.jpg)
Khai mạc
Lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực xử lý tình huống thực tiễn đối với đội ngũ cán
bộ cơ sở (ảnh news.vnanet.vn)
Abstract: In response
to new circumstances and requirements, it is necessary to fundamentally
transform thinking on the training and fostering of grassroots-level cadres,
shifting from a one-way knowledge transmission model to an approach that
develops practical competence, as the two-tier local government system
officially commenced operation on July 1, 2025. Given the unprecedentedly
extensive decentralization and delegation of authority and the target of annual
growth exceeding 10%, commune- and ward-level cadres cannot merely“know” but
must be able to “get things done” in local practice. This article discusses the
nature of the new approach and offers several suggestions for reforming
training and fostering to meet the current requirements of the two-tier local
government
Keywords: Competency-based
training;decentralization and delegation of authority;grassroots-level cadres;
learning to do; two-tier local government system.
Đặt vấn đề
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu “nâng cấp đào
tạo, bồi dưỡng từ “học để đủ chứng chỉ” sang “huấn luyện theo bài toán thực tiễn”,
“thạo việc”. Trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, cán bộ cơ sở
phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ mới, lớn như quản trị địa phương trong phân cấp,
phân quyền sâu; thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương bền vững, đạt mục tiêu
tăng trưởng trên 10%; phục vụ người dân với tiêu chí hài lòng được đo lường cụ
thể...Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được hình thành từ nhiều nguồn, trình độ
và kỹ năng rất khác nhau trong khi yêu cầu công việc rất cao, cần phải đủ năng
lực hoàn thành. Chính vì vậy, công
tác đào tạo, bồi dưỡng cần phải có những đổi mới thích ứng để nhanh chóng trang
bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ này trước mắt và lâu dài trong
tương lai.
1. Yêu cầu phải
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở từ “học để biết” sang “học để làm” hiện nay
Ngày 01/7/2025 đánh dấu sự biến đổi trong kiến trúc nền
hành chính Việt Nam: mô hình chính quyền địa phương 2 cấp chính thức vận hành
trên toàn quốc, sau khi cấp huyện được xóa bỏ như một tầng trung gian. Với cuộc
cải cách này, cán bộ cấp xã, phường không còn là người thực thi những nhiệm vụ
đơn giản, mà trở thành tuyến tiếp xúc trực tiếp với người dân, đảm nhận toàn bộ
thẩm quyền hành chính, phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Tính đến tháng 8/2025, hàng nghìn xã, phường mới hình
thành sau sáp nhập (cả nước còn 34 tỉnh, thành phố và 3.321 đơn vị hành chính cấp
xã) đang đồng thời phải vừa kiện toàn bộ máy, vừa tiếp nhận lượng thẩm quyền được
chuyển giao từ cấp huyện đã giải thể. Việc sáp nhập là dịch chuyển trung tâm quản
trị địa phương xuống cấp xã, tăng quyền tự chủ cho chính quyền địa phương (Hộp 1).
Hộp 1: Vận hành mô hình
chính quyền địa phương hai cấp
Thẩm
quyền được phân định lại theo hướng rõ ràng, thực chất, tăng mạnh quyền tự chủ
cho chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã - nơi trực tiếp giải quyết phần
lớn công việc liên quan đến người dân và doanh nghiệp. Cụ thể như sau:
-
Trong 1.377 nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền, có 949 nhiệm vụ (68,9%) được
giao cho chính quyền địa phương; trong đó 870 nhiệm vụ cho cấp tỉnh, 79 nhiệm vụ
cho cấp xã.
- Đối
với 1.164 nhiệm vụ được phân định thẩm quyền, có 859 nhiệm vụ (73,8%) chuyển
cho cấp xã; 188 nhiệm vụ (16,2%) chuyển cho cấp tỉnh; 117 nhiệm vụ (10%) được
chuyển sang cấp khu vực hoặc cắt bỏ khi kết thúc hoạt động của cấp huyện.
- Tỉ
lệ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương tăng lên 56%,
trong khi tỉ lệ thuộc thẩm quyền Trung ương giảm còn 44%, tăng khoảng 23% so với
thời điểm trước ngày 01/7/2025. Đây là bước tiến rất rõ trong phân cấp, phân
quyền, tạo điều kiện để chính quyền địa phương chủ động hơn trong quản lý và
phát triển kinh tế - xã hội (Thu Giang, 2026).
Trong tổ chức bộ máy cấp xã mới, nhiều vị trí chưa được
bố trí đủ người, hoặc người được bố trí chưa đáp ứng yêu cầu công việc thực tế.
Bộ Nội vụ đã phải ban hành Công văn số
4753/BNV/CQĐP ngày 04/7/2025 yêu cầu xử lý dứt điểm các vướng mắc về sắp xếp
cán bộ, đảm bảo số hóa tài liệu và tránh phát sinh điểm nóng. Thực tiễn mới đặt
ra yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở để đáp ứng nhiệm vụ mới cấp xã.
Tuy nhiên, hiện trạng mô hình đào tạo hiện hành có nhiều hạn chế. “Công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực
tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh”(Ban Chấp hành Trung ương,
2018). Sau nhiều năm, điểm hạn chế căn cơ này chưa được khắc phục triệt để. Kết
quả khảo sát cho thấy chương trình đào tạo, bồi dưỡng hiện hành chưa gắn chặt với
nhu cầu năng lực thực tế của công chức cấp xã (Ngo, S. T, 2024). Thực tế cho thấy, chương
trình đào tạo, bồi dưỡng còn hạn chế như nặng truyền thụ kiến thức lý luận, nhẹ
kỹ năng vận dụng trong tình huống cụ thể; thiếu phản hồi từ người học về tính
phù hợp của nội dung với công việc thực tế. Hơn nữa, đánh giá kết quả học tập
qua bài kiểm tra viết, không qua năng lực xử lý tình huống, tức là đánh giá “biết”
chứ không đánh giá “làm được”.
Đặc biệt cấp thiết, thời sự trong kỷ nguyên mới đặt ra đối
với cán bộ cơ sở trước 5 yêu cầu đồng thời: (i) quản trị địa phương trong phân
cấp, phân quyền sâu; (ii) ứng dụng chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong hành
chính công; (iii) thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương bền vững, đạt mục tiêu
tăng trưởng trên 10%; (iv) phục vụ người dân với tiêu chí hài lòng được đo lường
cụ thể; (v) kiểm soát và phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực ngay tại tuyến cơ sở.
Rõ ràng, không một chương trình bồi dưỡng nào dựa trên truyền thụ kiến thức thuần
túy có thể đáp ứng 5 yêu cầu này một cách hiệu quả, thiết thực.
Trước yêu cầu vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 phê duyệt
Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng
yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026-2031, giao Bộ Nội
vụ xây dựng hệ thống học liệu số dùng chung toàn quốc và phối hợp với Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh triển khai chương trình bồi dưỡng theo Nghị định
số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 Quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức (Thủ
tướng Chính phủ, 2026).
2. Những đặc
trưng cơ bản của “học để làm” và sự vận dụng trong đào tạo cán bộ cấp cơ sở hiện
nay
Khoa học giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực phân biệt
hai trạng thái học tập: knowing
(biết) và knowing-how-to-do (biết
cách làm). Michael Oakeshott (Oakeshott, M, 1962) phân biệt hai chiều của tri
thức trong mọi hoạt động thực tiễn, gồm “kiến thức kỹ thuật” (technical
knowledge - có thể định hình thành quy tắc, học và ghi nhớ được) và “kiến thức
thực hành” (practical knowledge - chỉ tồn tại trong hành động, không thể đúc kết
thành quy tắc mà chỉ có thể tiếp thu qua kinh nghiệm thực tiễn). Oakeshott lập
luận rằng sai lầm của chủ nghĩa duy lý hiện đại là chỉ thừa nhận loại tri thức
thứ nhất, phủ nhận loại thứ hai.
Đào tạo dựa trên năng lực (Competency-Based Training -
CBT) có nguồn gốc từ Mỹ, triển khai rộng trong đào tạo nghề nghiệp từ thập niên
1970. Từ thập niên 1990 đến nay, tiếp cận này được nhiều quốc gia ứng dụng
trong cải cách công vụ, trong đó Australia chính thức đưa vào Đạo luật Công vụ
1999, Hàn Quốc triển khai từ sau cải cách 1998 - 2002, Singapore phát triển qua
Trường Công vụ (CSC). Điểm cốt lõi của CBT là chuyển trọng tâm từ nội dung được
giảng dạy sang kết quả học viên thực sự thể hiện được. Mỗi mô-đun học tập xác định
rõ (Gonczi, A & cộng sự, 1990) (i) kết quả học tập cần đạt; (ii) tiêu chí
thực hiện để đánh giá mức độ đạt năng lực; (iii) hướng dẫn bằng chứng và phương
pháp đánh giá.
Xuất phát từ những nghiên cứu và thực tiễn vận hành, có
thể khái quát 5 đặc trưng cốt lõi của tiếp cận “học để làm” có thể nghiên cứu vận
dụng trong đào tạo cán bộ cơ sở như sau:
1) Lấy vị trí việc làm làm điểm xuất
phát, không phải chương trình môn học. Tiếp cận mới xuất phát từ câu hỏi: Cán bộ cấp xã/phường giữ chức danh này cần làm được
những việc gì? Đây là nguyên tắc nền tảng đã được Nghị định số
171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 thể chế hóa là đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào
vị trí việc làm, gắn với công tác sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, viên chức.
Tuy nhiên, từ nguyên tắc đến thực tiễn triển khai còn là khoảng cách rất lớn cần
được thu hẹp.
2) Tình huống thực tiễn địa phương là
chất liệu học tập chủ yếu. Phương
pháp học qua tình huống (Case-Based Learning) trong đào tạo công chức đã được
áp dụng ở nhiều quốc gia, ví dụ Singapore ứng dụng và phát triển từ những năm 1990(Gwee, J. (ed.), 2013). Trường Công vụ (CSC) là đơn vị chủ lực
trong xây dựng ngân hàng tình huống về quản trị công và quản lý chính sách phục
vụ đào tạo cán bộ lãnh đạo cấp trung và cấp cao.
Về nguyên lý, các tình huống được xây dựng từ chính vấn
đề quản trị thực tế của địa phương, chẳng hạn
giải quyết tranh chấp đất đai sau sáp nhập đơn vị hành chính, xây dựng kế hoạch
phát triển kinh tế cấp xã, xử lý khiếu nại tập thể, điều hành cuộc họp dân... Học
viên không chỉ đọc tình huống mà phải thuyết trình, bảo vệ và chịu phản biện,
qua đó thực hành tư duy và hành động lãnh đạo.
3) Từ “lớp học một chiều” sang “cộng đồng
thực hành”. Khái niệm “cộng đồng thực hành” (Communities of Practice
- CoP) (Wenger, E, 1998) được xác định bởi ba đặc trưng không thể tách rời:
lĩnh vực chung, lĩnh vực đặc thù cộng đồng và thực hành. Trong đó các thành
viên không chỉ chia sẻ mối quan tâm mà còn tham gia các hoạt động chung, xây dựng
vốn kinh nghiệm và công cụ thực hành tập thể theo thời gian.
Trong đào tạo cán bộ cơ sở, có thể vận dụng phù hợp, cụ
thể, cán bộ đang công tác tại các xã, phường trở thành người cùng học tập, phản
ánh thực tiễn và đánh giá giải pháp, chứ không chỉ ngồi nghe giảng. Chẳng hạn,
lớp bồi dưỡng năm 2026 của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã thể hiện
sự đổi mới về phương thức: chuyển từ đào tạo thuần lý luận sang học tập từ tình
huống thực tiễn địa phương, lấy năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo, hướng
tới mô hình đồng kiến tạo tri thức giữa giảng viên và học viên. Đây là minh chứng
thực tiễn cho hướng đổi mới mà tham luận khuyến nghị đề xuất để tiếp tục nghiên
cứu hoàn thiện và vận dụng rộng rãi trong thực tiễn.
4) Đề cao đánh giá theo sản phẩm đầu
ra, không phải điểm số kiểm tra. Kết quả học tập không được đo bằng điểm thi viết mà bằng
sản phẩm thực. Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Nghị quyết số
26-NQ/TW là đào tạo phải nâng cao năng lực thực tiễn, tư duy chiến lược, khả
năng hành động của cán bộ.
5) Tạo dựng thói quen học tập suốt đời,
không phải học một lần. Trong kỷ nguyên số và chuyển đổi nhanh, không khóa học
nào có thể cung cấp đủ năng lực cho cả vòng đời nghề nghiệp của cán bộ. Mô hình
mới cần xây dựng tư duy và thói quen học tập liên tục, như Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Tô Lâm đã khẳng định trong bài viết “Học tập suốt đời”: phải xây dựng tư
duy học tập thường xuyên, không ngừng, bởi một bộ phận cán bộ, công chức không
có khái niệm học thường xuyên, học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ,
không thích nghi và bắt nhịp với guồng quay hối hả của kỷ nguyên số (Báo Điện tử Chính phủ, 2025). Tư tưởng này được
Tổng Bí thư tiếp tục khẳng định trong
chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở tại Thông báo số 21-TB/VPTW
ngày 07/3/2026 (Văn phòng Trung ương Đảng, 2026)
3. Một số giải
pháp nhằm đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở từ “học để biết” sang “học
để làm”
3.1. Đổi mới
tư duy về đào tạo, bồi dưỡng từ “đủ chuẩn” sang “tạo năng lực thực thi và kiến
tạo”
Nhận thức đúng về tư duy mới, cần có hành động cách mạng
- chuyển từ tư duy “học để có bằng, chứng chỉ” sang tư duy “học để làm”. Tổng
Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu “nâng cấp đào tạo, bồi dưỡng từ “học để đủ
chứng chỉ” sang “huấn luyện theo bài toán thực tiễn”, “thạo việc”; chuyển sang
bồi dưỡng theo chức danh và theo vấn đề; huấn luyện theo tình huống” (Tạp chí Cộng
sản, 2026)
Tư duy “đủ chuẩn” thường tạo ra hành vi học tập thụ động:
học để đáp ứng yêu cầu, để hoàn tất thủ tục hoặc để đủ điều kiện quy hoạch, bổ
nhiệm. Đặc biệt, tư duy “tạo năng lực thực thi và kiến tạo” thúc đẩy học tập chủ
động, liên tục và có mục tiêu. Đào tạo, bồi dưỡng hướng đích “tạo năng lực thực
thi và kiến tạo” nhằm tạo ra đội ngũ làm tốt hơn công việc được giao, có phương
pháp giải quyết vấn đề tốt hơn, tạo ra giá trị công tốt hơn cho người dân,
doanh nghiệp và địa phương (Vũ
Thanh Sơn, 2026). Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng phải trở thành một
công cụ để nâng cấp chất lượng thực thi công vụ.
Đáng chú trọng trong tình hình mới là “năng lực kiến tạo”
là bước phát triển cao hơn của năng lực công vụ. Nếu năng lực thực thi giúp cán
bộ làm tốt việc đã được giao, năng lực kiến tạo giúp họ nhìn thấy vấn đề mới, đề
xuất cách làm mới, phối hợp nguồn lực mới và mở ra giá trị mới cho tổ chức và
xã hội.
3.2. Đổi mới
toàn diện chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Nghiên cứu thiết kế lại chương trình theo cấu trúc
mô-đun năng lực, gồm ba tầng: (1) Năng lực nền
tảng: Tư duy pháp quyền, đạo đức công vụ, kỹ năng giao tiếp và phục
vụ người dân. Đây là “phần cứng” không thể thiếu, áp dụng cho mọi vị trí cán bộ
cơ sở. (2) Năng lực chuyên biệt theo chức
danh: lãnh đạo xã/phường cần năng lực lãnh đạo, điều hành phát triển
kinh tế - xã hội, quản lý ngân sách, thúc đẩy đầu tư; công chức thành thạo
chuyên môn, chẳng hạn Địa chính - Xây dựng cần thành thạo giải quyết tranh chấp
đất đai và quản lý quy hoạch; công chức Tài chính - Kế toán cần kỹ năng lập kế
hoạch ngân sách cơ sở và kiểm soát tài chính; công chức văn hóa xã hội thạo xử
lý vấn đề văn hóa xã hội, tôn giáo, dân tộc,... (3) Năng lực thích ứng với kỷ nguyên số: Ứng dụng dịch vụ công
trực tuyến, năng lực số, phân tích dữ liệu địa phương, sử dụng AI hỗ trợ soạn
thảo văn bản và tra cứu pháp lý.
3.3. Áp dụng
các phương pháp giảng dạy tích cực, hiện đại
Chuyển đổi phương pháp là yếu tố quyết định thành công của
toàn bộ quá trình đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Không thể truyền thụ “năng
lực thực hành” qua bài giảng một chiều. Cần ưu tiên ba phương pháp sau: (1) Học qua tình huống phức hợp: Mỗi khóa học
tổ chức ít nhất 30% thời lượng cho hoạt động giải quyết tình huống theo nhóm.
Tình huống phải có tính phức hợp thực tế: không có một đáp án đúng duy nhất, buộc
học viên phải cân bằng nhiều giá trị và lợi ích mâu thuẫn. Ví dụ, một đơn vị
hành chính cấp xã mới sáp nhập có ngân sách hạn hẹp, có hai cộng đồng dân cư có
lịch sử căng thẳng, phải đồng thời đạt mục tiêu phát triển kinh tế hai con số
và duy trì ổn định xã hội, cán bộ lãnh đạo sẽ làm gì trong 12 tháng đầu? (2) Mô phỏng ra quyết định: chẳng hạn, tái hiện
các cuộc họp HĐND, phiên tiếp công dân, buổi đàm phán với nhà đầu tư... để cán
bộ luyện tập hành động trong áp lực thực tế. (3) Học tập tại địa bàn: Bố trí học viên đến những xã, phường điển
hình (cả thành công lẫn thất bại) để quan sát, phỏng vấn, phân tích và trình
bày bài học kinh nghiệm. Cán bộ học được nhiều nhất không phải từ giảng đường,
mà từ người đồng nghiệp đang “làm tốt” ngay trong điều kiện tương tự.
3.4. Đổi mới
đội ngũ giảng viên và học liệu
Không thể có đổi mới phương pháp nếu giảng viên không được
đổi mới trước. Để triển khai tiếp cận “học để làm”, cần:
- Xây dựng hệ sinh thái chuyên gia, thu hút cán bộ thực
tiễn có kinh nghiệm thực tế (nguyên lãnh đạo cấp xã thành công; nhà khoa học
các trường, viện nghiên cứu, chuyên gia kinh tế địa phương; cán bộ ngành Tư
pháp, Tài chính, Quy hoạch,...) tham gia giảng dạy như giảng viên thỉnh giảng.
- Yêu cầu giảng viên cơ hữu phải có thực tế tại cơ sở, địa
phương để cập nhật thực tiễn và xây dựng tình huống giảng dạy.
- Xây dựng ngân hàng tình huống cấp quốc gia để người học,
các địa phương khai thác, tích hợp trên nền tảng học liệu số, chẳng hạn nền tảng
học “Bình dân học vụ số” theo Đề án số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 về “tăng cường
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận
hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026-2031”.
- Chuyển từ tài liệu giấy truyền thống sang học liệu số
đa phương tiện: video ngắn từ thực tiễn địa phương, podcast trao đổi kinh nghiệm
giữa cán bộ cơ sở, tài liệu tương tác trên thiết bị di động.
3.5. Đổi mới
cơ chế đánh giá và công nhận năng lực
Thay đổi cơ chế đánh giá quyết định hành vi học tập
thông qua đánh giá bằng năng lực vận dụng. Chứng chỉ hoàn thành khóa bồi dưỡng
không nên chỉ xác nhận học viên đã “tham gia” mà cần ghi rõ năng lực đã đạt,
theo tiêu chuẩn khung năng lực vị trí việc làm, để phục vụ trực tiếp công tác
đánh giá, quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ. Đây là điểm kết nối thiết yếu giữa đào
tạo và sử dụng cán bộ mà Nghị quyết 26-NQ/TW đã chỉ ra nhưng chưa được hiện thực
hóa đầy đủ.
3.6. Ứng dụng
công nghệ số trong triển khai
Cần thiết xây dựng kho học liệu số theo yêu cầu của cấu
trúc E-learning, trên cơ sở đó, người học có thể tiếp cận dễ dàng để tự học tập,
tra cứu. Mô hình trực tuyến và kết hợp trực tiếp - trực tuyến được Nghị định
171/2025/NĐ-CP quy định là hình thức bồi dưỡng hợp lệ. Đây là cơ hội để mở rộng
quy mô đào tạo mà không bị ràng buộc bởi địa lý và biên chế giảng viên. Tuy
nhiên, không phải mọi năng lực đều có thể phát triển qua màn hình; năng lực
lãnh đạo, giao tiếp và giải quyết xung đột cần môi trường học tập trực tiếp. Do
đó, mô hình tối ưu là học lý luận nền và tình huống thông qua nền tảng số, kết
hợp với thực hành nhóm trực tiếp định kỳ bảo đảm phù hợp với tinh thần của Đề
án số 700/QĐ-TTg.
Kết luận
“Cán bộ là gốc của mọi công việc”, như lời dạy của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã trở thành di sản tư tưởng của Đảng ta. Nhưng “gốc” đó chỉ vững
khi học để hành động. Kỷ nguyên mới đang đòi hỏi những cán bộ cơ sở không chỉ
biết nghị quyết mà còn biết chuyển hóa nghị quyết thành hành động thiết thực
trong đời sống của người dân.
Đào tạo, bồi dưỡng hướng đích “tạo năng lực thực thi và
kiến tạo” có giá trị thiết thực trong bối cảnh cải cách chính quyền địa phương
2 cấp gắn với đột phá về tổ chức bộ máy. Bộ máy tốt chỉ vận hành hiệu quả khi
con người bên trong nó có đủ năng lực thực thi. Chuyển sang triết lý “học để
làm” không đơn giản là thêm bài tập vào chương trình hiện có, mà là một cuộc cải
cách triệt để về nội dung, phương pháp, đánh giá và cơ chế quản lý đào tạo.
Thay đổi tiếp cận là nhằm tạo ra đội ngũ làm tốt hơn công việc được giao có
phương pháp giải quyết vấn đề tốt hơn, tạo ra giá trị công tốt hơn cho người
dân và địa phương.
Ngày nhận: 23/6/2026 Ngày
phản biện: 10/7/2026 Duyệt đăng:
15/7/2026
Tài
liệu tham khảo:
Báo Điện tử Chính phủ (2025).
Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: Học tập suốt
đời. https://baochinhphu.vn
Ban Chấp hành Trung ương
(2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19 tháng
5 năm 2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược,
đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Chính phủ (2025). Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2025
quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức.
Thu Giang (2026). Cách mạng tinh gọn bộ máy, vận hành chính quyền địa
phương hai cấp: Dấu ấn cải cách lịch sử. https://baochinhphu.vn
Gonczi, A., Hager, P., &
Oliver, L. (1990). Establishing
competency-based standards in the professions (Research Paper No.
1). National Office of Overseas Skills Recognition. Australian Government
Publishing Service.
Gwee, J. (Ed.). (2013). Case studies in public governance: Building
institutions in Singapore. Routledge.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh (2026). Bế mạc lớp bồi dưỡng nâng
cao năng lực xử lý tình huống thực tiễn đối với đội ngũ cán bộ cơ sở.
Krathwohl, D. R. (2002). A
revision of Bloom's taxonomy: An overview. Theory
Into Practice, 41(4), 212-218.
Misko, J. (2008). The origins
of competency-based training. Australian
Journal of Adult Learning, 47(2).
https://files.eric.ed.gov
Ngo, S. T.(2024). Training
and retraining civil servants in Vietnam. Teaching
Public Administration. https://doi.org/10.1177/01447394241267221
Oakeshott, M.(1962). Rationalism in politics and other essays.
Methuen.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20 tháng 4 năm 2026 phê
duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc
khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp giai đoạn 2026-2031.
Tạp chí Cộng sản (2026). Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Tổ chức Trung
ương. https://www.tapchicongsan.org.vn
Văn phòng Trung ương Đảng
(2026). Thông báo số 21-TB/VPTW ngày 07
tháng 3 năm 2026 Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với
Ban Tổ chức Trung ương.
Vũ Thanh Sơn (2026). Đổi mới
tư duy đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng kịp thời nhu cầu kiến thức và kỹ năng
của cán bộ, công chức trong chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Tổ chức Nhà nước và Lao động, số
5/2026, tr.12-16.
Wenger, E. (1998). Communities of practice: Learning, meaning, and identity.
Cambridge University Press.