Thứ Sáu, ngày 30/10/2026, 09:29

Đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch: Phát triển kinh tế tư nhân là “tư bản hóa” ở Việt Nam

LÊ QUANG HIỂN, NGUYỄN VĂN KIỀU
Học viện Chính trị khu vực I

GDLL: Phát triển kinh tế tư nhân là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình đổi mới. Tuy nhiên, các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc phát triển kinh tế tư nhân là “tư bản hóa”. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận về tính tất yếu khách quan của phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ thực tiễn 40 năm đổi mới ở Việt Nam, bài viết khẳng định phát triển kinh tế tư nhân không làm thay đổi bản chất chế độ, mà góp phần giải phóng sức sản xuất, hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Diễn đành kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 (Nguồn news.vnanet.vn) 


Combating and refuting the erroneous and hostile claim: “private economic sector development constitutes “capitalist transformation”

in Vietnam”

Abstract: Private-sector development has been a major and consistent policy of the Communist Party of Vietnam throughout the Doi Moi process. However, hostile forces have exploited the issue to misrepresent private economic sector development as “capitalist transformation.” The article clarifies the theoretical foundations underlying the objective necessity of private economic sector development during the period of transition to socialism in Vietnam. Drawing on the practical experience of Vietnam’s 40 years of Doi Moi, the article affirms that private economic sector development does not alter the nature of the regime but contributes to unleashing the productive forces and realizing the goal of “prosperous people, a strong nation, democracy, equity, and civilization”.

Keywords: “Capitalist transformation”; most important driving force; private economic sector; safeguarding the Party’s ideological foundation.

 

Đặt vấn đề

Trải qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam đã chuyển đổi thành công sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong quá trình đó, nhận thức của Đảng về vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân (KTTN) không ngừng được bổ sung, hoàn thiện. Kinh tế tư nhân từng bước được thừa nhận và khẳng định là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” (Bộ Chính trị, 2025). Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực KTTN đã góp phần to lớn vào việc giải phóng sức sản xuất, huy động các nguồn lực xã hội, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.

Trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh mẽ, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị đã lợi dụng sự phát triển của KTTN để gia tăng các hoạt động chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Một trong số những quan điểm sai trái của thế lực thù địch đó là đồng nhất phát triển kinh tế tư nhân với “tư bản hóa”. Nhận diện, làm rõ bản chất và đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

1. Phát triển kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế không phải là “tư bản hóa”

Việc khẳng định phát triển kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế hoàn toàn không phải là “tư bản hóa”, mà là một bước phát triển tất yếu, khách quan cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ nhất, kinh tế tư nhân không phải là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, KTTN là một hình thức tổ chức kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Xét về mặt lịch sử tự nhiên, đây là một phạm trù kinh tế mang tính khách quan, xuất hiện và tồn tại đan xen trong nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau (từ chiếm hữu nô lệ, phong kiến cho đến tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội). Do đó, KTTN tuyệt đối không phải là “sản phẩm độc quyền” hay yếu tố đồng nhất với chế độ tư bản chủ nghĩa. Sự khác biệt căn bản giữa các chế độ xã hội không nằm ở việc có hay không sự tồn tại của KTTN, mà nằm ở chỗ giai cấp nào nắm giữ quyền lực nhà nước và thành phần kinh tế nào giữ vai trò thống trị. Vì vậy, việc đánh tráo khái niệm khi lấy một yếu tố thuộc về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (cụ thể là phương thức tổ chức kinh doanh của một bộ phận trong xã hội) để thay thế cho bản chất của toàn bộ kiến trúc thượng tầng và hệ thống chính trị là vô cùng nguy hiểm.

Ở Việt Nam, việc chủ trương phát triển KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế không đồng nghĩa với việc thừa nhận quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vươn lên giữ vị trí thống trị. Dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, KTTN là một thành phần kinh tế quan trọng, vận động trong một thể thống nhất, vì mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ hai, phát triển kinh tế tư nhân không đồng nghĩa với “tư bản hóa” hay chuyển sang chủ nghĩa tư bản. Xét từ lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, trong đó có KTTN, là một hiện tượng khách quan gắn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tính đa dạng của các hình thức sở hữu. Trong Chính sách kinh tế mới (NEP), V.I. Lênin đã điều chỉnh tư duy về phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước Nga Xô viết còn có nền sản xuất nhỏ phổ biến, theo hướng thừa nhận sự cần thiết phải sử dụng thị trường, quan hệ hàng hoá - tiền tệ, các hình thức KTTN và chủ nghĩa tư bản nhà nước để phục hồi, tổ chức và phát triển sản xuất. Điều có ý nghĩa về phương pháp luận ở đây là: sự tồn tại và phát triển của hình thức kinh tế mang tính tư nhân trong thời kỳ quá độ không tự nó quyết định bản chất của chế độ xã hội; vấn đề cơ bản là Nhà nước sử dụng, định hướng và điều tiết các hình thức kinh tế đó như thế nào để phục vụ mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất cho xã hội mới.

Từ cách tiếp cận đó có thể thấy, việc phát triển KTTN ở Việt Nam hiện nay không phải là sự từ bỏ định hướng XHCN hay chuyển nền kinh tế sang chủ nghĩa tư bản, mà là sự vận dụng và phát triển nhận thức về tính đa dạng của các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. KTTN được khuyến khích phát triển nhằm huy động và phát huy nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm, nâng cao năng suất và giải phóng sức sản xuất; đồng thời hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và dưới sự quản lý, điều tiết của Nhà nước. Vì vậy, việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định KTTN là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” không phải là biểu hiện của “tư bản hóa”, mà phản ánh bước phát triển trong tư duy lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhằm phát huy đầy đủ hơn tiềm năng và nguồn lực trong nhân dân cho phát triển đất nước.

Việc phân định rạch ròi giữa “động lực tăng trưởng”, “vai trò chủ đạo” và mối quan hệ giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước cũng là một bước đột phá quan trọng. Nếu như KTTN đóng vai trò hạt nhân tạo ra sự năng động, đóng góp tỷ trọng lớn vào quy mô sản lượng và giải quyết việc làm, thì kinh tế nhà nước lại “giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hóa và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh” (Bộ Chính trị, 2026). Đây không phải mối quan hệ phủ định mà là mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ nhau. Mỗi thành phần kinh tế có một mục tiêu, sứ mệnh khác nhau, nhưng tựu chung lại đều hướng tới mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đang hướng tới là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bất kỳ thành phần kinh tế nào phục vụ tốt nhất, hiệu quả nhất cho mục tiêu giải phóng sức sản xuất, đem lại sự phồn vinh cho đất nước và ấm no cho nhân dân thì thành phần đó mang đậm tính định hướng xã hội chủ nghĩa về mặt mục tiêu phát triển.

Thứ ba, phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam chính là quá trình kế thừa và hoàn thiện về mặt lý luận thông qua tổng kết thực tiễn sâu sắc. Bắt đầu từ Đại hội VI (1986), Đảng bước đầu thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, tạo cơ sở cho sự phát triển của khu vực KTTN. Qua các kỳ Đại hội tiếp theo, quan điểm về KTTN ngày càng được đổi mới theo hướng khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. Đến Đại hội X (2006) và Đại hội XI (2011), KTTN được xác định là “một trong những động lực của nền kinh tế”. Từ đó, KTTN có những bước tiến quan trọng khi khẳng định vai trò là “động lực quan trọng của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.107-108) và “thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.240). Đây không chỉ là sự thay đổi về câu chữ mà là sự kế thừa và phát triển lý luận, khẳng định KTTN là nguồn lực nội sinh không thể thiếu để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc, với mục tiêu giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực, để đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, việc tiếp tục nâng tầm, coi KTTN là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế để hiện thực hóa mục tiêu trên là kết quả tất yếu, thể hiện quá trình phát triển nhận thức và sự hoàn thiện không ngừng trong tư duy lý luận của Đảng, đồng thời khẳng định bản lĩnh của một Đảng cầm quyền luôn biết làm mới mình dựa trên nền tảng phương pháp luận khoa học. Việc các văn kiện của Đảng nhấn mạnh vai trò của KTTN thể hiện sự nhất quán trong quan điểm, xuất phát từ thực tiễn khách quan, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, thể hiện tinh thần, tư duy đổi mới trong quá trình hoạch định đường lối phát triển kinh tế.

Như vậy, việc chủ trương phát triển KTTN trở thành “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế không phải là “tư bản hóa” mà đây là tất yếu khách quan, là một bước chuyển chiến lược mang tính quy luật, phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay và mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn sắp tới. Đây là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn rất sâu sắc và đúng đắn của Đảng sau 40 năm đổi mới. Có thể khẳng định, KTTN là một thành phần kinh tế, là một động lực tăng trưởng quan trọng nhất, được đặt trong mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác (đặc biệt là mối quan hệ với kinh tế nhà nước giữ vai trò điều phối, dẫn dắt), đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

2. Phát triển kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế: bước tiến qua 40 năm đổi mới của Việt Nam

Thế giới đang trải qua những biến động sâu sắc. Trật tự thế giới đơn cực đang nhường chỗ cho cục diện đa cực với sự cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các cường quốc. Chiến tranh thương mại, cuộc đua công nghệ, các xung đột địa chính trị tại nhiều khu vực trên thế giới, khủng hoảng kinh tế... đã và đang tạo ra những bất định lớn đối với môi trường kinh doanh và thương mại toàn cầu, buộc các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, phải liên tục tính toán lại chiến lược hội nhập và vị thế của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong nước, Việt Nam đang bước vào “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra yêu cầu tăng trưởng kinh tế phải đạt ít nhất hai con số trong nhiều năm liên tiếp. Để đạt được mục tiêu này, Đảng yêu cầu cần phải “kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các ‘điểm nghẽn’, ‘nút thắt’, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực, trong đó nguồn nội lực là chủ đạo, nguồn lực quốc tế là quan trọng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.260-261). Trong bối cảnh đó, từ những đúc kết qua 40 năm đổi mới, KTTN được xác định trở thành động lực quan trọng nhất trong nền kinh tế trong giai đoạn mới.

Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Đây là yếu tố quyết định đến việc nếu KTTN là “động lực quan trọng nhất” thì liệu đó có phải là dấu hiệu của “tư bản hóa”? Câu trả lời chắc chắn là “không” bởi KTTN được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, KTTN vận hành theo nguyên tắc “thị trường tự do tuyệt đối”, tức là quyền lực của đồng tiền và tư bản chi phối cả kinh tế lẫn chính trị, và mục tiêu tối thượng là tối đa hóa lợi nhuận cho một thiểu số chủ sở hữu. Ở Việt Nam, thực tiễn hoàn toàn trái ngược, KTTN hoạt động trong một khuôn khổ được thiết kế và kiểm soát chặt chẽ bởi Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên các phương diện:

Đảng định hướng mục tiêu: KTTN không được phép vận động tự do theo logic tư bản thuần túy mà phải phục vụ mục tiêu quốc gia, dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam và Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân thể hiện rõ tinh thần đó: doanh nhân Việt Nam không chỉ làm giàu cho bản thân mà còn phải là “lực lượng tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, có trách nhiệm xã hội, tuân thủ pháp luật và góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đây là sự khác biệt về bản chất so với chủ nghĩa tư bản, nơi doanh nhân chỉ có nghĩa vụ với cổ đông và tối đa hóa lợi nhuận.

Đảng kiểm soát “vùng cấm” chiến lược: kinh tế nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vẫn nắm giữ các lĩnh vực then chốt như an ninh năng lượng, hạ tầng quốc gia, tài chính vĩ mô, quốc phòng và an ninh. Điều này bảo đảm rằng dù KTTN có phát triển đến mức nào, không một tập đoàn tư nhân nào có thể “kiểm soát” được những lĩnh vực trọng yếu. Đây là ranh giới đỏ bất khả xâm phạm, phân biệt căn bản mô hình Việt Nam với mọi mô hình tư bản chủ nghĩa.

Đảng xử lý nghiêm khi kinh tế tư nhân đi chệch quỹ đạo: thực tiễn những năm gần đây cho thấy, dù là tập đoàn KTTN lớn đến đâu, nếu vi phạm pháp luật, thao túng thị trường hay tham nhũng thì đều bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Điều này chứng tỏ quyền lực ở Việt Nam không bị “bắt giữ” bởi tư bản tư nhân như trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Chính nhờ kỷ luật đó mà sự phát triển của KTTN không tạo ra sự tha hóa quyền lực hay sự phân cực xã hội cực đoan (hai căn bệnh kinh niên của chủ nghĩa tư bản) mà ngược lại, góp phần xây dựng một xã hội ngày càng công bằng, văn minh hơn.

Thứ hai, về quy mô và tốc độ: kinh tế tư nhân là thành phần có khả năng tạo ra tăng trưởng ở quy mô lớn trong thời gian ngắn. Điều này xuất phát từ đặc trưng linh hoạt trong tổ chức sản xuất, khả năng huy động và phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường, cũng như tốc độ ra quyết định nhanh hơn so với khu vực công. Trong điều kiện môi trường kinh doanh thuận lợi, khu vực tư nhân có thể mở rộng hoạt động với chi phí điều chỉnh thấp, nhanh chóng nắm bắt cơ hội từ nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, KTTN có đóng góp lớn vào phát triển kinh tế, chiếm khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm và là khu vực năng động nhất trong phát triển doanh nghiệp mới (Báo Điện tử Chính Phủ, 2025). Chính khả năng “tăng trưởng nhanh theo chiều rộng” này giúp KTTN trở thành lực đẩy quan trọng để đạt được mục tiêu tăng trưởng cao trong ngắn và trung hạn, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế cần duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số như định hướng đã đề ra.

Thứ ba, về tính sáng tạo và năng động: kinh tế tư nhân là khu vực đổi mới mạnh mẽ nhất của nền kinh tế. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, động lực tăng trưởng không còn đến từ lao động giá rẻ hay tài nguyên thiên nhiên, mà phải đến từ đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng suất lao động. Với áp lực cạnh tranh trực tiếp từ thị trường, các doanh nghiệp tư nhân có xu hướng chủ động tìm kiếm giải pháp mới, tối ưu hóa quy trình sản xuất, phát triển sản phẩm và mô hình kinh doanh để duy trì và mở rộng thị phần. Chính động lực lợi nhuận, kết hợp với khả năng thích ứng nhanh, khiến khu vực này trở thành nơi thử nghiệm và lan tỏa các ý tưởng đổi mới một cách hiệu quả nhất. Thực tiễn cho thấy nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam như Vingroup, FPT,... đã tiên phong trong chuyển đổi số, phát triển công nghệ và tham gia vào các lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao, qua đó từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ tư, về tính bền vững và tự chủ: kinh tế tư nhân trong nước góp phần củng cố năng lực nội sinh, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Khác với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực tư nhân gắn chặt với thị trường trong nước, ít phụ thuộc vào các quyết định dịch chuyển vốn mang tính chu kỳ hay chiến lược toàn cầu. Khi được phát triển đúng hướng, khu vực này không chỉ góp phần đa dạng hóa cơ cấu sản xuất và giảm phụ thuộc vào bên ngoài, mà còn tạo dựng năng lực nội sinh cho nền kinh tế thông qua tích lũy vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị. Trong bối cảnh mới, một khu vực kinh tế tư nhân vững mạnh sẽ đóng vai trò “bộ đệm” quan trọng, giúp nền kinh tế duy trì ổn định, nâng cao khả năng chống chịu và từng bước xây dựng nền tảng tự chủ gắn với hội nhập hiệu quả.

Kết luận

Từ những biến động của môi trường quốc tế đến yêu cầu duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn phát triển mới, có thể thấy KTTN trở thành “động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” là tất yếu khách quan trong sự phát triển của Việt Nam. Sự phát triển của KTTN phải đặt trong khuôn khổ định hướng và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này cho thấy việc phát triển KTTN ở Việt Nam không đồng nhất với mô hình “tư bản hóa”, mà đây là bước tiến thế kỷ gắn với mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong đó, Đảng và Nhà nước định hình khuôn khổ thể chế, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, còn KTTN giữ vai trò thúc đẩy hiệu quả và năng động của thị trường. Đây là sự kết hợp mang tính biện chứng giữa cơ chế thị trường và định hướng phát triển, tạo nên đặc trưng riêng của mô hình phát triển Việt Nam.

Thực tiễn 40 năm đổi mới đã cho thấy tính nhất quán và hiệu quả của con đường mà Việt Nam lựa chọn. Sự phát triển ngày càng năng động của khu vực, cùng với vai trò định hướng của Đảng và Nhà nước, đang góp phần củng cố nền tảng cho tăng trưởng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

 

Tài liệu tham khảo

Bộ Chính trị (2023). Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.

Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.

Báo Điện tử Chính phủ (2025). Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng. https://baochinhphu.vn

Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Đọc thêm

Việt Nam tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong tình hình mới

Tác giả: NGUYỄN ĐỨC HẠNH

(GDLL) - Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là một xu thế tất yếu, hàm chứa cả cơ hội và thách thức đối với các quốc gia trên con đường phát triển. Trong những năm qua, Việt Nam luôn tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa. Trên cơ sở khái quát bối cảnh tình hình tác động và những kết quả nổi bật trong tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng những năm qua bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả việc tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng của Việt Nam trong tình hình mới.

Về một số luận điểm của chủ nghĩa Mác trong kỷ nguyên số

Tác giả: GS, TS TRẦN THỌ ĐẠT

(LLCT) - Dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác, bài viết tiếp cận kỷ nguyên số, phân tích cách thức giá trị thặng dư hiện nay, chỉ ra xu hướng tập trung quyền lực nền tảng và bất bình đẳng toàn cầu đang ngày càng sâu sắc, đề xuất một số định hướng giải pháp để quan hệ sản xuất số được tổ chức lại.

Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở tỉnh Lào Cai hiện nay

Tác giả: LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ K71.B06

(GDLL) Cán bộ cấp cơ sở (cấp xã, phường) thuộc biên chế của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, là lực lượng nòng cốt, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số quốc gia hiện nay, yêu cầu về năng lực, phẩm chất, bản lĩnh chính trị, kỹ năng của cán bộ ngày càng cao. Bài viết làm rõ quan điểm của Đảng về đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong xây dựng chính quyền địa phương hiện nay, trên cơ sở phân tích thực trạng, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của cán bộ công chức sau khi sắp xếp, sáp nhập ở tỉnh Lào Cai.

Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới của Việt Nam

Tác giả: NGUYỄN ANH CƯỜNG - HOÀNG ANH TÚ - TRIỆU THANH CHÚC

(GDLL) - Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về lợi ích quốc gia - dân tộc, bài viết phân tích sự kiên định về lợi ích quốc gia - dân tộc trong đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới của Việt Nam và khẳng định việc bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn.

Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và khuyến nghị

Tác giả: PHẠM TÚ TÀI - CHU THỊ LÊ ANH

(GDLL) - Phát triển mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được Đảng xác định là động lực chính của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng trưởng kinh tế dựa vào khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm cơ sở khẳng định đây là động lực mới, quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Đồng thời, bài viết cũng tập trung đánh giá thực trạng, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam trong thời gian tới.