
Diễn đành kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 (Nguồn
news.vnanet.vn)
Combating and refuting the
erroneous and hostile claim: “private economic sector development constitutes
“capitalist transformation”
in Vietnam”
Abstract: Private-sector development has been a major and
consistent policy of the Communist Party of Vietnam throughout the Doi Moi
process. However, hostile forces have exploited the issue to misrepresent
private economic sector development as “capitalist transformation.” The article
clarifies the theoretical foundations underlying the objective necessity of
private economic sector development during the period of transition to socialism
in Vietnam. Drawing on the practical experience of Vietnam’s 40 years of Doi
Moi, the article affirms that private economic sector development does not
alter the nature of the regime but contributes to unleashing the productive
forces and realizing the goal of “prosperous people, a strong nation,
democracy, equity, and civilization”.
Keywords: “Capitalist transformation”; most important driving
force; private economic sector; safeguarding the Party’s ideological
foundation.
Đặt vấn đề
Trải qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế
Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam đã chuyển đổi thành công sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong quá trình đó,
nhận thức của Đảng về vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân (KTTN) không ngừng được
bổ sung, hoàn thiện. Kinh tế tư nhân từng bước được thừa nhận và khẳng định là
“một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” (Bộ Chính trị, 2025). Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực KTTN đã
góp phần to lớn vào việc giải phóng sức sản xuất, huy động các nguồn lực xã hội,
tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.
Trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh mẽ, các thế
lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị đã lợi dụng sự phát triển của KTTN
để gia tăng các hoạt động chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Một trong số
những quan điểm sai trái của thế lực thù địch đó là đồng nhất phát triển kinh tế
tư nhân với “tư bản hóa”. Nhận diện, làm rõ bản chất và đấu tranh phản bác những
quan điểm sai trái, thù địch trên không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
1. Phát triển kinh tế tư nhân là động lực
quan trọng nhất của nền kinh tế không phải là “tư bản hóa”
Việc khẳng định phát triển kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của
nền kinh tế hoàn toàn không phải là “tư bản hóa”, mà là một bước phát triển tất
yếu, khách quan cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
Thứ nhất, kinh tế tư nhân không phải là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản. Theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, KTTN là một hình thức tổ chức kinh tế dựa
trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Xét về mặt lịch sử tự nhiên,
đây là một phạm trù kinh tế mang tính khách quan, xuất hiện và tồn tại đan xen
trong nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau (từ chiếm hữu nô lệ, phong kiến
cho đến tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội). Do đó, KTTN
tuyệt đối không phải là “sản phẩm độc quyền” hay yếu tố đồng nhất với chế độ tư
bản chủ nghĩa. Sự khác biệt căn bản giữa các chế độ xã hội không nằm ở việc có
hay không sự tồn tại của KTTN, mà nằm ở chỗ giai cấp nào nắm giữ quyền lực nhà
nước và thành phần kinh tế nào giữ vai trò thống trị. Vì vậy, việc đánh tráo
khái niệm khi lấy một yếu tố thuộc về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (cụ
thể là phương thức tổ chức kinh doanh của một bộ phận trong xã hội) để thay thế
cho bản chất của toàn bộ kiến trúc thượng tầng và hệ thống chính trị là vô cùng
nguy hiểm.
Ở Việt Nam, việc chủ trương phát triển KTTN là một động lực
quan trọng nhất của nền kinh tế không đồng nghĩa với việc thừa nhận quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa vươn lên giữ vị trí thống trị. Dưới sự quản lý của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, KTTN là một thành phần kinh tế quan trọng, vận động
trong một thể thống nhất, vì mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ hai, phát triển kinh tế tư nhân không đồng nghĩa với “tư bản hóa” hay chuyển
sang chủ nghĩa tư bản. Xét từ lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, trong đó có KTTN, là một hiện tượng
khách quan gắn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tính đa dạng của
các hình thức sở hữu. Trong Chính sách kinh tế mới (NEP),
V.I. Lênin đã điều chỉnh tư duy về phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
điều kiện nước Nga Xô viết còn có nền sản xuất nhỏ phổ biến, theo hướng thừa nhận
sự cần thiết phải sử dụng thị trường, quan hệ hàng hoá - tiền tệ, các hình thức
KTTN và chủ nghĩa tư bản nhà nước để phục hồi, tổ chức và phát triển sản xuất. Điều
có ý nghĩa về phương pháp luận ở đây là: sự tồn tại và phát triển của hình thức
kinh tế mang tính tư nhân trong thời kỳ quá độ không tự nó quyết định bản chất
của chế độ xã hội; vấn đề cơ bản là Nhà nước sử dụng, định hướng và điều tiết
các hình thức kinh tế đó như thế nào để phục vụ mục tiêu phát triển lực lượng sản
xuất và xây dựng cơ sở vật chất cho xã hội mới.
Từ cách tiếp cận đó có thể thấy, việc phát triển KTTN ở Việt Nam hiện nay
không phải là sự từ bỏ định hướng XHCN hay chuyển nền kinh tế sang chủ nghĩa tư
bản, mà là sự vận dụng và phát triển nhận thức về tính đa dạng của các hình
thức sở hữu, thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, phù hợp với điều kiện
thực tiễn của Việt Nam. KTTN được khuyến khích phát triển nhằm huy động và phát
huy nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm, nâng cao năng
suất và giải phóng sức sản xuất; đồng thời hoạt động trong khuôn khổ pháp luật
và dưới sự quản lý, điều tiết của Nhà nước. Vì vậy, việc Đảng Cộng sản Việt Nam
xác định KTTN là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” không
phải là biểu hiện của “tư bản hóa”, mà phản ánh bước phát triển trong tư duy lý
luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhằm phát huy đầy đủ hơn
tiềm năng và nguồn lực trong nhân dân cho phát triển đất nước.
Việc phân định
rạch ròi giữa “động lực tăng trưởng”, “vai trò chủ đạo” và mối quan hệ giữa
kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước cũng là một bước đột phá quan trọng. Nếu
như KTTN đóng vai trò hạt nhân tạo ra sự năng động, đóng góp tỷ trọng lớn vào
quy mô sản lượng và giải quyết việc làm, thì kinh tế nhà nước lại “giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn
định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển,
giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hóa và tiến bộ công
bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp
kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh” (Bộ Chính trị, 2026). Đây không phải mối quan hệ
phủ định mà là mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ nhau. Mỗi thành phần kinh tế có một
mục tiêu, sứ mệnh khác nhau, nhưng tựu chung lại đều hướng tới mục tiêu cao
nhất của chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đang hướng tới là “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bất kỳ thành phần kinh tế nào phục vụ
tốt nhất, hiệu quả nhất cho mục tiêu giải phóng sức sản xuất, đem lại sự phồn
vinh cho đất nước và ấm no cho nhân dân thì thành phần đó mang đậm tính định
hướng xã hội chủ nghĩa về mặt mục tiêu phát triển.
Thứ ba, phát
triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam chính là quá trình kế thừa và hoàn thiện về
mặt lý luận thông qua tổng kết thực tiễn sâu sắc. Bắt đầu từ Đại hội VI (1986), Đảng bước đầu thừa nhận sự
tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, tạo cơ sở cho sự phát triển của khu
vực KTTN. Qua các kỳ Đại hội tiếp theo, quan điểm về KTTN ngày càng được đổi
mới theo hướng khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. Đến Đại hội X (2006)
và Đại hội XI (2011), KTTN được xác định là “một trong những động lực của nền
kinh tế”. Từ đó, KTTN có những bước tiến quan trọng khi khẳng định vai trò là “động
lực quan trọng của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.107-108)
và “thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Xóa
bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư
nhân…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.240). Đây không chỉ là sự thay đổi
về câu chữ mà là sự kế thừa và phát triển lý luận, khẳng định KTTN là nguồn lực
nội sinh không thể thiếu để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên
mới, “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc, với mục tiêu giải phóng sức sản xuất,
mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực, để đưa nước ta trở thành nước phát triển
có thu nhập cao vào năm 2045, việc tiếp tục nâng tầm, coi KTTN là một trong
những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế để hiện thực hóa mục tiêu trên
là kết quả tất yếu, thể hiện quá trình phát triển nhận thức và sự hoàn thiện
không ngừng trong tư duy lý luận của Đảng, đồng thời khẳng định bản lĩnh của
một Đảng cầm quyền luôn biết làm mới mình dựa trên nền tảng phương pháp luận
khoa học. Việc các văn kiện của Đảng nhấn mạnh vai trò của KTTN thể hiện sự
nhất quán trong quan điểm, xuất phát từ thực tiễn khách quan, đặt lợi ích quốc
gia, dân tộc lên trên hết, thể hiện tinh thần, tư duy đổi mới trong quá trình
hoạch định đường lối phát triển kinh tế.
Như vậy, việc chủ trương phát triển KTTN trở thành “động lực quan trọng
nhất” của nền kinh tế không phải là “tư bản hóa” mà đây là tất yếu khách quan,
là một bước chuyển chiến lược mang tính quy luật, phù hợp với giai đoạn phát
triển hiện nay và mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn sắp tới. Đây là
kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn rất sâu sắc và đúng đắn của Đảng sau
40 năm đổi mới. Có thể khẳng định, KTTN là một thành phần kinh tế, là một động
lực tăng trưởng quan trọng nhất, được đặt trong mối quan hệ với các thành phần
kinh tế khác (đặc biệt là mối quan hệ với kinh tế nhà nước giữ vai trò điều
phối, dẫn dắt), đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, vì
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, trở thành nước
phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
2. Phát triển kinh tế tư nhân là động lực
quan trọng nhất của nền kinh tế: bước tiến qua 40 năm đổi mới của Việt Nam
Thế giới đang trải qua những biến động sâu sắc. Trật tự thế giới đơn cực
đang nhường chỗ cho cục diện đa cực với sự cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa
các cường quốc. Chiến tranh thương mại, cuộc đua công nghệ, các xung đột địa
chính trị tại nhiều khu vực trên thế giới, khủng hoảng kinh tế... đã và đang
tạo ra những bất định lớn đối với môi trường kinh doanh và thương mại toàn cầu,
buộc các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, phải liên tục tính
toán lại chiến lược hội nhập và vị thế của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong nước, Việt Nam đang bước vào “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc với khát
vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực
hóa mục tiêu đó, Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra yêu cầu tăng trưởng kinh tế
phải đạt ít nhất hai con số trong nhiều năm liên tiếp. Để đạt được mục tiêu
này, Đảng yêu cầu cần phải “kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các ‘điểm
nghẽn’, ‘nút thắt’, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn
lực, trong đó nguồn nội lực là chủ đạo, nguồn lực quốc tế là quan trọng”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.260-261). Trong bối cảnh đó, từ những đúc kết
qua 40 năm đổi mới, KTTN được xác định trở thành động lực quan trọng nhất trong
nền kinh tế trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển của kinh tế tư
nhân ở Việt Nam. Đây là yếu tố quyết định đến việc
nếu KTTN là “động lực quan trọng nhất” thì liệu đó có phải là dấu hiệu của “tư
bản hóa”? Câu trả lời chắc chắn là “không” bởi KTTN được đặt dưới sự lãnh đạo
toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, KTTN vận
hành theo nguyên tắc “thị trường tự do tuyệt đối”, tức là quyền lực của đồng
tiền và tư bản chi phối cả kinh tế lẫn chính trị, và mục tiêu tối thượng là tối
đa hóa lợi nhuận cho một thiểu số chủ sở hữu. Ở Việt Nam, thực tiễn hoàn toàn
trái ngược, KTTN hoạt động trong một khuôn khổ được thiết kế và kiểm soát chặt chẽ
bởi Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, dựa trên các phương diện:
Đảng định hướng mục tiêu: KTTN không được
phép vận động tự do theo logic tư bản thuần túy mà phải phục vụ mục tiêu quốc
gia, dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023
của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt
Nam và Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh
tế tư nhân thể hiện rõ tinh thần đó: doanh nhân Việt Nam không chỉ làm giàu cho
bản thân mà còn phải là “lực lượng tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước”, có trách nhiệm xã hội, tuân thủ pháp luật và góp phần
bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đây là sự khác biệt về bản chất so với chủ nghĩa tư
bản, nơi doanh nhân chỉ có nghĩa vụ với cổ đông và tối đa hóa lợi nhuận.
Đảng kiểm soát
“vùng cấm” chiến lược: kinh tế nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vẫn nắm giữ các lĩnh vực then
chốt như an ninh năng lượng, hạ tầng quốc gia, tài chính vĩ mô, quốc phòng và
an ninh. Điều này bảo đảm rằng dù KTTN có phát triển đến mức nào, không một tập
đoàn tư nhân nào có thể “kiểm soát” được những lĩnh vực trọng yếu. Đây là ranh
giới đỏ bất khả xâm phạm, phân biệt căn bản mô hình Việt Nam với mọi mô hình tư
bản chủ nghĩa.
Đảng xử lý nghiêm khi kinh tế tư nhân đi chệch quỹ đạo: thực tiễn những năm gần đây cho thấy, dù là tập đoàn KTTN lớn đến đâu, nếu
vi phạm pháp luật, thao túng thị trường hay tham nhũng thì đều bị xử lý theo
đúng quy định của pháp luật. Điều này chứng tỏ quyền lực ở Việt Nam không bị
“bắt giữ” bởi tư bản tư nhân như trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Chính nhờ kỷ
luật đó mà sự phát triển của KTTN không tạo ra sự tha hóa quyền lực hay sự phân
cực xã hội cực đoan (hai căn bệnh kinh niên của chủ nghĩa tư bản) mà ngược lại,
góp phần xây dựng một xã hội ngày càng công bằng, văn minh hơn.
Thứ hai, về quy mô và tốc độ: kinh tế tư nhân là thành phần có khả năng tạo
ra tăng trưởng ở quy mô lớn trong thời gian ngắn. Điều này xuất phát từ đặc trưng linh hoạt trong tổ chức sản xuất, khả năng
huy động và phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường, cũng như tốc độ ra
quyết định nhanh hơn so với khu vực công. Trong điều kiện môi trường kinh doanh
thuận lợi, khu vực tư nhân có thể mở rộng hoạt động với chi phí điều chỉnh
thấp, nhanh chóng nắm bắt cơ hội từ nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế.
Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, KTTN có đóng góp lớn vào phát triển kinh tế,
chiếm khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm
và là khu vực năng động nhất trong phát triển doanh nghiệp mới (Báo Điện tử
Chính Phủ, 2025). Chính khả năng “tăng trưởng nhanh theo chiều rộng” này giúp
KTTN trở thành lực đẩy quan trọng để đạt được mục tiêu tăng trưởng cao trong
ngắn và trung hạn, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế cần duy trì tốc độ tăng
trưởng hai con số như định hướng đã đề ra.
Thứ ba, về tính sáng tạo và năng động: kinh tế tư nhân là khu vực đổi mới
mạnh mẽ nhất của nền kinh tế. Trong bối cảnh
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, động lực tăng trưởng không còn đến từ
lao động giá rẻ hay tài nguyên thiên nhiên, mà phải đến từ đổi mới sáng tạo,
ứng dụng công nghệ và nâng cao năng suất lao động. Với áp lực cạnh tranh trực
tiếp từ thị trường, các doanh nghiệp tư nhân có xu hướng chủ động tìm kiếm giải
pháp mới, tối ưu hóa quy trình sản xuất, phát triển sản phẩm và mô hình kinh
doanh để duy trì và mở rộng thị phần. Chính động lực lợi nhuận, kết hợp với khả
năng thích ứng nhanh, khiến khu vực này trở thành nơi thử nghiệm và lan tỏa các
ý tưởng đổi mới một cách hiệu quả nhất. Thực tiễn cho thấy nhiều doanh nghiệp
tư nhân Việt Nam như Vingroup, FPT,... đã tiên phong trong chuyển đổi số, phát
triển công nghệ và tham gia vào các lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao, qua đó
từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ tư, về tính bền vững và tự chủ: kinh tế tư nhân trong nước góp phần
củng cố năng lực nội sinh, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Khác với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực tư nhân gắn chặt với
thị trường trong nước, ít phụ thuộc vào các quyết định dịch chuyển vốn mang
tính chu kỳ hay chiến lược toàn cầu. Khi được phát triển đúng hướng, khu vực
này không chỉ góp phần đa dạng hóa cơ cấu sản xuất và giảm phụ thuộc vào bên
ngoài, mà còn tạo dựng năng lực nội sinh cho nền kinh tế thông qua tích lũy
vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị. Trong bối cảnh mới, một khu vực kinh tế
tư nhân vững mạnh sẽ đóng vai trò “bộ đệm” quan trọng, giúp nền kinh tế duy trì
ổn định, nâng cao khả năng chống chịu và từng bước xây dựng nền tảng tự chủ gắn
với hội nhập hiệu quả.
Kết luận
Từ những biến động của môi trường quốc tế đến yêu cầu duy trì tốc độ tăng
trưởng cao trong giai đoạn phát triển mới, có thể thấy KTTN trở thành “động lực
quan trọng nhất của nền kinh tế” là tất yếu khách quan trong sự phát triển của
Việt Nam. Sự phát triển của KTTN phải đặt trong khuôn khổ định hướng và lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này cho thấy việc phát triển KTTN ở Việt
Nam không đồng nhất với mô hình “tư bản hóa”, mà đây là bước tiến thế kỷ gắn
với mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong đó, Đảng và
Nhà nước định hình khuôn khổ thể chế, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, còn KTTN giữ vai trò thúc đẩy
hiệu quả và năng động của thị trường. Đây là sự kết hợp mang tính biện chứng
giữa cơ chế thị trường và định hướng phát triển, tạo nên đặc trưng riêng của mô
hình phát triển Việt Nam.
Thực tiễn 40 năm đổi mới đã cho thấy tính nhất quán và hiệu quả của con
đường mà Việt Nam lựa chọn. Sự phát triển ngày càng năng động của khu vực, cùng
với vai trò định hướng của Đảng và Nhà nước, đang góp phần củng cố nền tảng cho
tăng trưởng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia vì mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và khát vọng trở thành quốc gia
phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2023). Nghị quyết
số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh
nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết
số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết
số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
Báo Điện tử Chính phủ (2025). Phát
triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng.
https://baochinhphu.vn
Đảng Cộng sản
Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb
Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật.
Đảng Cộng sản
Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự
thật.