
Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn hướng tới phát triển xanh, bền vững (ảnh news.vnanet.vn)
Reforming the economic model in
line with Resolution No. 19-NQ/TW of the Third Plenum of the 14th Party Central
Committee of the Communist Party of Vietnam
Abstract: Resolution No. 19-NQ/TW of the Third Plenum of the 14th
Central Committee of the Communist Party of Vietnam sets out orientations for
reforming Vietnam’s development model, with reform of the economic model as a
central focus. The article examines the substantive elements of the economic
model envisaged in Resolution No. 19-NQ/TW, clarifying shifts in growth drivers
and economic structure, as well as the roles of new productive forces and
Vietnamese enterprises. On this basis, it proposes several key orientations for
realizing the new economic model to meet the requirements for the country’s
rapid and sustainable development by 2045.
Keywords: Development model reform; economic model; Resolution No.
19-NQ/TW.
Đặt vấn đề
Thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mới
dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, chuyển đổi
xanh và yêu cầu phát triển bền vững, làm thay đổi căn bản các động lực tăng trưởng
và năng lực cạnh tranh toàn cầu. Trong bối cảnh đó, mô hình kinh tế cần được đổi
mới mạnh mẽ, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và mục
tiêu phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam.
Nhận thức rõ yêu cầu đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã định hướng đổi mới
toàn diện mô hình kinh tế. Theo đó, chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào
các yếu tố truyền thống sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và năng suất cao, với các đặc trưng hiệu quả, sáng tạo, xanh,
tự chủ, bao trùm và hội nhập, là yêu cầu quan trọng nhằm hiện thực hóa khát vọng
phát triển đất nước đến năm 2045.
1. Sự cần thiết phải đổi mới mô hình
kinh tế ở Việt Nam
Đổi mới mô hình phát triển kinh tế ở Việt Nam là yêu cầu khách quan nhằm đáp ứng những
biến đổi của bối cảnh phát triển trong nước và quốc tế, hướng tới mục tiêu phát
triển nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Trong tổng
thể mô hình phát triển quốc gia, mô hình kinh tế giữ vị trí nền tảng, tạo lập
các nguồn lực vật chất, quyết định năng lực cạnh tranh, khả năng huy động và
phân bổ nguồn lực cho phát triển; đồng thời tạo điều kiện thực hiện các mục
tiêu về văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả quản trị quốc
gia. Vì vậy, đổi mới mô hình kinh tế có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy đổi
mới mô hình phát triển kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn mới.
Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy, mô hình kinh
tế của Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, đưa đất nước đạt được những thành
tựu quan trọng về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hội nhập quốc tế và
nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, mô hình kinh tế hiện nay vẫn bộc lộ một
số hạn chế nhất định. “Tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng, dựa nhiều
vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp; năng suất lao động, năng lực khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026).
Trong khi đó, các động lực tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động chưa phát huy đầy đủ vai
trò dẫn dắt.
Thực tế trên cho thấy, yêu cầu đặt ra hiện nay
không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức
tạo ra tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và hình thành các động
lực phát triển mới. Đây là yêu cầu tất yếu để Việt Nam chuyển từ mô hình phát
triển dựa nhiều vào khai thác các nguồn lực truyền thống sang mô hình phát triển
dựa chủ yếu vào tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất
lao động cao.
2. Nội hàm mô hình kinh tế mới theo
tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị
lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV xác định mô hình phát
triển kinh tế Việt Nam là: “Mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ,
bao trùm và hội nhập; chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động,
tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao; nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập. Lực lượng
sản xuất mới trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng; hoàn thiện quan hệ sản
xuất tiến bộ, phù hợp, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực phát triển;
doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, có năng lực làm chủ công nghệ, vị trí quan trọng
trong các ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái phát triển hiện đại. Kinh tế
xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn, kinh tế cácbon thấp và
khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trở thành cấu trúc quan trọng
đặc trưng của nền kinh tế” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026).
Nội dung trên cho thấy, mô hình kinh tế mới
theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW thể hiện sự chuyển đổi căn bản về tư duy
phát triển: từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác các nguồn lực truyền
thống sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Nội hàm của mô hình kinh tế mới được thể hiện
trên bốn phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, chuyển đổi động lực tăng trưởng dựa trên khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao. Nội dung cốt
lõi của mô hình kinh tế mới là chuyển từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động,
tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa vào các yếu tố chiều sâu. Trong bối
cảnh các nguồn lực truyền thống ngày càng có giới hạn, khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực quan trọng quyết định
năng lực cạnh tranh và khả năng tạo ra giá trị gia tăng của nền kinh tế. Chuyển
đổi số tạo ra phương thức phát triển mới thông qua khai thác dữ liệu, kết nối
các chủ thể kinh tế, nâng cao hiệu quả quản trị và đổi mới mô hình sản xuất,
kinh doanh. Đồng thời, nâng cao năng suất lao động trở thành thước đo quan trọng
phản ánh chất lượng tăng trưởng, là điều kiện để Việt Nam chuyển sang mô hình cạnh
tranh dựa trên năng suất, chất lượng và hàm lượng tri thức cao.
Thứ hai, phát triển lực lượng sản xuất mới gắn với hoàn thiện quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp. Mô hình kinh tế mới xác định lực lượng sản xuất mới
là động lực chủ yếu của tăng trưởng. Trong đó, tri thức, dữ liệu, công nghệ,
năng lực sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực ngày càng trở thành những yếu tố
quan trọng tạo ra giá trị gia tăng và mở rộng không gian phát triển.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất mới đòi hỏi
tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp, trước hết là hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đầy đủ, đồng bộ, hiện
đại và hội nhập. Cùng với đó, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cải thiện
môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực,
tạo điều kiện để các chủ thể kinh tế phát huy năng lực sáng tạo.
Thứ ba, hình thành cấu trúc kinh tế hiện đại trên nền tảng kinh tế
xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn và kinh tế cácbon thấp. Mô
hình kinh tế mới không chỉ thay đổi động lực tăng trưởng mà còn hướng tới chuyển
đổi cấu trúc nền kinh tế. Trong đó, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế
các-bon thấp phản ánh yêu cầu phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo
vệ môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên; đồng thời trở thành những yếu tố
quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh các tiêu chuẩn xanh ngày
càng tác động sâu rộng đến thương mại và đầu tư quốc tế.
Cùng với đó, kinh tế số và kinh tế dữ liệu tạo
ra những phương thức phát triển mới dựa trên khai thác, kết nối và sử dụng hiệu
quả dữ liệu. Việc phát triển các không gian mới như không gian số, hệ sinh thái
đổi mới sáng tạo và các lĩnh vực công nghệ mới sẽ mở rộng khả năng phát triển,
thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế dựa nhiều vào nguồn lực hữu hạn
sang nền kinh tế dựa trên tri thức và sáng tạo.
Thứ tư, phát huy mạnh mẽ năng lực nội sinh, nâng cao tính tự chủ
và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong phát huy năng lực nội sinh, hệ thống
doanh nghiệp Việt Nam là một chủ thể quan trọng, vừa là lực lượng trực tiếp tạo
ra của cải, việc làm và giá trị gia tăng, vừa là hạt nhân thúc đẩy đổi mới mô
hình phát triển. Trọng tâm phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong mô hình kinh
tế mới không chỉ là phát triển về số lượng và quy mô, mà phải hình thành ngày
càng nhiều doanh nghiệp có năng lực công nghệ, quản trị và đổi mới sáng tạo,
tiên phong trong các lĩnh vực mới như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp
bán dẫn, công nghệ xanh, năng lượng mới, logistics và các ngành công nghiệp có
giá trị gia tăng cao; từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào
chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cường tính tự chủ, tự cường của nền kinh tế.
3. Một số định hướng thực hiện đổi mới
mô hình kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW
Đổi mới mô hình kinh tế theo tinh thần Nghị quyết
số 19-NQ/TW không chỉ đặt ra yêu cầu xác định những động lực và nguồn lực mới,
mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức tổ chức, vận hành và quản trị nền kinh
tế. Trên cơ sở nội hàm của mô hình kinh tế mới đã được xác định, quá trình hiện
thực hóa cần tập trung vào một số định hướng chủ yếu sau:
Thứ nhất, đổi mới phương thức xây dựng và thực thi thể chế theo hướng
kiến tạo phát triển. Trọng tâm của hoàn thiện thể chế không chỉ là bổ sung,
hoàn thiện các quy định, mà quan trọng hơn là tạo lập môi trường thể chế có khả
năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế, khuyến khích các
chủ thể tìm kiếm, thử nghiệm những phương thức kinh doanh mới. Theo đó, cần
chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, phục vụ và đồng hành với
phát triển; tăng tính minh bạch, ổn định và khả năng dự báo của chính sách; đồng
thời rà soát, loại bỏ những quy định làm gia tăng chi phí tuân thủ, cản trở hoạt
động đầu tư, kinh doanh.
Đối với những mô hình kinh doanh mới dựa trên
công nghệ, dữ liệu và các phương thức tổ chức sản xuất mới, cần áp dụng cách tiếp
cận quản lý linh hoạt, phù hợp với mức độ rủi ro; khuyến khích thử nghiệm có kiểm
soát đối với những vấn đề pháp luật chưa theo kịp thực tiễn. Qua đó, thể chế
không chỉ thực hiện chức năng điều chỉnh mà còn trở thành nguồn lực thúc đẩy đổi
mới và mở rộng không gian phát triển.
Thứ hai, đổi mới phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực
theo hướng lấy hiệu quả và khả năng tạo giá trị làm trọng tâm. Một yêu cầu quan
trọng của đổi mới mô hình kinh tế là chuyển từ tư duy coi trọng quy mô huy động
nguồn lực sang coi trọng hiệu quả phân bổ và khả năng chuyển hóa nguồn lực
thành năng suất, giá trị gia tăng. Nhà nước cần tập trung hoàn thiện các cơ chế
để thị trường thực hiện tốt hơn chức năng phân bổ nguồn lực; đồng thời sử dụng
hiệu quả nguồn lực công để dẫn dắt, kích hoạt nguồn lực xã hội, nhất là đối với
những lĩnh vực có tính nền tảng, tác động lan tỏa và khu vực tư nhân khó tự đầu
tư. Bên cạnh đó, cần đổi mới cơ chế đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực, tăng
cường cạnh tranh và trách nhiệm giải trình trong đầu tư, phân bổ ngân sách và
khai thác tài sản công. Các nguồn lực đất đai, vốn, dữ liệu, tài sản trí tuệ và
kết cấu hạ tầng cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ nguồn lực đầu vào mà
còn là những yếu tố có khả năng tạo ra giá trị mới nếu được tổ chức, kết nối và
khai thác phù hợp.
Thứ ba, đổi mới phương thức liên kết và tổ chức sản xuất, nâng
cao năng lực tự chủ của các chủ thể trong nền kinh tế. Trong điều kiện các chuỗi
giá trị ngày càng được tổ chức theo mạng lưới và dựa nhiều hơn vào công nghệ, lợi
thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào năng lực riêng của từng doanh nghiệp mà
ngày càng phụ thuộc vào khả năng liên kết giữa các chủ thể. Vì vậy, cần chuyển
từ cách tiếp cận phát triển từng ngành, từng địa phương, từng doanh nghiệp sang
thúc đẩy các mối liên kết và hệ sinh thái sản xuất, kinh doanh. Theo đó, cần
tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu; giữa
doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa; giữa doanh nghiệp trong nước với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; giữa các địa phương và các vùng kinh tế.
Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo, điều phối và tạo lập các cơ chế khuyến
khích liên kết, trong khi doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong tổ chức sản
xuất và tham gia chuỗi giá trị. Qua đó, từng bước nâng cao năng lực hấp thụ
công nghệ, năng lực đổi mới, khả năng tham gia vào các công đoạn có giá trị gia
tăng cao và tính tự chủ của nền kinh tế.
Thứ tư, đổi mới phương thức phát triển năng lực của các chủ thể,
lấy khả năng thích ứng và sáng tạo làm trọng tâm. Sự thay đổi nhanh của công
nghệ và phương thức sản xuất đòi hỏi năng lực của các chủ thể kinh tế phải được
nhìn nhận theo hướng năng động hơn. Không chỉ chú trọng trang bị kiến thức và kỹ
năng hiện có, cần tạo điều kiện để người lao động, doanh nghiệp và các tổ chức
nghiên cứu có khả năng liên tục học hỏi, thích ứng, thử nghiệm và sáng tạo
trong môi trường mới.
Theo đó, cần đổi mới phương thức đào tạo và
phát triển nhân lực theo hướng gắn chặt hơn với nhu cầu thực tiễn và sự thay đổi
của công nghệ; tăng cường học tập suốt đời, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng; đồng
thời hoàn thiện cơ chế thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân lực có năng lực sáng
tạo. Đối với doanh nghiệp, cần khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu, phát triển
công nghệ và đổi mới quản trị; nâng cao năng lực dự báo, quản trị rủi ro và
thích ứng với biến động của thị trường. Đây là điều kiện để các chủ thể không
chỉ thích ứng với mô hình kinh tế mới mà còn trực tiếp tham gia định hình và
thúc đẩy mô hình đó.
Thứ năm, đổi mới phương thức quản trị phát triển, gắn tăng trưởng
với chất lượng, hiệu quả, bền vững và khả năng chống chịu. Đổi mới mô hình kinh
tế cần đi liền với đổi mới cách thức đánh giá và điều hành quá trình phát triển.
Tăng trưởng GDP vẫn là mục tiêu quan trọng, nhưng không thể là thước đo duy nhất
của kết quả phát triển. Cần từng bước chuyển sang hệ thống đánh giá toàn diện
hơn, trong đó chú trọng năng suất, chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực, giá
trị gia tăng, năng lực đổi mới sáng tạo, mức độ chuyển đổi xanh và khả năng chống
chịu của nền kinh tế.
Trên cơ sở đó, công tác hoạch định chính sách cần
tăng cường năng lực dự báo, sử dụng dữ liệu và bằng chứng trong ra quyết định;
nâng cao khả năng phối hợp chính sách và phản ứng linh hoạt trước những biến động
trong nước và quốc tế. Đồng thời, cần gắn quá trình đổi mới mô hình kinh tế với
sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi
khí hậu và mở rộng các không gian phát triển mới. Qua đó, tạo lập phương thức
quản trị phát triển có khả năng kết hợp hài hòa giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh
với nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền
kinh tế.
Kết luận
Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới
mô hình kinh tế Việt Nam theo hướng tạo lập năng lực phát triển mới, phù hợp với
những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế trong nước và quốc tế. Đây
không chỉ là sự điều chỉnh về cơ cấu hay bổ sung các động lực tăng trưởng, mà
là quá trình đổi mới phương thức vận hành và quản trị nền kinh tế. Để hiện thực
hóa yêu cầu đó, cần có cách tiếp cận nhất quán, có trọng tâm, lộ trình phù hợp
và khả năng thích ứng cao trong tổ chức thực hiện. Trọng tâm là đưa các định hướng
của Nghị quyết vào thực tiễn, tạo chuyển biến thực chất về năng lực nội sinh, sức
cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế, qua đó tạo nền tảng cho phát
triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 29-NQ/TW
ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về
tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045.
Ban Chấp hành Trung ương (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW
ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi
mới mô hình phát triển Việt Nam.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày
22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIV (tập I, tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020
phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm
2030.