
Với tư cách là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm
kỳ 2023 - 2025, Việt Nam đã nâng tầm ngoại giao trên lĩnh vực tôn giáo, thể hiện
qua phương châm “Tôn trọng và Hiểu biết - Đối thoại và Hợp tác - Tất cả các quyền
con người cho tất cả mọi người”_Ảnh: IT
1. Mở đầu
Trong
tiến trình đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng mang tính bước ngoặt trên mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội. Đối với lĩnh vực tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm; các hoạt động tôn giáo diễn ra ổn
định, tuân thủ pháp luật; các tổ chức tôn giáo thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng
hành cùng dân tộc, góp phần tích cực trong quá trình xây dựng và phát triển đất
nước.
Tuy
nhiên, tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, các thế lực thù địch, phản động và phần tử
cơ hội chính trị thường lợi dụng nhằm kích động chia rẽ, tạo ra các điểm nóng về
an ninh chính trị, quốc tế hóa các vấn đề nội bộ để tạo cớ can thiệp từ bên
ngoài, hướng đến mục tiêu lâu dài là làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và từng
bước thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam.
Trước
yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ vững chủ quyền quốc
gia, hệ thống chính trị đã triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, biện pháp,
trong đó có biện pháp ngoại giao. Bài viết làm rõ tình hình tôn giáo ở Việt Nam
hiện nay, nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo
để chống phá Đảng, Nhà nước; đồng thời làm rõ một số biện pháp ngoại giao nhằm
đấu tranh với các hoạt động này, qua đó góp phần bảo đảm an ninh chính trị, phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình
hình mới.
2. Nội dung
2.1. Tình
hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Kể
từ khi đổi mới đất nước, sự đổi mới tư duy của Đảng, phương thức quản lý của Nhà
nước về tôn giáo thể hiện qua quan điểm, chủ trương và chính sách, pháp luật
ngày càng hoàn thiện, đã tạo ra một “hoàn cảnh mới” cho đời sống tôn giáo ở Việt
Nam, cả trên phương diện hoạt động thuần túy tôn giáo và hoạt động xã hội của
tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo hoạt động theo chiều hướng ổn định, tích cực, tiến
bộ, tuân thủ Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo và pháp luật của Nhà nước,
góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước.
Về hoạt
động tôn giáo
Với
sự quan tâm, tạo điều kiện của Nhà nước, các tổ chức tôn giáo đã mở các trường
đào tạo; cử chức sắc, chức việc đi đào tạo ở nước ngoài; xuất bản kinh sách, ấn
phẩm tôn giáo; xuất, nhập khẩu đồ dùng dành cho việc đạo; sửa chữa, xây dựng mới
cơ sở thờ tự; mở rộng các hoạt động giao lưu quốc tế. Sinh hoạt tôn giáo của
tín đồ được duy trì thường xuyên, nền nếp tại các gia đình, cơ sở thờ tự hoặc địa
điểm hợp pháp theo nghi lễ truyền thống. Những ngày lễ được tổ chức trang
nghiêm, thu hút đông đảo tín đồ và nhân dân tham gia[1], không chỉ
đáp ứng nhu cầu tâm linh, mà còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa, đạo đức
truyền thống, củng cố đời sống tinh thần của cộng đồng. Tính đến tháng 12-2021,
cả nước có 26,5 triệu tín đồ thuộc 41 tổ chức của 16 tôn giáo được Nhà nước
công nhận, với 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc và trên
26.500 tín đồ các tôn giáo (Ban Tôn giáo Chính phủ, 2022, tr.12).
Về
hoạt động xã hội
Hiện
nay, các tổ chức tôn giáo đã chuyển từ “nghĩa vụ tôn giáo” sang “nghĩa vụ thế tục”,
tích cực, chủ động phát huy nguồn lực vật chất, tinh thần, tham gia nhiều lĩnh
vực của đời sống xã hội, trong đó nổi bật là y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội,
chăm sóc nhóm yếu thế, qua đó bổ trợ tích cực cho hệ thống an sinh xã hội của
Nhà nước (Dương Quang Điện, 2020); đồng hành cùng chính quyền
trong ứng phó thiên tai, dịch bệnh; tích cực tham gia các phong trào thi đua
yêu nước, xây dựng nông thôn mới (PGS,TS Nguyễn Phú Lợi, 2023)… Hoạt động xã hội
của các tổ chức tôn giáo không chỉ mang ý nghĩa nhân văn, mà còn góp phần giữ
gìn an ninh, trật tự và ổn định xã hội.
Những
chuyển biến trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam nêu trên là minh chứng khách
quan khẳng định tính đúng đắn trong đường lối, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà
nước Việt Nam trên lĩnh vực tôn giáo, góp phần giới thiệu với bạn bè và cộng đồng
quốc tế hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, phát triển, nâng cao uy
tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Bên
cạnh mặt tích cực, tình hình tôn giáo hiện nay vẫn tồn tại hạn chế, như: mâu
thuẫn nội bộ ở một số tổ chức tôn giáo; lệch chuẩn trong hành vi đạo đức của một
bộ phận chức sắc, chức việc tôn giáo; các hoạt động vi phạm pháp luật về đất
đai như “biến gia vi tự”, mua bán, lấn chiếm, chuyển nhượng trái phép; khiếu kiện
liên quan đến đất đai tôn giáo… đặt ra nhiều thách thức cho chính quyền các cấp,
tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lợi dụng
xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo, kích động tư tưởng cực đoan,
chia rẽ khối đoàn kết tôn giáo và đại đoàn kết toàn dân tộc.
2.2.
Nhận diện thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch
Trong
bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của
truyền thông số, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị coi tôn
giáo là một trong những lĩnh vực trọng điểm để tác động, can thiệp, gây mất ổn
định chính trị - xã hội. Các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo không mang tính đơn lẻ
mà được triển khai có hệ thống, gắn với vấn đề dân tộc, nhân quyền, đối ngoại.
Một
là, lợi dụng vấn đề tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiếu số, sử dụng
chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” nhằm kích động tư tưởng ly khai, tự
trị
Tại
các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là những địa bàn điều kiện
kinh tế còn khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều, đời sống tôn giáo có nhiều
biến động, các thế lực thù địch triệt để khai thác các yếu tố dân tộc, tôn
giáo, coi đó là công cụ để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng, hình thành
các tổ chức phản động. Chúng lợi dụng chính sách tự do tôn giáo của Nhà nước để
tạo dựng các mô hình sinh hoạt tôn giáo mang tính biệt lập, khép kín, tách khỏi
hệ thống tổ chức tôn giáo hợp pháp, gieo rắc tư tưởng đối lập giữa dân tộc, tôn
giáo và chính quyền.
Ở
khu vực miền núi phía Bắc, cùng với quá trình truyền giáo và sự chuyển đổi tôn
giáo của một bộ phận người Mông theo đạo Tin lành, các thế lực thù địch gia
tăng các hoạt động lợi dụng để gây mất ổn định chính trị. Chúng gắn kết có chủ
ý yếu tố tộc người với tôn giáo, từng bước chuyển hóa sinh hoạt tôn giáo thành
nơi tuyên truyền tư tưởng ly khai, hình thành “quốc gia tự trị” của người Mông.
Thực tiễn đã diễn ra các vụ việc như: gửi yêu sách đến chính quyền tỉnh Lai
Châu đòi cắt đất cho người Mông theo đạo Tin lành thành lập nhà nước riêng (năm
2020); lôi kéo đồng bào tập trung đông người tổ chức đón vua, lập “Vương quốc
Mông” tại Mường Nhé (Điện Biên) năm 2011 và Mường Tè (Lai Châu) năm 2020. Ngoài
ra, khu vực này còn xuất hiện một số hiện tượng tôn giáo mới như “Bà Cô Dợ”,
“Giê Sùa”, “San sư khẹ tọ”, “Con đường mới”, “Sề Chu Hà Ly Cha”… để lôi kéo quần
chúng, xây dựng mạng lưới ảnh hưởng, gây xáo trộn đời sống văn hóa truyền thống
và trật tự xã hội ở khu vực (Nguyễn Khắc Đức, 2020, số 8).
Ở
Tây Nguyên, các thế lực thù địch lợi dụng đạo Tin lành dựng nên “Tin lành Đềga”
làm công cụ phát triển lực lượng; sử dụng các luận điệu đòi tự do tín ngưỡng,
tôn giáo, “đòi lại đất” cho người dân tộc thiểu số, “đuổi người Kinh về xuôi”,
đòi “quyền tự trị” cho người dân tộc thiểu số…, kích động, dụ dỗ, mua chuộc đồng
bào tham gia biểu tình, gây rối (năm 2001), tổ chức bạo loạn (năm 2004) (GS,TSKH
Phan Xuân Sơn & TS Nguyễn Thị Thanh Dung, 2020). Các tổ chức phản động lưu
vong như “Hội những người miền núi” (MFI), “Tổ chức nhân quyền người Thượng”
(MHRO), “Người Thượng thống nhất” (UMP)... hậu thuận về tư tưởng, vật chất cho
nhóm chống đối trong nước; lợi dụng mối quan hệ dân tộc, tôn giáo để tuyên truyền,
kích động tư tưởng bài Kinh, đòi ly khai, tự trị, thành lập nhà nước riêng.
Tình hình ở Tây Nguyên càng phức tạp hơn khi tiếp tục xuất hiện các hiện tượng
đội lốt tôn giáo như “Hà Mòn”, “Bơ khắp Brâu”, “Giáo hội Tin lành Đấng Christ
Việt Nam”... Các nhóm này hình thành với mục đích kích động tư tưởng ly khai, tự
trị, gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Tại
miền Trung và Tây Nam bộ, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo được biểu hiện dưới hình
thức khai thác các yếu tố về lịch sử vùng đất, lịch sử tộc người gắn với tôn
giáo để khơi dậy tư tưởng dân tộc hẹp hòi, phục dựng các biểu tượng của quá khứ
như một công cụ chính trị. Hoạt động tuyên truyền chia rẽ khối đại đoàn kết dân
tộc, kích động tư tưởng “ly khai”, “tự trị” trong vùng dân tộc Chăm hiện nay
thường gắn với luận điệu phục hồi “Vương quốc Champa”. Ở Tây Nam Bộ, chúng lợi
dụng mối liên hệ đồng tộc, đồng tôn giữa người Khmer Việt Nam và Campuchia để
kích động đồng bào Khmer thành lập “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom”.
Hai
là, tìm cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, lợi
dụng thiếu sót của chính quyền để vu cáo, xuyên tạc Việt Nam
không có tự do tôn giáo, đàn áp tôn giáo
Một
trong những thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch là tìm mọi cách tách
tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng
trong lĩnh vực tôn giáo. Thủ đoạn của chúng là dùng các luận điệu về “quyền tự
do tôn giáo tuyệt đối”, “tự trị tôn giáo”, ra sức tuyên truyền, cường
điệu hóa các “giá trị” dân chủ tư sản, các quan điểm của phương Tây về tự do
tôn giáo, viện dẫn các quy định gây lầm tưởng tự do tôn giáo là quyền tuyệt đối,
từ đó cổ xúy các đối tượng chống đối hoạt động quyết liệt hơn. Chúng xuyên tạc
Nhà nước Việt Nam can thiệp quá sâu vào đời sống tôn giáo, qua đó kích động các
tổ chức, cá nhân tôn giáo không tuân thủ pháp luật, không thực hiện nghĩa vụ
công dân, không đăng ký sinh hoạt tôn giáo theo quy định, nhằm từng bước hình
thành không gian hoạt động tôn giáo nằm ngoài sự quản lý của chính quyền.
Lợi
dụng sơ hở, thiếu sót mang tính cá biệt trong công tác quản lý nhà nước về tôn
giáo, nhất là cấp cơ sở, như: chậm trễ trong giải quyết thủ tục hành chính,
lúng túng trong xử lý hoạt động tôn giáo mới, thiếu chủ động trong đối thoại với
chức sắc và tín đồ, vướng mắc trong giải quyết về nhà, đất tôn giáo… quy hiện
tượng thành bản chất để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam không có tự do tôn giáo, đàn
áp tôn giáo, kích động khiếu kiện, tụ tập đông người, gây ra điểm nóng tôn
giáo, làm phức tạp tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Đáng chú ý, các đối
tượng này còn khai thác không gian mạng để phát tán thông tin sai lệch, kích động
tâm lý bất mãn, làm suy giảm niềm tin của một bộ phận tín đồ tôn giáo đối với
chính quyền và thể chế chính trị.
Các
thế lực thù địch lợi dụng các sự cố cá biệt trong đời sống xã hội để đưa thông
tin sai sự thật đến các tổ chức quốc tế, kêu gọi trừng phạt, can thiệp vào công
việc nội bộ của Việt Nam. Đây là một phần trong chiến lược “diễn biến hòa
bình”, lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để làm suy yếu vai trò lãnh đạo của
Đảng và gây bất ổn chính trị.
Ba
là, triệt để tác động đến Mỹ và các nước
phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua dự luật, nghị quyết, báo cáo thường
niên, tổ chức điều trần, hội thảo để xuyên tạc tình
hình nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam
Song
song với hoạt động trong nước, các thế lực thù địch đẩy mạnh tác động đến Mỹ và
một số quốc gia phương Tây, các tổ chức quốc tế và những chính khách cực đoan
nhằm tạo dư luận quốc tế bất lợi, gây sức ép chính trị, ngoại giao đối với Việt
Nam. Chúng dựng lên bức tranh sai lệch về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở
Việt Nam, đưa tin một chiều, thiếu kiểm chứng, thậm chí bóp méo sự thật và sử dụng
thông tin sai lệch như “chứng cứ” để vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền,
đàn áp tôn giáo. Chúng vận động các tổ chức quốc tế ban hành nghị quyết, dự luật,
báo cáo thường niên hoặc tổ chức các phiên điều trần, hội thảo, hòng từng bước
ràng buộc Việt Nam vào các chuẩn mực chính trị mang tính áp đặt. Bản chất của
thủ đoạn này là sử dụng vấn đề nhân quyền, tôn giáo như một công cụ chính trị mềm
để gây sức ép chính trị từ bên ngoài, hướng đến mục tiêu chống phá lâu dài.
Nhìn
chung, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch luôn có sự điều chỉnh
dựa trên bối cảnh trong nước và quốc tế, song bản chất vẫn là khai thác tôn
giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo tiền đề cho các hoạt động
chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
2.3. Biện
pháp ngoại giao nhằm đấu tranh đối với việc lợi dụng tôn
giáo của các thế lực thù địch
Tình
hình tôn giáo và những thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, cơ
hội chính trị nêu trên tác động đa chiều, phức tạp đến an ninh chính trị của đất
nước, đòi hỏi phải tiếp cận tổng thể, linh hoạt và ứng xử phù hợp. Một trong những
ứng xử đó là sử dụng biện pháp ngoại giao, không chỉ nhằm đấu tranh với việc lợi
dụng tôn giáo mà còn góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau trên lĩnh vực tôn
giáo, xây dựng quan hệ đối ngoại với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới,
hướng đến bảo vệ lợi ích của quốc gia từ sớm, từ xa.
Một
là, tranh thủ diễn đàn song phương, đa phương để thông tin đầy đủ về thành
tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bác bỏ những thông tin sai sự
thật về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo ở Việt Nam
Đây
là biện pháp ngoại giao quan trọng trong đấu tranh với các thủ đoạn xuyên tạc,
bóp méo sự thật về tự do tôn giáo Việt Nam của các thế lực thù địch. Việc tham
gia các diễn đàn ngoại giao song phương và đa phương không chỉ cung cấp thông
tin, góp phần định hình nhận thức khách quan của cộng đồng quốc tế, mà còn khẳng
định quan điểm, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân.
Thực
tiễn thời gian qua, Việt Nam đã chủ động chuyển từ “giải trình” sang “đối thoại
trực diện” thông qua duy trì thường xuyên các cơ chế đối thoại song phương về
dân chủ, nhân quyền, tôn giáo với Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Oxtraylia, Thụy Sỹ,
Na Uy và đối thoại đa phương tại các diễn đàn của Liên hợp quốc, ASEAN, hay tại
các phiên rà soát định kỳ phổ quát (UPR). Với tinh thần đối thoại thẳng thắn,
xây dựng và tôn trọng lẫn nhau, Việt Nam đã minh bạch hóa bức tranh tôn giáo
qua khung pháp lý vững chắc được thể chế hóa trong Hiến pháp 2013, Luật tín ngưỡng,
tôn giáo và những số liệu thực chứng về đời sống tôn giáo, đồng thời thảo luận,
làm rõ vấn đề mà quốc tế quan tâm. Cách tiếp cận này vừa tỏ rõ thiện chí hợp
tác, vừa phản bác những luận điệu phiến diện, thiếu khách quan, qua đó giảm thiểu
hiểu lầm, định kiến, tìm kiếm sự đồng thuận trên nguyên tắc bảo đảm độc lập, chủ
quyền quốc gia, không sử dụng vấn đề nhân quyền để áp đặt quan điểm, can thiệp
vào công việc nội bộ.
Với
tư cách là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025,
Việt Nam đã nâng tầm ngoại giao trên lĩnh vực tôn giáo, thể hiện qua phương
châm “Tôn trọng và Hiểu biết - Đối thoại và Hợp tác - Tất cả các quyền con người
cho tất cả mọi người” (Báo điện tử Chính phủ, 2024). Thế đối
thoại vững vàng, thiện chí, chủ động, khôn khéo, trách nhiệm không chỉ là
phương thức phản bác thông tin sai lệch, phiến diện mà còn là công cụ mềm hiệu
quả để nâng cao hình ảnh và khẳng định mạnh mẽ vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế.
Hai
là, tranh thủ vận động cá nhân, tổ chức nước ngoài, quốc
hội, chính giới có đánh giá khách quan về tình hình
tôn giáo Việt Nam, phản bác các quan điểm sai trái, phiến diện của
những cá nhân, tổ chức không có thiện chí đối với Việt Nam
Song
song với biện pháp ngoại giao nhà nước, Việt Nam tiến hành vận động các cá
nhân, tổ chức quốc tế, quốc hội và chính giới các nước. Đây là hình thức ngoại
giao trung gian, mềm dẻo nhưng có sức lan tỏa mạnh mẽ nhằm chủ động tạo dựng
“hành lang dư luận” tích cực trong cộng đồng quốc tế.
Để
thực hiện biện pháp ngoại giao này, Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc cung cấp
thông tin về tự do tôn giáo cho các đoàn nghị sĩ, quan chức quốc tế thông qua
các kênh đối ngoại của Quốc hội, Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán các nước tại Hà Nội,
mà còn mở rộng không gian tương tác bằng cách chủ động mời các đoàn nghị sĩ, học
giả, đại diện tổ chức tôn giáo tới thăm, khảo sát thực tế đời sống tôn giáo tại
Việt Nam. Đồng thời, cử các đoàn công tác trực tiếp đối thoại với các tổ chức,
nhân vật có ảnh hưởng tới chính giới tại Mỹ và phương Tây. Đây là minh chứng
cho thấy Việt Nam luôn tự tin, sẵn sàng đối diện, trao đổi để giải đáp những thắc
mắc. Các chủ thể này trở thành kênh lan tỏa thông tin khách quan, đóng vai trò
quan trọng trong việc định hình dư luận quốc tế, góp phần làm rõ sự thật, vô hiệu
hóa các luậu điệu xuyên tạc núp bóng tôn giáo, đồng thời có ảnh hưởng gián tiếp
đến quá trình hoạch định chính sách của một số quốc gia, tổ chức quốc tế về vấn
đề tự to tôn giáo ở Việt Nam, giúp Việt Nam tạo thế cân bằng và bảo vệ lợi ích
chính đáng trên trường ngoại giao.
Tranh
thủ vận động cá nhân, tổ chức, chính giới nước ngoài có thiện chí không chỉ là
biện pháp phản bác thông tin sai lệch, mà còn là cách xây dựng lòng tin, một hướng
đi chủ động trong bảo vệ hình ảnh quốc gia, khẳng định hình ảnh một Việt Nam ổn
định, tôn trọng tự do tôn giáo, sẵn sàng hội nhập toàn diện với thế giới.
Ba
là, mở rộng quan hệ hợp tác, đối thoại với
các nước ở các khu vực trên lĩnh vực tôn giáo nhằm thúc đẩy mối
quan hệ, tranh thủ sự ủng hộ trên diễn đàn song phương và đa phương
Không
chỉ bó hẹp quan hệ hợp tác, đối thoại với các đối tác truyền thống, Việt Nam chủ
động mở rộng quan hệ hợp tác, đối thoại với nhiều quốc gia ở các khu vực khác
nhau, nhất là trong bối cảnh tôn giáo ngày càng trở thành thành tố quan trọng
trong quan hệ quốc tế, gắn với địa chính trị. Đây là biện pháp ngoại giao mang
tính chiến lược, nhằm hình thành mạng lưới ủng hộ đa chiều, rộng rãi từ các nền
văn minh khác nhau, tạo thế cân bằng trên các diễn đàn khi vấn đề về tôn giáo,
tự do tín ngưỡng, tôn giáo được đưa ra thảo luận.
Trọng
tâm của biện pháp ngoại giao này là thông qua hoạt động nghiên cứu, trao đổi
đoàn, tiếp xúc với cơ quan chính phủ, lãnh đạo các tổ chức tôn giáo, từng bước
thiết lập cơ chế đối thoại thường xuyên, cung cấp thông tin khách quan, minh bạch
về chính sách, pháp luật và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo ở Việt Nam theo hướng tôn trọng - quản lý - phát triển hài hòa, từ đó bác
bỏ quan điểm Việt Nam đàn áp tôn giáo, khẳng định sự tương đồng về giá trị với
các quốc gia trong lĩnh vực tôn giáo. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam khẳng định
là chủ thể tích cực đóng góp vào hòa bình, an ninh và phát triển bền vững ở khu
vực và trên thế giới.
Việc
mở rộng quan hệ hợp tác, đối thoại còn giúp nâng cao năng lực thực tiễn, trình
độ quản lý tôn giáo, tiếp thu kinh nghiệm của các quốc gia có điểm tương đồng.
Bốn
là, tăng cường công tác tuyên truyền đối ngoại trên lĩnh vực tôn giáo
Trong
đấu tranh với các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo, công tác tuyên truyền đối ngoại
không chỉ đóng vai trò truyền tải thông tin, mà còn là công cụ trực diện để định
hướng dư luận, phản bác các nguồn tin xấu, độc. Việt Nam tích cực, chủ động triển
khai toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại tôn giáo theo hướng
đa dạng hóa phương thức, chuyên sâu hóa nội dung, nhằm chuyển hóa từ biện pháp
phòng ngự, bị động sang thế trận truyền thông chủ động, từng bước hình thành
không gian truyền thông đối ngoại chính thống trong lĩnh vực tôn giáo.
Không
chỉ tối ưu hóa hệ thống công cụ truyền thông đa phương tiện, từ kênh truyền
hình đối ngoại trên đài truyền hình quốc gia, đến các nền tảng số đa ngôn ngữ,
như trang thông tin điện tử bằng tiếng Anh của Ban Tôn giáo Chính phủ…, công
tác tuyên truyền đối ngoại còn được tiến hành qua các hội nghị, hội thảo quốc tế
với sự tham gia của các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, tạo sự cộng
hưởng trong học thuật nhằm lan tỏa bức tranh thực tế của đời sống tôn giáo ở Việt
Nam, làm sáng tỏ hệ thống chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, qua đó
giúp bạn bè quốc tế nhận diện rõ hơn bản chất của các âm mưu lợi dụng tôn giáo
để chống phá, đồng thời củng cố niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với nỗ lực bảo
đảm quyền con người, tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Năm
là, đẩy mạnh phối hợp giữa các bộ, ngành trong xây dựng
lập luận phản bác thông tin sai sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam
Trong
đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước,
việc thống nhất về tư tưởng và nhất quán thông tin là yếu tố quyết định thắng lợi.
Vì thế, tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành trong lĩnh vực tôn giáo là
một trong những biện pháp quan trọng. Thông qua phối hợp, các nguồn thông tin
được tập hợp, xử lý và chuẩn hóa, phục vụ cho phát ngôn đối ngoại, cho công tác
của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và là thông tin phản hồi các
kháng thư, công hàm, các báo cáo, cũng như quá trình tiếp xúc, làm việc với các
tổ chức, cá nhân quốc tế liên quan đến tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Biện
pháp này giúp chuyển hoạt động phản bác từ hình thức phản ứng đơn lẻ sang một cấu
trúc phản hồi chính sách thống nhất, nâng cao tính chủ động, năng lực ứng phó
dài hạn với các thông tin sai lệch, thiếu khách quan. Công tác phối hợp giúp bảo
đảm tính thống nhất về thông tin, lập trường, thông điệp đối thoại, đấu tranh
trong lĩnh vực tôn giáo.
Sáu
là, thiết lập kênh hợp tác, ký kết thỏa thuận, trao đổi kinh nghiệm, giải
quyết ổn định an ninh khu vực biên giới với các nước láng giềng
Trung
Quốc, Lào, Campuchia là những quốc gia láng giềng có mối quan hệ hữu nghị truyền
thống, hợp tác toàn diện trên nhiều lĩnh vực với Việt Nam. Việc tăng cường hợp
tác trên lĩnh vực tôn giáo với các nước láng giềng là một yêu cầu khách quan để
bảo vệ an ninh quốc gia. Biện pháp này tập trung vào việc trao đổi thông tin,
kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo ảnh hưởng đến an ninh, trật tự của mỗi
nước, như: di cư tự do, truyền đạo trái phép, hoạt động tôn giáo của đồng bào
dân tộc ở khu vực biên giới… nhằm hình thành cơ chế phối hợp thực chất để giải
quyết thách thức an ninh tôn giáo phi truyền thống.
Đối
với Trung Quốc, Việt Nam thiết lập, duy trì kênh hợp tác, đối thoại với Cục sự
vụ Tôn giáo Quốc gia Trung Quốc, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm quản lý nhà nước
về tôn giáo, trao đổi kinh nghiệm ứng xử với các hoạt động tôn giáo phức tạp và
các hiện tượng tôn giáo mới. Việt Nam ký thỏa thuận hợp tác với Lào, Campuchia
để thường xuyên trao đổi đoàn cấp cao, tổ chức các lớp tập huấn, hội nghị trao
đổi kinh nghiệm, thống nhất phối hợp xử lý các vụ việc phức tạp nảy sinh ở khu
vực biên giới, như: phối hợp với Lào đấu tranh âm mưu lập Vương quốc Mông, phối
hợp cùng Campuchia đấu tranh với tổ chức “Khmers Kampuchea Krom”, góp phần ổn định
tình hình tôn giáo, ngăn chặn sự can thiệp của các thế lực thù địch vào đời sống
tôn giáo của mỗi nước.
Bảy là,
tranh thủ quan hệ với Vatican nhằm ổn định tình hình Công
giáo và giữ vững an ninh, trật tự ở trong nước
Phát
triển quan hệ với Vatican đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hoạt động
của Giáo hội Công giáo Việt Nam theo hướng đồng hành cùng dân tộc, gắn bó với lợi
ích quốc gia, tuân thủ pháp luật, khẳng định sự tôn trọng lẫn nhau giữa Nhà nước
Việt Nam và Vatican, đồng thời đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn
giáo để chống phá Đảng, Nhà nước.
Việt
Nam và Vatican chủ động thiết lập một lộ trình đối thoại đa tầng, từ các cuộc
tiếp kiến cấp cao giữa lãnh đạo nhà nước với Giáo hoàng, đến việc duy trì các
vòng đàm phán, các cơ chế trao đổi chính thức. Trong quá trình đối thoại, các vấn
đề hạn chế của Công giáo ở Việt Nam được trao đổi thẳng thắn và đề nghị Tòa
Thánh định hướng cho chức sắc, tín đồ Công giáo thực hiện đúng nghĩa vụ công
dân, tăng cường gắn kết với chính quyền và tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt
Nam. Việt Nam - Vatican, tích cực nâng cấp quan hệ thể hiện qua việc thiết lập
hiện diện thường trú của Vatican tại Việt Nam(8).
Quan hệ Việt Nam - Vatican là minh chứng sống động cho đường lối đối ngoại rộng
mở của Đảng, Nhà nước, góp phần ổn định tình hình Công giáo nói riêng và tình
chính trị - xã hội nói chung.
Tám là, tạo
điều kiện cho các tổ chức tôn giáo và chức sắc, chức việc, tín đồ mở
rộng quan hệ quốc tế - cơ sở để phản bác luận điệu sai trái,
thù địch trên lĩnh vực tôn giáo
Trong
nghệ thuật đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng tôn giáo, một trong những sức mạnh
thuyết phục nhất chính là tiếng nói của chủ thể thụ hưởng chính sách.
Nhà
nước Việt Nam không chỉ tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia các diễn
đàn tôn giáo trong khu vực và quốc tế, thiết lập quan hệ với các tổ chức tôn
giáo quốc tế, tham gia đào tạo, học tập ở nước ngoài..., mà còn cho phép tổ chức
tôn giáo đăng cai và tổ chức các sự kiện tôn giáo quốc tế như Đại lễ Vesak của
Liên hợp quốc… Việc mở rộng quan hệ quốc tế của tôn giáo không chỉ nhằm đáp ứng
nhu cầu tinh thần, mà còn từng bước hình thành kênh đối ngoại nhân dân, góp phần
lan tỏa thông tin tích cực, làm suy yếu các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên
lĩnh vực tôn giáo, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với Việt
Nam.
3. Kết luận
Tình
hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, chủ nghĩa cực đoan
trong tôn giáo, xung đột dân tộc, tôn giáo tiếp tục là điểm nóng, tiềm ẩn nhiều
rủi ro. Thời gian qua, Nhà nước ta đã nỗ lực hoàn thiện chính sách, pháp luật về
tín ngưỡng, tôn giáo, tuy nhiên do sự biến đổi không ngừng của đời sống tôn
giáo nên quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn những bất cập, chưa đáp ứng
thực tiễn; hoạt động thực thi pháp luật chưa đồng đều giữa các địa phương, thủ
tục hành chính còn rườm rà, phức tạp; chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác
tôn giáo còn có mặt hạn chế… đây là những nguyên nhân dẫn đến các thế lực thù địch
lợi dụng thực hiện âm mưu “chính trị hóa tôn giáo”, vận động đòi “luật hóa” các
hoạt động chống đối Việt Nam.
Để
bảo đảm an ninh chính trị, bên cạnh việc thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước
theo quy định của pháp luật, cần sử dụng các biện pháp ngoại giao trong lĩnh vực
tôn giáo để tuyên truyền thành tựu của Việt Nam về bảo đảm nhân quyền, quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời tranh thủ tối đa sự ủng hộ của bạn bè quốc tế
nhằm đấu tranh với các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống
phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
(nguồn
lyluanchinhtri.vn)
Ngày nhận bài: 29/1/2026; Ngày
bình duyệt: 12/02/2026; Ngày duyệt đăng: 5/6/2026.
Email tác giả: dohuongbtgcp@gmail.com
DOI:https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.9297
Ban Tôn giáo Chính phủ (2022). Tôn
giáo và Chính sách tôn giáo. Nxb Tôn giáo.
Báo điện tử Chính phủ
(11-5-2024). Nam đã có một phiên đối thoại UPR rất thành công.
https://baochinhphu.vn.
Dương Quang Điện (2020). Phật
giáo với vấn đề an sinh xã hội. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Khắc Đức (2020). Về các hiện tượng
tôn giáo mới ở vùng dân tộc thiểu số miến núi phía Bắc nước ta hiện nay. Tạp
chí Lý luận Chính trị, số 8.
PGS, TS Nguyễn Phú Lợi (2023). Phát
huy vai trò của tổ chức tôn giáo trong phát triển xã hội ở Việt Nam hiện nay.
GS, TSKH Phan Xuân Sơn & TS Nguyễn Thị Thanh Dung (2020). Quản
lý xung đột xã hội vùng tộc người thiểu số ở Việt Nam hiện nay. Nxb Lý luận
Chính trị.