối với xã xã hội chủ nghĩa, tập trung nhiều hơn vào: bảo vệ đất,
nước và rừng, nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng biến đổi khí hậu,
xử lý chất thải chăn nuôi, sinh thái cộng đồng và bảo vệ nguồn nước...
3. Kết luận
Xây
dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa là quá trình cụ thể hóa đặc trưng của chủ
nghĩa xã hội Việt Nam vào không gian phát triển ở cơ sở, nơi trực tiếp gắn với
đời sống của nhân dân và hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị. Vì vậy, việc
xác định hệ tiêu chí xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Hệ tiêu chí không chỉ là công cụ quản trị
và đánh giá phát triển địa phương mà còn phản ánh mức độ hiện thực hóa các giá
trị của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới. Trên cơ sở đó, cần phải có lộ
trình hóa, giai đoạn hóa xây dựng xã/phường xã hội chủ nghĩa để bảo đảm tính khả
thi, có bước đi phù hợp, có cơ chế thử nghiệm, tổng kết, điều chỉnh và nhân rộng.
(nguồn
lyluanchinhtri.vn)
Ngày nhận bài:
18/5/2026; Ngày bình duyệt: 19/5/2026; Ngày duyệt đăng: 21/5/2026.
Email tác giả:
hoanghahcma@gmail.com
DOI:
https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.9003
Tài liệu tham khảo:
ĐCSVN
(2018). Văn kiện Đảng toàn tập.
(Tập 69). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh
(2011a). Toàn tập. (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia
Sự thật.
Hồ Chí Minh
(2011b). Toàn tập. (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia
Sự thật.
V.I.Lênin
(2005a). Toàn tập. (Tập 30). Nxb Chính trị quốc
gia.
V.I.Lênin (2005b). Toàn tập. (Tập
45). Nxb Chính trị quốc gia.