Thứ Năm, ngày 08/10/2026, 16:37

Đổi mới mô hình kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

Phạm Tú Tài
Học viện Chính trị khu vực I

GDLL: Nghị quyết số 19-NQ/TW, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV xác lập định hướng đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, trong đó đổi mới mô hình kinh tế là một nội dung trọng tâm. Bài viết tập trung phân tích nội hàm mô hình kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW, làm rõ sự chuyển đổi về động lực tăng trưởng, cấu trúc kinh tế, vai trò của lực lượng sản xuất mới và doanh nghiệp Việt Nam; trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng chủ yếu nhằm hiện thực hóa mô hình kinh tế mới, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững đến năm 2045.

 

Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn hướng tới phát triển xanh, bền vững (ảnh news.vnanet.vn)

Reforming the economic model in line with Resolution No. 19-NQ/TW of the Third Plenum of the 14th Party Central Committee of the Communist Party of Vietnam

Abstract: Resolution No. 19-NQ/TW of the Third Plenum of the 14th Central Committee of the Communist Party of Vietnam sets out orientations for reforming Vietnam’s development model, with reform of the economic model as a central focus. The article examines the substantive elements of the economic model envisaged in Resolution No. 19-NQ/TW, clarifying shifts in growth drivers and economic structure, as well as the roles of new productive forces and Vietnamese enterprises. On this basis, it proposes several key orientations for realizing the new economic model to meet the requirements for the country’s rapid and sustainable development by 2045.

Keywords: Development model reform; economic model; Resolution No. 19-NQ/TW.

 

Đặt vấn đề

Thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mới dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững, làm thay đổi căn bản các động lực tăng trưởng và năng lực cạnh tranh toàn cầu. Trong bối cảnh đó, mô hình kinh tế cần được đổi mới mạnh mẽ, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam.

Nhận thức rõ yêu cầu đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã định hướng đổi mới toàn diện mô hình kinh tế. Theo đó, chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào các yếu tố truyền thống sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất cao, với các đặc trưng hiệu quả, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập, là yêu cầu quan trọng nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.

1. Sự cần thiết phải đổi mới mô hình kinh tế ở Việt Nam

Đổi mới mô hình phát triển kinh tế ở Việt Nam là yêu cầu khách quan nhằm đáp ứng những biến đổi của bối cảnh phát triển trong nước và quốc tế, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Trong tổng thể mô hình phát triển quốc gia, mô hình kinh tế giữ vị trí nền tảng, tạo lập các nguồn lực vật chất, quyết định năng lực cạnh tranh, khả năng huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển; đồng thời tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu về văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Vì vậy, đổi mới mô hình kinh tế có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy đổi mới mô hình phát triển kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn mới.

Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy, mô hình kinh tế của Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, đưa đất nước đạt được những thành tựu quan trọng về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hội nhập quốc tế và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, mô hình kinh tế hiện nay vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định. “Tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng, dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026). Trong khi đó, các động lực tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động chưa phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt.

Thực tế trên cho thấy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức tạo ra tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và hình thành các động lực phát triển mới. Đây là yêu cầu tất yếu để Việt Nam chuyển từ mô hình phát triển dựa nhiều vào khai thác các nguồn lực truyền thống sang mô hình phát triển dựa chủ yếu vào tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất lao động cao.

2. Nội hàm mô hình kinh tế mới theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV xác định mô hình phát triển kinh tế Việt Nam là: “Mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập; chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập. Lực lượng sản xuất mới trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng; hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực phát triển; doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, có năng lực làm chủ công nghệ, vị trí quan trọng trong các ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái phát triển hiện đại. Kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn, kinh tế cácbon thấp và khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trở thành cấu trúc quan trọng đặc trưng của nền kinh tế” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026).

Nội dung trên cho thấy, mô hình kinh tế mới theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW thể hiện sự chuyển đổi căn bản về tư duy phát triển: từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác các nguồn lực truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Nội hàm của mô hình kinh tế mới được thể hiện trên bốn phương diện cơ bản sau:

Thứ nhất, chuyển đổi động lực tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao. Nội dung cốt lõi của mô hình kinh tế mới là chuyển từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa vào các yếu tố chiều sâu. Trong bối cảnh các nguồn lực truyền thống ngày càng có giới hạn, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng tạo ra giá trị gia tăng của nền kinh tế. Chuyển đổi số tạo ra phương thức phát triển mới thông qua khai thác dữ liệu, kết nối các chủ thể kinh tế, nâng cao hiệu quả quản trị và đổi mới mô hình sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, nâng cao năng suất lao động trở thành thước đo quan trọng phản ánh chất lượng tăng trưởng, là điều kiện để Việt Nam chuyển sang mô hình cạnh tranh dựa trên năng suất, chất lượng và hàm lượng tri thức cao.

Thứ hai, phát triển lực lượng sản xuất mới gắn với hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp. Mô hình kinh tế mới xác định lực lượng sản xuất mới là động lực chủ yếu của tăng trưởng. Trong đó, tri thức, dữ liệu, công nghệ, năng lực sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực ngày càng trở thành những yếu tố quan trọng tạo ra giá trị gia tăng và mở rộng không gian phát triển.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất mới đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp, trước hết là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đầy đủ, đồng bộ, hiện đại và hội nhập. Cùng với đó, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực, tạo điều kiện để các chủ thể kinh tế phát huy năng lực sáng tạo.

Thứ ba, hình thành cấu trúc kinh tế hiện đại trên nền tảng kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn và kinh tế cácbon thấp. Mô hình kinh tế mới không chỉ thay đổi động lực tăng trưởng mà còn hướng tới chuyển đổi cấu trúc nền kinh tế. Trong đó, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế các-bon thấp phản ánh yêu cầu phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên; đồng thời trở thành những yếu tố quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh các tiêu chuẩn xanh ngày càng tác động sâu rộng đến thương mại và đầu tư quốc tế.

Cùng với đó, kinh tế số và kinh tế dữ liệu tạo ra những phương thức phát triển mới dựa trên khai thác, kết nối và sử dụng hiệu quả dữ liệu. Việc phát triển các không gian mới như không gian số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và các lĩnh vực công nghệ mới sẽ mở rộng khả năng phát triển, thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế dựa nhiều vào nguồn lực hữu hạn sang nền kinh tế dựa trên tri thức và sáng tạo.

Thứ tư, phát huy mạnh mẽ năng lực nội sinh, nâng cao tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong phát huy năng lực nội sinh, hệ thống doanh nghiệp Việt Nam là một chủ thể quan trọng, vừa là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải, việc làm và giá trị gia tăng, vừa là hạt nhân thúc đẩy đổi mới mô hình phát triển. Trọng tâm phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong mô hình kinh tế mới không chỉ là phát triển về số lượng và quy mô, mà phải hình thành ngày càng nhiều doanh nghiệp có năng lực công nghệ, quản trị và đổi mới sáng tạo, tiên phong trong các lĩnh vực mới như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, công nghệ xanh, năng lượng mới, logistics và các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao; từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cường tính tự chủ, tự cường của nền kinh tế.

3. Một số định hướng thực hiện đổi mới mô hình kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW

Đổi mới mô hình kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW không chỉ đặt ra yêu cầu xác định những động lực và nguồn lực mới, mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức tổ chức, vận hành và quản trị nền kinh tế. Trên cơ sở nội hàm của mô hình kinh tế mới đã được xác định, quá trình hiện thực hóa cần tập trung vào một số định hướng chủ yếu sau:

Thứ nhất, đổi mới phương thức xây dựng và thực thi thể chế theo hướng kiến tạo phát triển. Trọng tâm của hoàn thiện thể chế không chỉ là bổ sung, hoàn thiện các quy định, mà quan trọng hơn là tạo lập môi trường thể chế có khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế, khuyến khích các chủ thể tìm kiếm, thử nghiệm những phương thức kinh doanh mới. Theo đó, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, phục vụ và đồng hành với phát triển; tăng tính minh bạch, ổn định và khả năng dự báo của chính sách; đồng thời rà soát, loại bỏ những quy định làm gia tăng chi phí tuân thủ, cản trở hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Đối với những mô hình kinh doanh mới dựa trên công nghệ, dữ liệu và các phương thức tổ chức sản xuất mới, cần áp dụng cách tiếp cận quản lý linh hoạt, phù hợp với mức độ rủi ro; khuyến khích thử nghiệm có kiểm soát đối với những vấn đề pháp luật chưa theo kịp thực tiễn. Qua đó, thể chế không chỉ thực hiện chức năng điều chỉnh mà còn trở thành nguồn lực thúc đẩy đổi mới và mở rộng không gian phát triển.

Thứ hai, đổi mới phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực theo hướng lấy hiệu quả và khả năng tạo giá trị làm trọng tâm. Một yêu cầu quan trọng của đổi mới mô hình kinh tế là chuyển từ tư duy coi trọng quy mô huy động nguồn lực sang coi trọng hiệu quả phân bổ và khả năng chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng. Nhà nước cần tập trung hoàn thiện các cơ chế để thị trường thực hiện tốt hơn chức năng phân bổ nguồn lực; đồng thời sử dụng hiệu quả nguồn lực công để dẫn dắt, kích hoạt nguồn lực xã hội, nhất là đối với những lĩnh vực có tính nền tảng, tác động lan tỏa và khu vực tư nhân khó tự đầu tư. Bên cạnh đó, cần đổi mới cơ chế đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực, tăng cường cạnh tranh và trách nhiệm giải trình trong đầu tư, phân bổ ngân sách và khai thác tài sản công. Các nguồn lực đất đai, vốn, dữ liệu, tài sản trí tuệ và kết cấu hạ tầng cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ nguồn lực đầu vào mà còn là những yếu tố có khả năng tạo ra giá trị mới nếu được tổ chức, kết nối và khai thác phù hợp.

Thứ ba, đổi mới phương thức liên kết và tổ chức sản xuất, nâng cao năng lực tự chủ của các chủ thể trong nền kinh tế. Trong điều kiện các chuỗi giá trị ngày càng được tổ chức theo mạng lưới và dựa nhiều hơn vào công nghệ, lợi thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào năng lực riêng của từng doanh nghiệp mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng liên kết giữa các chủ thể. Vì vậy, cần chuyển từ cách tiếp cận phát triển từng ngành, từng địa phương, từng doanh nghiệp sang thúc đẩy các mối liên kết và hệ sinh thái sản xuất, kinh doanh. Theo đó, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu; giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa; giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; giữa các địa phương và các vùng kinh tế. Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo, điều phối và tạo lập các cơ chế khuyến khích liên kết, trong khi doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong tổ chức sản xuất và tham gia chuỗi giá trị. Qua đó, từng bước nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, năng lực đổi mới, khả năng tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao và tính tự chủ của nền kinh tế.

Thứ tư, đổi mới phương thức phát triển năng lực của các chủ thể, lấy khả năng thích ứng và sáng tạo làm trọng tâm. Sự thay đổi nhanh của công nghệ và phương thức sản xuất đòi hỏi năng lực của các chủ thể kinh tế phải được nhìn nhận theo hướng năng động hơn. Không chỉ chú trọng trang bị kiến thức và kỹ năng hiện có, cần tạo điều kiện để người lao động, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu có khả năng liên tục học hỏi, thích ứng, thử nghiệm và sáng tạo trong môi trường mới.

Theo đó, cần đổi mới phương thức đào tạo và phát triển nhân lực theo hướng gắn chặt hơn với nhu cầu thực tiễn và sự thay đổi của công nghệ; tăng cường học tập suốt đời, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng; đồng thời hoàn thiện cơ chế thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân lực có năng lực sáng tạo. Đối với doanh nghiệp, cần khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới quản trị; nâng cao năng lực dự báo, quản trị rủi ro và thích ứng với biến động của thị trường. Đây là điều kiện để các chủ thể không chỉ thích ứng với mô hình kinh tế mới mà còn trực tiếp tham gia định hình và thúc đẩy mô hình đó.

Thứ năm, đổi mới phương thức quản trị phát triển, gắn tăng trưởng với chất lượng, hiệu quả, bền vững và khả năng chống chịu. Đổi mới mô hình kinh tế cần đi liền với đổi mới cách thức đánh giá và điều hành quá trình phát triển. Tăng trưởng GDP vẫn là mục tiêu quan trọng, nhưng không thể là thước đo duy nhất của kết quả phát triển. Cần từng bước chuyển sang hệ thống đánh giá toàn diện hơn, trong đó chú trọng năng suất, chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực, giá trị gia tăng, năng lực đổi mới sáng tạo, mức độ chuyển đổi xanh và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Trên cơ sở đó, công tác hoạch định chính sách cần tăng cường năng lực dự báo, sử dụng dữ liệu và bằng chứng trong ra quyết định; nâng cao khả năng phối hợp chính sách và phản ứng linh hoạt trước những biến động trong nước và quốc tế. Đồng thời, cần gắn quá trình đổi mới mô hình kinh tế với sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu và mở rộng các không gian phát triển mới. Qua đó, tạo lập phương thức quản trị phát triển có khả năng kết hợp hài hòa giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh với nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Kết luận

Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình kinh tế Việt Nam theo hướng tạo lập năng lực phát triển mới, phù hợp với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế trong nước và quốc tế. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về cơ cấu hay bổ sung các động lực tăng trưởng, mà là quá trình đổi mới phương thức vận hành và quản trị nền kinh tế. Để hiện thực hóa yêu cầu đó, cần có cách tiếp cận nhất quán, có trọng tâm, lộ trình phù hợp và khả năng thích ứng cao trong tổ chức thực hiện. Trọng tâm là đưa các định hướng của Nghị quyết vào thực tiễn, tạo chuyển biến thực chất về năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế, qua đó tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

 Tài liệu tham khảo

Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Ban Chấp hành Trung ương (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I, tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Đọc thêm

Việt Nam tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong tình hình mới

Tác giả: NGUYỄN ĐỨC HẠNH

(GDLL) - Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là một xu thế tất yếu, hàm chứa cả cơ hội và thách thức đối với các quốc gia trên con đường phát triển. Trong những năm qua, Việt Nam luôn tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa. Trên cơ sở khái quát bối cảnh tình hình tác động và những kết quả nổi bật trong tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng những năm qua bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả việc tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng của Việt Nam trong tình hình mới.

Về một số luận điểm của chủ nghĩa Mác trong kỷ nguyên số

Tác giả: GS, TS TRẦN THỌ ĐẠT

(LLCT) - Dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác, bài viết tiếp cận kỷ nguyên số, phân tích cách thức giá trị thặng dư hiện nay, chỉ ra xu hướng tập trung quyền lực nền tảng và bất bình đẳng toàn cầu đang ngày càng sâu sắc, đề xuất một số định hướng giải pháp để quan hệ sản xuất số được tổ chức lại.

Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở tỉnh Lào Cai hiện nay

Tác giả: LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ K71.B06

(GDLL) Cán bộ cấp cơ sở (cấp xã, phường) thuộc biên chế của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, là lực lượng nòng cốt, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số quốc gia hiện nay, yêu cầu về năng lực, phẩm chất, bản lĩnh chính trị, kỹ năng của cán bộ ngày càng cao. Bài viết làm rõ quan điểm của Đảng về đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong xây dựng chính quyền địa phương hiện nay, trên cơ sở phân tích thực trạng, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của cán bộ công chức sau khi sắp xếp, sáp nhập ở tỉnh Lào Cai.

Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới của Việt Nam

Tác giả: NGUYỄN ANH CƯỜNG - HOÀNG ANH TÚ - TRIỆU THANH CHÚC

(GDLL) - Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về lợi ích quốc gia - dân tộc, bài viết phân tích sự kiên định về lợi ích quốc gia - dân tộc trong đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới của Việt Nam và khẳng định việc bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn.

Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và khuyến nghị

Tác giả: PHẠM TÚ TÀI - CHU THỊ LÊ ANH

(GDLL) - Phát triển mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được Đảng xác định là động lực chính của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng trưởng kinh tế dựa vào khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm cơ sở khẳng định đây là động lực mới, quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Đồng thời, bài viết cũng tập trung đánh giá thực trạng, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam trong thời gian tới.