Thứ Năm, ngày 17/09/2026, 17:22

Bồi dưỡng năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên

TS Tạ Quang Tuấn
Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

GDLL: Trong hoạt động xuất bản báo chí, đội ngũ phóng viên, biên tập viên là lực lượng nòng cốt trong định hướng dư luận, truyền tải chủ trương, chính sách và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Sự biến đổi nhanh chóng của môi trường truyền thông số đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Từ phân tích những yêu cầu mới và những hạn chế trong công tác bồi dưỡng hiện nay, bài viết đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của đội ngũ người làm báo trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

 

Trao giải Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”(ảnh news.vnanet.vn)

 

Capacity building for reporters and editors in safeguarding the Party’s ideological foundation and countering and refuting wrong and hostile viewpoints

Abstract In journalistic publishing, reporters and editors play a central role in shaping public opinion, communicating guidelines and policies, safeguarding the Party’s ideological foundation, and countering and refuting erroneous and hostile viewpoints. The rapid transformation of the digital media environment is creating an urgent need to strengthen their capacity to safeguard the Party’s ideological foundation. By examining new requirements and current shortcomings in capacity-building efforts, the article proposes solutions to enhance journalists’ capacity to counter and refute erroneous and hostile viewpoints in the current context of digital transformation.

Keywords:Capacity building; safeguarding the Party’s ideological foundation; countering and refuting wrong and hostile viewpoints; reporters; editors.


Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và truyền thông xuyên biên giới, môi trường và phương thức hoạt động báo chí đang thay đổi sâu sắc, đặt ra yêu cầu mới đối với đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Quá trình tinh gọn, tái cấu trúc cơ quan báo chí cũng làm thay đổi vị trí việc làm, gia tăng tính đa nhiệm và áp lực tác nghiệp, khiến người làm báo có ít thời gian hơn cho tự học, nghiên cứu lý luận chính trị và nâng cao năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh những kết quả đạt được, một bộ phận phóng viên, biên tập viên còn hạn chế về kiến thức lý luận chính trị, kỹ năng nhận diện, phân tích, xác minh và phản bác thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Nội dung bồi dưỡng ở một số đơn vị còn thiên về lý luận, chưa gắn chặt với thực hành và yêu cầu nghề nghiệp trong môi trường số. Trong khi đó, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng đa dạng, tinh vi, ứng dụng công nghệ mới và lan truyền nhanh trên các nền tảng số. Một bộ phận người làm báo cũng chưa chủ động tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực. Nội dung, phương thức bồi dưỡng đội ngũ phóng viên, biên tập viên theo hướng thiết thực, hiện đại, gắn với vị trí việc làm và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới là yêu cầu cấp bách.

1. Bối cảnh mới và yêu cầu đặt ra đối với bồi dưỡng năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên

1.1. Những biến đổi của môi trường báo chí và truyền thông số

Thứ nhất, bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, hệ thống báo chí toàn cầu đang vận động trong một bối cảnh phát triển mới với những biến đổi sâu rộng về kinh tế, chính trị, công nghệ và xã hội. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật và truyền thông số đã làm thay đổi căn bản hệ sinh thái thông tin toàn cầu (Reuters Institute, 2024). Đồng thời, quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh địa chính trị, sự phát triển của truyền thông xuyên biên giới và sự xuất hiện của nền kinh tế đa nền tảng đã hình thành môi trường truyền thông đa trung tâm, đa chủ thể và đa phương thức vận hành. Trong bối cảnh đó, báo chí không còn vận hành theo mô hình truyền thống, với vai trò độc quyền trong sản xuất và phân phối thông tin mà đang chuyển dịch sang mô hình hệ sinh thái truyền thông số tích hợp dựa trên dữ liệu và công nghệ (Sonni et al., 2024).

Thứ hai, từ mô hình phân tầng truyền thống đến nay là sự phát triển của mô hình tòa soạn hội tụ và sản xuất nội dung đa nền tảng. Nhiều tổ chức báo chí đang chuyển sang mô hình “tòa soạn hội tụ” và “phòng tin tích hợp”. Trong mô hình mới này, việc sản xuất nội dung được tổ chức theo hướng kết nối đa nền tảng, tích hợp dữ liệu và công nghệ nhằm tối ưu hóa quy trình vận hành và tăng hiệu quả quản trị (Sonni et al., 2024).

Thứ ba, sự thay đổi vai trò chủ thể trong quản trị báo chí. Hiện nay, chủ thể quản trị đã được mở rộng sang các doanh nghiệp công nghệ, nền tảng số, nhà cung cấp dữ liệu, doanh nghiệp AI và các tổ chức trung gian thông tin. Các nền tảng như Google, Meta, TikTok và các hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo sinh (AIG) ngày càng có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình phân phối, tiếp cận và tiêu thụ thông tin, qua đó thúc đẩy sự chuyển dịch từ mô hình quản trị tuyến tính sang mô hình quản trị mạng lưới đa chủ thể (Reuters Institute, 2024).

Thứ tư, sự thay đổi về đối tượng phục vụ của báo chí đang chuyển từ mô hình truyền thông đại chúng sang mô hình truyền thông cá nhân hóa. Nghiên cứu gần đây cho thấy các cơ quan báo chí hiện đại đang sử dụng dữ liệu hành vi và AI nhằm xây dựng trải nghiệm thông tin phù hợp với từng nhóm công chúng cụ thể (Tạ & cộng sự, 2024).

Thứ năm, thay đổi về phương thức phục vụ và sản xuất nội dung báo chí. Hiện nay hoạt động báo chí đang chuyển sang mô hình tương tác thời gian thực dựa trên dữ liệu. AI được ứng dụng trong nhiều khâu như phân tích xu hướng, xử lý dữ liệu, đề xuất chủ đề, hỗ trợ biên tập, dịch thuật, tạo tiêu đề và cá nhân hóa nội dung chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của môi trường truyền thông đa nền tảng, đổi mới báo chí đang trở thành yêu cầu tất yếu nhằm thích ứng với những thay đổi của hệ sinh thái truyền thông hiện đại.

Từ những thay đổi trên có thể thấy rằng hệ thống báo chí toàn cầu đang chuyển dịch từ mô hình “báo chí truyền thống dựa trên nội dung” sang mô hình “hệ sinh thái báo chí thông minh dựa trên dữ liệu và công nghệ”. Cùng với những cơ hội phát triển mới, đội ngũ biên tập viên, phóng viên của báo chí toàn cầu sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức.

1.2. Vai trò và yêu cầu năng lựccủa đội ngũ phóng viên, biên tập viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của môi trường truyền thông số, hoạt động thông tin - truyền thông đang thay đổi sâu sắc về phương thức vận hành, tốc độ lan truyền và phạm vi ảnh hưởng. Sự phát triển của mạng xã hội, nền tảng số xuyên biên giới, trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ truyền thông mới mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, nhưng đồng thời làm gia tăng tin giả, thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc và hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng - chính trị (Nguyễn Thị Lê Thư, 2024). Trong bối cảnh đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu của cả hệ thống chính trị, trong đó đội ngũ những người làm báo chí giữ vai trò nòng cốt, tiên phong.

Một là, những người làm báo trong hệ thống cơ quan báo chí giữ vai trò quan trọng trong tuyên truyền, phổ biến và lan tỏa nền tảng tư tưởng của Đảng đến các tầng lớp nhân dân. Với chức năng là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí cách mạng Việt Nam không chỉ cung cấp thông tin mà còn thực hiện nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng và định hướng xã hội góp phần củng cố niềm tin chính trị, nâng cao nhận thức và tăng cường sự thống nhất trong xã hội.

Hai là, báo chí giữ vai trò định hướng dư luận xã hội và tạo lập thông tin chủ lưu. Trong môi trường thông tin đa nguồn, công chúng phải tiếp nhận lượng thông tin lớn với mức độ xác thực khác nhau, trong đó có thông tin sai sự thật, xuyên tạc, tác động tiêu cực đến nhận thức và niềm tin xã hội. Vì vậy, đội ngũ những biên tập viên, phóng viên báo chí có trách nhiệm cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời, được kiểm chứng; đồng thời phân tích, lý giải các vấn đề quan trọng, góp phần định hướng nhận thức và củng cố đồng thuận xã hội.

Ba là, đội ngũ biên tập viên, phóng viên, những người làm báo trong hệ thống cơ quan báo chí giữ vai trò xung kích trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đội ngũ biên tập viên, phóng viên phải nâng cao năng lực để chủ động nhận diện, phân tích và phản bác các luận điệu sai trái trên cơ sở lý luận và thực tiễn.

Bốn là, hệ thống cơ quan báo chí giữ vai trò kết nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Báo chí vừa truyền tải chủ trương, chính sách, vừa phản ánh tâm tư, nguyện vọng và kiến nghị của Nhân dân đến các cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, đội ngũ phóng viên, biên tập viên không chỉ thực hiện chức năng thông tin mà còn là lực lượng quan trọng, là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng của Đảng. Trước sự biến đổi nhanh của môi trường truyền thông số nâng cao chất lượng đội ngũ người làm báo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Năm là, sự thay đổi của mô hình báo chí cũng làm chuyển biến vai trò và yêu cầu đối với phóng viên, biên tập viên. Đội ngũ này cần phải thực hiện các công việc như chụp ảnh, quay video, xử lý dữ liệu, biên tập và sản xuất nội dung đa phương tiện. Biên tập viên ngoài công việc chỉnh sửa nội dung còn phải tham gia kiểm chứng dữ liệu, quản trị nội dung đa nền tảng và hỗ trợ vận hành hệ sinh thái số của cơ quan báo chí.

Sáu là, xu hướng quản trị báo chí theo hướng tinh gọn, linh hoạt, giảm tầng nấc trung gian và tăng quyền tự chủ giúp rút ngắn thời gian xử lý thông tin, nâng cao khả năng phản ứng trước các sự kiện đòi hỏi phóng viên, biên tập viên phải tự nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội đối với từng sản phẩm báo chí.

Môi trường truyền thông cạnh tranh và yêu cầu cập nhật công nghệ liên tục đang làm gia tăng yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp đối với phóng viên, biên tập viên, nhất là về tốc độ đưa tin, tương tác với công chúng và khả năng thích ứng năng lực công nghệ và năng lực số ngày càng trở thành yêu cầu cốt lõi đối với người làm báo.

Nhìn chung, sự chuyển dịch sang mô hình báo chí tích hợp, đa nhiệm và dựa trên công nghệ số đòi hỏi phóng viên, biên tập viên chuyển từ năng lực nghề nghiệp đơn ngành sang năng lực tổng hợp, gồm năng lực chính trị, chuyên môn, công nghệ, năng lực số và khả năng thích ứng với môi trường truyền thông hiện đại.

1.3. Những hạn chế trong tiếp cận chương trình bồi dưỡng năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên

Thứ nhất, nội dung bồi dưỡng chưa thật sự đồng bộ với yêu cầu thực tiễn nghề nghiệp. Một số chương trình còn tập trung vào truyền đạt lý luận chung, cập nhật chủ trương, chính sách, trong khi chưa theo kịp sự biến đổi nhanh chóng của môi trường truyền thông số và các phương thức chống phá ngày càng tinh vi. Các chuyên đề về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chưa được tích hợp đầy đủ vào chương trình bồi dưỡng theo chức danh nghề nghiệp và vị trí việc làm của phóng viên, biên tập viên.

Thứ hai, áp lực công việc và tác nghiệp ngày càng lớn cũng hạn chế khả năng tham gia bồi dưỡng của phóng viên, biên tập viên. Sự chuyển đổi sang mô hình tòa soạn hội tụ, đa nền tảng làm gia tăng yêu cầu sản xuất nội dung đa phương tiện, quản trị nền tảng số, tương tác với công chúng và xử lý dữ liệu, qua đó thu hẹp thời gian dành cho học tập, cập nhật kiến thức và nâng cao năng lực. Ở nhiều cơ quan báo chí, nhất là tại địa phương và các đơn vị đang tinh gọn tổ chức bộ máy, điều kiện về kinh phí, thời gian và cơ sở vật chất phục vụ bồi dưỡng còn hạn chế; trong khi nội dung bồi dưỡng cần gắn chặt hơn với vị trí việc làm, kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng số.

Thứ ba, sự chênh lệch về năng lực nền tảng giữa các phóng viên, biên tập viên còn có sự khác biệt. Một bộ phận được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ báo chí nhưng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức lý luận chính trị, kỹ năng nhận diện hoạt động chống phá trên không gian mạng và phương pháp phản bác thông tin sai lệch dựa trên cơ sở khoa học. Sự chênh lệch này ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu các chương trình bồi dưỡng theo hướng tích hợp kiến thức chính trị, công nghệ và truyền thông số (Nguyễn Huy Đại, 2026).

Thứ tư, công tác bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với đội ngũ phóng viên, biên tập viên vẫn còn còn thiếu sự đồng bộ trong phối hợp giữa các cơ quan liên quan về xây dựng nội dung, tổ chức triển khai và đánh giá kết quả. Hoạt động bồi dưỡng ở một số nơi còn thực hiện riêng lẻ, thiếu liên thông về nội dung, chưa thống nhất mục tiêu đầu ra và chưa gắn chặt với vị trí việc làm. Một số chương trình vẫn thiên về phổ biến lý luận, chủ trương, chính sách, trong khi chưa chú trọng đúng mức đến năng lực xử lý các tình huống thực tiễn trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Nhìn chung, những hạn chế trong tiếp cận chương trình bồi dưỡng gồm nhiều yếu tố: chủ thể tổ chức, nội dung, nguồn lực và năng lực của người học. Thực trạng đó đặt ra yêu cầu chuyển từ bồi dưỡng theo hướng truyền thống sang bồi dưỡng theo năng lực, vị trí việc làm và yêu cầu thực tiễn của môi trường truyền thông số, qua đó nâng cao khả năng đáp ứng nhiệm vụ của đội ngũ phóng viên, biên tập viên.

2. Giải pháp bồi dưỡng năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên

Thứ nhất, ban hành cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chủ quản để tổ chưc bồi dưỡng năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên.

Trong bối cảnh các phương thức chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị ngày càng đa dạng, tinh vi, nhất là trên không gian mạng, nền tảng số và với sự hỗ trợ của AI, yêu cầu về bản lĩnh chính trị, năng lực nhận diện, xử lý và phản bác thông tin sai lệch đối với phóng viên, biên tập viên ngày càng cao. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chủ quản nhằm tạo sự liên kết thống nhất từ xây dựng chương trình, tổ chức bồi dưỡng đến kiểm tra, đánh giá và theo dõi kết quả vận dụng sau bồi dưỡng. Cơ chế phối hợp cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của từng chủ thể trong quá trình thực hiện. Trong đó, các cơ quan của Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo, định hướng và xác định những nội dung trọng tâm; Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phát huy vai trò trong xây dựng, phát triển chương trình, khung nội dung, chuẩn đầu ra và hệ thống đánh giá năng lực; các cơ quan báo chí và cơ sở đào tạo, bồi dưỡng báo chí cung cấp thông tin thực tiễn, phối hợp tổ chức và triển khai bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng, địa bàn. Qua đó, từng bước hình thành cơ chế phối hợp thống nhất, khắc phục tình trạng tổ chức bồi dưỡng riêng lẻ, nâng cao tính liên thông giữa nội dung bồi dưỡng với yêu cầu thực tiễn và vị trí việc làm của đội ngũ phóng viên, biên tập viên.

Thứ hai, đổi mới nội dung và đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng, phù hợp với đặc thù của từng địa phương.

Thực tiễn cho thấy, sự khác biệt về điều kiện địa phương, loại hình báo chí và nhu cầu của từng nhóm đối tượng. Do đó, cần đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng theo nhu cầu, vị trí việc làm và đặc thù thực tiễn. Đối với các địa phương biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoặc có hoạt động thông tin đối ngoại, cần chú trọng những nội dung liên quan đến công tác dân tộc, tôn giáo, chủ quyền lãnh thổ và nhận diện thông tin xuyên tạc. Đối với các đô thị lớn, địa phương có mức độ chuyển đổi số cao, cần tăng cường kỹ năng xử lý khủng hoảng truyền thông, quản trị thông tin trên nền tảng số, nhận diện thông tin giả và ứng dụng công nghệ trong hoạt động báo chí.

Các cơ quan của Đảng, Ban Chỉ đạo 35, cấp ủy các bộ, ban, ngành, tỉnh ủy, thành ủy cần định hướng nội dung trọng tâm phù hợp từng thời kỳ, ngành và địa phương. Trên cơ sở đó, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và cơ quan quản lý báo chí xây dựng khung chương trình theo hướng mở, thống nhất nội dung cốt lõi nhưng linh hoạt theo từng đối tượng.

Hội Nhà báo Việt Nam, các cơ quan báo chí, trường chính trị tỉnh, thành phố và đơn vị liên quan phối hợp khảo sát nhu cầu, lựa chọn nội dung và tổ chức bồi dưỡng phù hợp. Đối tượng cần được mở rộng đến đội ngũ phụ trách nội dung số, thư ký tòa soạn, phóng viên đa phương tiện và nhân sự trực tiếp tham gia quản trị, sản xuất, phân phối thông tin trên môi trường số.

Hình thức bồi dưỡng cần thường xuyên, linh hoạt, kết hợp trực tiếp với trực tuyến, chú trọng các chuyên đề ngắn hạn để kịp thời cập nhật vấn đề mới và những phương thức chống phá trên không gian mạng. Qua đó, chuyển từ bồi dưỡng đồng loạt sang bồi dưỡng theo nhu cầu, góp phần nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn nghề nghiệp của đội ngũ phóng viên, biên tập viên.

Thứ ba, tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả bồi dưỡng.

Kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả là khâu quan trọng bảo đảm chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Thực tiễn cho thấy, việc đánh giá ở một số cơ sở còn thiên về quản lý quá trình, chủ yếu dựa trên số lượng lớp, học viên và mức độ hoàn thành chương trình, chưa chú trọng đầy đủ đến khả năng chuyển hóa kiến thức thành năng lực thực tiễn. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ đánh giá quá trình sang đánh giá năng lực và kết quả đầu ra.

Theo đó, cần xây dựng hệ thống tiêu chí, chuẩn đầu ra và công cụ đánh giá phù hợp với từng nhóm đối tượng, tập trung vào khả năng nhận diện vấn đề, xử lý tình huống và vận dụng kiến thức trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan của Đảng, Ban Chỉ đạo 35 và cấp ủy địa phương thực hiện định hướng, chỉ đạo, kiểm tra; các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng phối hợp xây dựng tiêu chí, nội dung và phương pháp đánh giá.

Hoạt động kiểm tra, đánh giá cần được thực hiện trước, trong và sau bồi dưỡng. Trước bồi dưỡng, đánh giá năng lực đầu vào; trong quá trình bồi dưỡng, theo dõi mức độ tiếp thu và thực hành; sau bồi dưỡng, đánh giá khả năng vận dụng thông qua sản phẩm báo chí, xử lý tình huống và hoạt động thực tiễn. Đồng thời, kết hợp đánh giá trực tiếp với các nền tảng số và hệ thống quản lý học tập trực tuyến. Qua đó, bảo đảm hoạt động bồi dưỡng không chỉ dừng ở hoàn thành chương trình mà thực sự hướng đến phát triển năng lực, nâng cao bản lĩnh chính trị và khả năng thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ phóng viên, biên tập viên.

Thứ tư, kiến tạo nguồn lực phù hợp để phục vụ công tác bồi dưỡng tại địa phương

Bảo đảm nguồn lực là điều kiện quan trọng để nâng cao tính khả thi và hiệu quả bồi dưỡng đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Thực tế cho thấy, điều kiện tổ chức bồi dưỡng giữa các địa phương còn chênh lệch về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, đội ngũ giảng viên, công nghệ và học liệu số. Vì vậy, cần huy động, phân bổ và sử dụng đồng bộ các nguồn lực, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương.

Trong điều kiện AI, truyền thông đa nền tảng và môi trường số phát triển nhanh, nguồn lực phục vụ bồi dưỡng cần được bảo đảm đồng bộ theo bốn nhóm: vật lực, nhân lực, tài lực và tin lực.

Thứ nhất, về vật lực, bên cạnh cơ sở vật chất, trang thiết bị truyền thống, cần phát triển hạ tầng số phục vụ bồi dưỡng như nền tảng học trực tuyến, hệ thống quản lý bồi dưỡng và thiết bị hỗ trợ sản xuất nội dung số, nhất là tại các địa phương còn khó khăn.

Thứ hai, về nhân lực, cần phát huy vai trò của đội ngũ phóng viên, biên tập viên, giảng viên, chuyên gia lý luận, công nghệ, truyền thông và cán bộ quản lý bồi dưỡng. Đội ngũ này cần có nền tảng lý luận chính trị, kinh nghiệm thực tiễn, năng lực ứng dụng công nghệ và khả năng cập nhật những vấn đề mới của môi trường truyền thông.

Thứ ba, về tài lực, cần đa dạng hóa nguồn kinh phí, kết hợp ngân sách nhà nước với các nguồn xã hội hóa hợp pháp, bảo đảm công khai, minh bạch và sử dụng hiệu quả.

Thứ tư, về tin lực, cần xây dựng hệ thống dùng chung giữa các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về dữ liệu số, học liệu điện tử, thư viện số, ngân hàng dữ liệu và nền tảng quản trị dữ liệu. Việc ứng dụng AI trong hỗ trợ, cá nhân hóa hoạt động bồi dưỡng góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập.

Như vậy, phát triển đồng bộ vật lực, nhân lực, tài lực và tin lực sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng bồi dưỡng, thu hẹp chênh lệch về điều kiện giữa các địa phương và phát triển năng lực của đội ngũ phóng viên, biên tập viên đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới.

3. Kết luận

Nâng cao năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên cần được xác định là một bộ phận quan trọng trong xây dựng đội ngũ người làm báo đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Trọng tâm không chỉ là bổ sung kiến thức lý luận chính trị mà phải hình thành năng lực vận dụng, khả năng nhận diện, phân tích và xử lý thông tin trong môi trường truyền thông số. Theo đó, đổi mới công tác bồi dưỡng theo hướng gắn với năng lực, vị trí việc làm và yêu cầu thực tiễn, đồng thời bảo đảm cơ chế phối hợp, hình thức tổ chức linh hoạt, đánh giá thực chất và các nguồn lực cần thiết. Thực hiện đồng bộ các yêu cầu này sẽ góp phần xây dựng đội ngũ phóng viên, biên tập viên vững về bản lĩnh chính trị, giỏi về nghiệp vụ, chủ động về công nghệ, qua đó phát huy tốt hơn vai trò của báo chí cách mạng trong định hướng dư luận xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

 

Tài liệu tham khảo:

Cools, H., & Diakopoulos, N (2024). Uses of generative AI in the newsroom: Mapping journalists' perceptions of perils and possibilities. Journalism Practice. https://doi.org

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024). Hội thảo khoa học quốc gia: “Đào tạo báo chí - truyền thông trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay”. https://hcma.vn.

Nguyễn Huy Đại (2026). Vai trò của báo chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Luận án tiến sỹ, Mã số 931.02.04, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, https://hcma.vn.

Nguyễn Thị Lê Thu (2023). Vai trò của cán bộ, công chức, viên chức trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Quản lý nhà nước, 331, 72–75. https://doi.org

Nguyễn Thị Lê Thư (2024). Nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Quản lý nhà nước, 346, 3 - 7. https://doi.org

Reuters Institute (2024). Digital news report 2024. Reuters Institute for the Study of Journalism. https://journalism.co.za

Sonni, A. F., Hafied, H., Irwanto, I., & Latuheru, R (2024). Digital newsroom transformation: A systematic review of the impact of artificial intelligence on journalistic practices, news narratives, and ethical challenges. Journalism and Media, 5(4), 1554–1570. https://doi.org

Thông tấn xã Việt Nam (2024). Góp tiếng nói đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. https://mega.vietnamplus.vn.

Tạ. T. N.Trang, Thang, P. C., Hai, L. D., Phuong, V. T., & Quy, T. Q (2024). Understanding the adoption of artificial intelligence in journalism: An empirical study in Vietnam. SAGE Open, 14(2). https://doi.org

Đọc thêm

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong tác phẩm "Sửa đối lối làm việc" đối với rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay

Tác giả: TRẦN THỊ THIỀU HOA - ĐẶNG MINH PHỤNG

(GDLL) - Giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm trong quá trình xây dựng Đảng. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải rèn luyện, trau dồi, giữ vững đạo đức cách mạng. Trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức nhân loại, Người phát triển và sáng tạo những giá trị đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam. Bài viết tìm hiểu việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đối với việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay.

Bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo, nhà báo ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Ngô Quang Trung

(GDLL) - Bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo, nhà báo đóng vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước hiện nay. Bài viết tập trung làm rõ những yêu cầu về năng lực, phẩm chất của cán bộ tuyên giáo, nhà báo trong bồi dưỡng nâng cao, quán triệt theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo, nhà báo đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới ở Việt Nam hiện nay.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo

Tác giả: TS LÊ THỊ THU HỒNG - TS PHẠM VĂN PHÚ

(LLCT) - Xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung được Đảng ta xác định là một trong những nhân tố quyết định để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, tạo động lực thúc đẩy đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới. Bài viết làm rõ quan điểm, yêu cầu vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xác định phương hướng giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo theo.

Vận dụng sáng tạo hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng giai đoạn 1930-1945 vào thực tiễn ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: BIỆN THỊ HOÀNG NGỌC

(GDLL) - Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam bằng nhiều phương thức phong phú, sáng tạo, hiệu quả. Bài viết trình bày sự sáng tạo, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh phản bác các quan điểm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng giai đoạn 1930-1945 và một số vấn đề cần vận dụng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Quan điểm Hồ Chí Minh về nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới

Tác giả: NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

(GDLL) - Trong bối cảnh một thế giới đang có nhiều đổi thay mạnh mẽ như hiện nay, việc nâng cao dân trí cho Nhân dân không chỉ là điều kiện để đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mỗi người dân và xã hội mà hơn thế nữa, nó còn mang ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững và tiến bộ của đất nước. Vì vậy, bài viết tập trung phân tích một số quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao trình độ dân trí cho Nhân dân, từ đó chỉ ra sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay.