
Co-teaching within the “collaborative construction of new
knowledge and values” model in political theory education: practice at Lao Cai
Provincial School of Politics
Abstract:Collaborative
construction of new knowledge and values in political
theory teaching requires greater learner participation and the integration of
learners’ practical experience with the theoretical analysis and application
provided by lecturers. The article analyzes and assesses lecturers’ co-teaching practices in
facilitating the collaborative construction of new knowledge and values,
together with the requirements for further refining the model. On that basis,
it proposes solutions concerning lesson design, teaching staff development, the
establishment of a case repository, the application of digital technologies,
and the assessment of learning outcomes.
Keywords:Collaborative
construction of new knowledge and values; Lao Cai Provincial School of
Politics; political theory.
Đặt vấn đề
Năm
2026, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đẩy mạnh triển khai mô hình
“giảng viên - học viên đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới” trong đào tạo lý
luận chính trị. Hội nghị tập huấn toàn hệ thống ngày 20/6/2026 (Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2026a) nhấn mạnh việc trang bị cho giảng viên kiến
thức, kỹ năng thực hành phương pháp dạy học bằng tình huống và ứng dụng trí tuệ
nhân tạo; các hoạt động giảng dạy thí điểm, tọa đàm chuyên môn sau đó tiếp tục
làm rõ yêu cầu chuyển từ truyền đạt nội dung sang tổ chức quá trình học tập có
tương tác, phản biện và vận dụng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
2026b). Tại Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, mô hình đồng giảng được triển khai
thí điểm từ tháng 6/2026 như một nội dung cụ thể hóa yêu cầu đổi mới phương
pháp, cách thức tổ chức giảng dạy (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
2026c).
Đối với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đổi mới
phương pháp không đồng nghĩa với giảm nhẹ yêu cầu về nền tảng lý luận, tính
Đảng hay tính chuẩn xác của nội dung. Ngược lại, khi lớp học được tổ chức theo
hướng đối thoại và cùng giải quyết vấn đề, yêu cầu đối với giảng viên cao hơn:
phải vững nguyên tắc, nắm chắc lý luận, có khả năng xử lý thông tin thực tiễn,
định hướng tranh luận và khái quát các ý kiến khác nhau thành nhận thức khoa
học, đúng định hướng chính trị. Giá trị của mô hình vì vậy không nằm ở việc có
hai giảng viên cùng xuất hiện trên lớp, mà ở chất lượng thiết kế hoạt động học
tập và mức độ chuyển hóa kinh nghiệm thực tiễn của người học thành nguồn lực
cho quá trình nhận thức.
Đồng giảng là cách tổ chức phối hợp giữa các
giảng viên trong thiết kế và thực hiện bài giảng; đồng kiến tạo nhấn mạnh sự
tham gia của học viên vào quá trình phân tích, trao đổi và hoàn thiện nhận
thức. Trong giảng dạy lý luận chính trị, giá trị mới có thể được xem xét ở cách
nhận diện vấn đề, lập luận và phương án vận dụng được người học hoàn thiện trên
cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn đã kiểm chứng. Vì vậy, việc đánh giá mô
hình cần quan tâm đến cả chất lượng phối hợp giảng viên và sản phẩm học tập thể
hiện đóng góp của học viên.
Trên cơ sở phân tích tài liệu và thống kê mô
tả 345 phiếu khảo sát được tổng hợp ngày 30/9/2026 (Phiếu tổng hợp kết quả khảo
sát ý kiến học viên, 2026) tại các lớp Trung cấp lý luận chính trị A04-26,
B05-26, B06-26; các lớp bồi dưỡng cấp ủy cấp xã khóa 7, khóa 8/2026; các lớp
bồi dưỡng văn hóa công vụ và quy tắc ứng xử, đạo đức công vụ, phòng, chống tham
nhũng dành cho cán bộ, công chức cấp xã khóa 2, khóa 3/2026, kết quả khảo sát
được sử dụng để xem xét đánh giá của học viên đối với hoạt động đồng giảng.
Phiếu khảo sát gồm 16 câu đánh giá theo năm mức, từ rất không đồng ý đến rất
đồng ý, cùng các câu hỏi về đặc điểm người trả lời và kiến nghị hoàn thiện mô
hình. Tỷ lệ đồng ý được xác định bằng tổng số lựa chọn ở hai mức “đồng ý” và
“rất đồng ý” trên tổng số phiếu trả lời tương ứng. Kết quả khảo sát chủ yếu
phản ánh đánh giá của những người tham gia khảo sát, không được sử dụng để suy
rộng cho toàn bộ học viên hoặc khẳng định tác động nhân quả của mô hình.
1. Bối cảnh và những yêu cầu mới đặt ra đối với thực hiện đồng
giảng trong giảng dạy lý luận chính trị
Thứ nhất, phần lớn
người trả lời có nhiều năm công tác, tạo điều kiện khai thác kinh nghiệm thực
tiễn trong học tập. Trong 345 phiếu khảo sát, 242 người có thâm niên trên 10
năm, chiếm 70,1%; 50 người có thâm niên từ 5 đến 10 năm, chiếm 14,5%; 53 người
có thâm niên dưới 5 năm, chiếm 15,4%. Như vậy, 84,6% người trả lời có ít nhất 5
năm công tác (Trường Chính trị tỉnh Lào
Cai, 2026). Đặc điểm này gợi mở khả năng sử dụng những tình huống và
kinh nghiệm nghề nghiệp của học viên để tổ chức trao đổi, phân tích và vận dụng
lý luận. Tuy nhiên, thâm niên công tác không tự phản ánh đầy đủ chất lượng kinh
nghiệm hoặc năng lực khái quát thực tiễn; giảng viên cần lựa chọn, kiểm chứng
và định hướng việc sử dụng những kinh nghiệm được chia sẻ.
Thứ hai, yêu cầu vận
hành chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi số làm gia tăng nhu cầu học
tập gắn với năng lực xử lý công việc. Thực tiễn Lào Cai hiện nay đặt cán bộ cấp
cơ sở trước nhiều vấn đề liên ngành, từ phát triển kinh tế - xã hội, quản lý
địa bàn, dân tộc, biên giới, du lịch đến cung cấp dịch vụ công và quản trị trên
môi trường số. Điều đó đòi hỏi bài giảng lý luận chính trị vừa bảo đảm hệ thống
tri thức nền tảng, vừa phải tạo được “cầu nối” để học viên phân tích, lý giải
và lựa chọn cách xử lý phù hợp trong những tình huống cụ thể.
Thứ ba, môi trường thông
tin số làm thay đổi cách người học tiếp cận tri thức. Khi thông tin đa nguồn,
tốc độ cao và trí tuệ nhân tạo ngày càng hiện diện trong công việc, năng lực
cần hình thành không chỉ là ghi nhớ nội dung, mà còn là khả năng kiểm chứng
thông tin, nhận diện lập luận thiếu căn cứ, trao đổi trên cơ sở chứng cứ và vận
dụng lý luận để giải thích những vấn đề mới. Vì vậy, xu hướng chuyển từ “truyền
đạt tri thức” sang tổ chức hoạt động “kiến tạo tri thức” trong đào tạo lý luận
chính trị có cơ sở cả về yêu cầu thực tiễn và phương pháp giáo dục (Trần Thị
Kiều Nga, 2025).
2. Kết quả khảo sát tại Trường Chính trị tỉnh Lào Cai
Khi tiến hành thực
hiện nhiệm vụ đồng giảng, Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đã tiến hành khảo sát
bước đầu 345 học viên đang học tập tại trường cho kết quả như sau:
Thứ nhất, đặc điểm
của người trả lời khảo sát và mức độ tham gia hoạt động đồng giảng. Theo
phiếu tổng hợp, 274 người được ghi nhận ở nhóm tham gia trên 4 buổi đồng giảng,
chiếm 79,4%; 61 người tham gia từ 2 đến 3 buổi, chiếm 17,7%; 10 người tham gia
1 buổi, chiếm 2,9%. Kết quả cho thấy phần lớn người trả lời đã tham gia mô hình
nhiều lần (Trường Chính trị tỉnh Lào
Cai, 2026). Tuy nhiên, số buổi tham gia chưa đủ để đánh giá chất lượng
trải nghiệm hoặc xác định tác động của mô hình đối với kết quả học tập.
Bảng 1. Thâm niên công tác và số buổi
tham gia đồng giảng
của người trả lời khảo sát
|
Đặc điểm
|
Phương án trả lời
|
Số lượng (người)
|
Tỷ lệ (%)
|
|
Thâm niên công tác
|
Dưới 5 năm
|
53
|
15,4
|
|
|
Từ 5 đến 10 năm
|
50
|
14,5
|
|
|
Trên 10 năm
|
242
|
70,1
|
|
Tổng
|
|
345
|
100,0
|
|
Số buổi tham gia đồng giảng
|
1 buổi
|
10
|
2,9
|
|
|
Từ 2 đến 3 buổi
|
61
|
17,7
|
|
|
Trên 4 buổi
|
274
|
79,4
|
|
Tổng
|
|
345
|
100,0
|
Thứ hai, mức độ
đồng thuận cao và tương đối đồng đều ở 16 nội dung đánh giá. Tỷ
lệ đồng ý và rất đồng ý ở 16 câu đánh giá dao động từ 87,0% đến 89,0%, phản ánh
sự đón nhận tích cực của người trả lời. Các ý kiến mở gợi ra yêu cầu hoàn thiện
sự phối hợp giữa giảng viên, kỹ năng điều phối thảo luận và cách sử dụng tình
huống thực tiễn. Tổng hợp 5.520 lượt trả lời cho thấy có 4.873 lượt đồng
ý hoặc rất đồng ý, chiếm 88,3%; 175 lượt phân vân, chiếm 3,2%; 472 lượt không
đồng ý hoặc rất không đồng ý, chiếm 8,6%. Các tỷ lệ này phản ánh cơ cấu lượt
trả lời ở 16 câu hỏi, không phải tỷ lệ người có cùng một mức đánh giá đối với
toàn bộ mô hình (Trường Chính trị tỉnh
Lào Cai, 2026). Kết quả cho thấy xu hướng đánh giá tích cực, đồng thời
đặt ra yêu cầu tìm hiểu những phản hồi chưa đồng thuận để điều chỉnh hoạt động
giảng dạy.
Bảng 2. Phân bố mức độ đánh giá của người trả lời đối với 16
phát biểu
về hoạt động đồng giảng
|
Câu
|
Khía cạnh được lựa chọn
|
Rất không đồng ý
|
Không đồng ý
|
Phân vân
|
Đồng ý
|
Rất đồng ý
|
Đồng ý + Rất đồng
ý (%)
|
|
8
|
Tình huống thực tiễn gắn với Lào Cai
|
28
|
2
|
8
|
106
|
201
|
89,0
|
|
10
|
Gợi mở, khuyến khích chia sẻ kinh
nghiệm
|
28
|
1
|
10
|
111
|
195
|
88,7
|
|
11
|
Tiếp thu, tích hợp trải nghiệm của
học viên
|
28
|
1
|
12
|
108
|
196
|
88,1
|
|
13
|
Tăng tương tác trong lớp học
|
26
|
1
|
14
|
105
|
199
|
88,1
|
|
15
|
Tư duy phản biện và khả năng vận
dụng
|
27
|
3
|
12
|
105
|
198
|
87,8
|
|
17
|
Ghi nhớ và hiểu sâu bản chất bài học
|
28
|
3
|
10
|
106
|
198
|
88,1
|
Ba câu đánh giá về sự phối hợp giữa giảng
viên, việc lồng ghép tình huống thực tiễn Lào Cai và tính thời sự, sát thực của
tình huống cùng có 307/345 lượt đồng ý hoặc rất đồng ý, tương ứng 89,0%. Câu
đánh giá về sự phù hợp với đặc thù người học có 300/345 lượt, tương ứng 87,0%;
mong muốn tiếp tục nhân rộng mô hình có 302/345 lượt, tương ứng 87,5%. Chênh
lệch giữa giá trị cao nhất và thấp nhất chỉ là 7 lượt trả lời, tương đương
khoảng 2,0 điểm phần trăm (Trường Chính
trị tỉnh Lào Cai, 2026). Vì vậy, các kết quả nên được xem là khá gần
nhau về mặt mô tả, chưa đủ căn cứ xác lập sự khác biệt có ý nghĩa thống kê hoặc
thứ tự ưu tiên cải thiện.
Hai chỉ báo thấp nhất trong nhóm vẫn ở mức
cao là “phù hợp với đặc thù đối tượng học viên” (87,0%) và “mong muốn tiếp tục
nhân rộng trong toàn khóa học” (87,5%). Khoảng biến thiên giữa chỉ báo cao nhất
và thấp nhất chỉ 2,0 điểm phần trăm (Trường
Chính trị tỉnh Lào Cai, 2026). Điều này cho thấy đánh giá tích cực mang
tính khá đồng đều, nhưng đồng thời cũng làm giảm khả năng phân loại ưu tiên nếu
chỉ dựa vào câu hỏi mức độ đồng ý. Vì vậy, dữ liệu ở câu hỏi lựa chọn yếu tố
cần cải thiện có giá trị chẩn đoán rõ hơn đối với giai đoạn hoàn thiện mô hình.
Thứ ba, những kết quả tích cực
nổi bật trong tổ chức hoạt động đồng giảng qua đánh giá của học viên. Kết quả khảo sát ghi nhận sự đánh giá
tích cực đối với việc gắn bài giảng với tình huống thực tiễn. Hai câu hỏi về
lồng ghép tình huống Lào Cai và tính thời sự, sát thực của tình huống đều đạt
89,0% đồng ý hoặc rất đồng ý. Đây là căn cứ để tiếp tục chú trọng lựa chọn
những vấn đề gần với công việc của học viên, đồng thời yêu cầu người học phân
tích bằng cơ sở lý luận và thông tin đã kiểm chứng.
Người trả lời đánh giá tích cực việc giảng
viên gợi mở, khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm và tiếp thu ý kiến vào bài học.
Kết quả này gợi ra điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của học viên vào quá
trình học tập. Tuy nhiên, để làm rõ mức độ đồng kiến tạo, cần đối chiếu thêm
với sản phẩm thảo luận, lập luận của học viên và những điều chỉnh được thực
hiện sau trao đổi.
Các câu đánh giá về không khí lớp học, tương
tác và chia sẻ kinh nghiệm đều nhận được tỷ lệ đồng ý cao. Những phản hồi này
phản ánh cảm nhận tích cực về môi trường học tập, chưa trực tiếp chứng minh sự
tiến bộ về năng lực. Giá trị của hoạt động tương tác cần tiếp tục được xem xét
qua chất lượng câu hỏi, căn cứ lập luận và khả năng vận dụng lý luận vào giải
quyết tình huống.
3. Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện trong tổ chức mô
hình đồng giảng từ kết quả khảo sát và thực tiễn triển khai
Thứ nhất, cần bảo
đảm sự phối hợp và chuyển tiếp hợp lý giữa các giảng viên. Ý kiến mở đề nghị
phân công rõ vai trò, thống nhất kịch bản và hạn chế chuyển đổi người giảng quá
thường xuyên làm gián đoạn mạch bài học. Yêu cầu đặt ra là xác định rõ người
dẫn dắt từng hoạt động, người bổ sung hoặc phản biện, thời điểm chuyển tiếp và
trách nhiệm kết luận. Phân công từng phần tương đối hoàn chỉnh vẫn có thể phù
hợp nếu các phần gắn kết với mục tiêu chung và có sự phối hợp thực chất.
Thứ hai, cần nâng cao
năng lực gợi mở, điều phối và khái quát kết quả thảo luận. Ý kiến mở đề nghị
tăng câu hỏi gợi mở, tạo điều kiện cho học viên trao đổi và thống nhất cách dẫn
dắt, kết luận tình huống. Giảng viên cần giúp người học chuyển từ kể lại kinh
nghiệm sang phân tích vấn đề bằng căn cứ lý luận và thực tiễn. Sau thảo luận,
cần làm rõ những điểm đã thống nhất, những nhận định chưa đủ căn cứ và yêu cầu
tiếp tục hoàn thiện sản phẩm học tập.
Thứ ba, cần nâng
cao chất lượng tình huống và cách sử dụng kinh nghiệm của học viên. Các kiến
nghị mở đề cập đến việc xây dựng ngân hàng tình huống gắn với công tác cán bộ,
phát triển kinh tế vùng dân tộc thiểu số, quản lý biên giới, du lịch và chính
quyền số; đồng thời đề nghị tăng cơ hội chia sẻ kinh nghiệm công tác. Tình
huống cần xác định rõ bối cảnh, dữ kiện, yêu cầu phân tích và sản phẩm học tập.
Những kinh nghiệm được đưa vào thảo luận phải được xem xét trong điều kiện cụ
thể, tránh khái quát một cách xử lý riêng lẻ thành kết luận chung.
Thứ tư, cần bố trí
thời lượng phù hợp cho hoạt động của học viên. Ý kiến mở đề nghị dành thời gian
trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và cùng giải quyết vấn đề. Vì vậy, kịch bản bài
giảng cần phân định rõ phần giảng viên làm rõ trực tiếp, phần học viên chuẩn bị
trước và phần tổ chức vận dụng qua tình huống. Mỗi hoạt động cần có thời gian
dự kiến, yêu cầu sản phẩm và thời gian phản hồi để bảo đảm tiến độ và chất
lượng thảo luận.
Thứ năm, cần sử
dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo phù hợp với mục tiêu học tập. Phiếu tổng
hợp ghi nhận ý kiến đề xuất sử dụng thiết bị số, công cụ tương tác và trí tuệ
nhân tạo để hỗ trợ nghiên cứu tài liệu, làm việc nhóm và trình bày kết quả. Đây
là gợi ý cần xem xét, chưa đủ cơ sở xác định mức độ phổ biến của nhu cầu. Việc
lựa chọn công cụ cần gắn với nhiệm vụ cụ thể, đi đôi với kiểm chứng nguồn thông
tin, bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm của người sử dụng.
Những vấn đề trên cần được đối chiếu với giáo
án, nhận xét dự giờ và sản phẩm học tập để xác định nguyên nhân và lựa chọn
biện pháp điều chỉnh. Việc hoàn thiện mô hình cần đồng thời quan tâm đến phản
hồi của học viên và chất lượng thực hiện từng hoạt động dạy học.
4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đồng giảng dạy trong tổ
chức mô hình “giảng viên - học viên đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới” từ
thực tế Trường Chính trị tỉnh Lào Cai
Một là, chuẩn hóa thiết
kế và phối hợp thực hiện bài giảng. Mỗi bài đồng giảng cần xác định rõ mục
tiêu, nhiệm vụ học tập, kiến thức lý luận cốt lõi, vai trò của từng giảng viên,
thời điểm chuyển tiếp và sản phẩm học viên phải hoàn thành. Các giảng viên cần
thống nhất cách xử lý ý kiến khác nhau, căn cứ kết luận và phương án điều chỉnh
khi hoạt động vượt thời gian dự kiến. Chất lượng phối hợp được đánh giá bằng sự
thống nhất của quá trình dạy học và mức độ đạt mục tiêu, không căn cứ đơn thuần
vào số lần chuyển vai hoặc thời lượng phát biểu của mỗi giảng viên.
Hai là, phát triển năng
lực điều phối, phản biện và khái quát thực tiễn cho đội ngũ giảng viên. Nhà
trường cần tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo kíp giảng, giảng thử - dự giờ -
phản biện, tập trung vào các kỹ năng cụ thể như đặt câu hỏi mở, chuyển vai giữa
hai giảng viên, xử lý ý kiến ngoài dự kiến, kiểm soát thời gian, nhận diện ý
kiến có giá trị và chốt lại bằng căn cứ lý luận. Đồng thời, tiếp tục tạo điều
kiện để giảng viên nghiên cứu thực tế tại xã, phường, cơ quan chuyên môn, từ đó
nâng chất lượng tình huống và tăng sự tự tin khi đối thoại với những học viên
có nhiều năm kinh nghiệm công tác.
Ba là, xây dựng ngân hàng
tình huống thực tiễn Lào Cai được kiểm chứng và cập nhật thường xuyên. Mỗi khoa
chuyên môn có thể hình thành tập tình huống từ báo cáo tổng kết, số liệu thống
kê, vấn đề phát sinh trong quản lý, các mô hình hay và kinh nghiệm xử lý tại
địa phương; khi sử dụng phải loại bỏ thông tin nhạy cảm, xác minh nguồn và
chuyển hóa thành câu hỏi học tập phù hợp. Tình huống tốt không nhất thiết phải
phức tạp về hình thức, nhưng phải buộc học viên lựa chọn căn cứ, nhận diện mâu
thuẫn, đánh giá hệ quả và giải thích phương án. Cùng với đó, cần tạo điều kiện
để học viên có kinh nghiệm phù hợp tham gia phân tích tình huống; giảng viên có
trách nhiệm kiểm chứng thông tin, hướng dẫn đối chiếu và khái quát kết quả trao
đổi trên cơ sở lý luận.
Bốn là, gắn đồng kiến tạo
với chuyển đổi số và ứng dụng AI có trách nhiệm. Trước giờ học, giảng viên có
thể cung cấp học liệu số, câu hỏi định hướng và dữ liệu nền để học viên chuẩn
bị; trong giờ học, sử dụng công cụ tương tác để thu nhận nhanh ý kiến, phân
nhóm quan điểm và theo dõi mức độ tham gia; sau giờ học, duy trì không gian
trao đổi để hoàn thiện sản phẩm học tập. AI có thể hỗ trợ gợi ý tình huống, mô
phỏng kịch bản, tổng hợp luồng ý kiến hoặc tra cứu tài liệu, nhưng kết quả phải
được kiểm chứng bằng nguồn chính thức và không được thay thế hoạt động tư duy,
đánh giá của người học. Đối với giảng dạy lý luận chính trị, yêu cầu về độ tin
cậy của nguồn, bảo mật thông tin và trách nhiệm trong sử dụng AI phải được đặt
thành nguyên tắc.
Năm là, đổi mới
đánh giá chất lượng giờ học và nhân rộng mô hình theo bằng chứng. Tiêu chí đánh
giá không nên chỉ dừng ở việc giảng viên trình bày đủ nội dung, mà cần xem xét
đồng thời bốn nhóm: tính đúng đắn về chính trị và khoa học của nội dung; chất
lượng phối hợp của kíp giảng; mức độ tham gia và chất lượng sản phẩm của học
viên; khả năng vận dụng lý luận vào phân tích tình huống. Sau mỗi đợt triển
khai nên sử dụng dữ liệu phản hồi, sản phẩm học tập và nhận xét dự giờ để điều
chỉnh kịch bản. Việc nhân rộng cần đi cùng tập huấn, giảng thực nghiệm và chuẩn
hóa tối thiểu, tránh biến một mô hình đổi mới thành yêu cầu hình thức. Đối với
kết quả học tập, cần sử dụng tiêu chí cụ thể về xác định vấn đề, lựa chọn căn
cứ lý luận, phân tích dữ kiện và giải trình phương án xử lý. Đồng thời, hoàn
thiện công cụ khảo sát, quy tắc kiểm tra phiếu và dữ liệu theo từng người trả
lời; có thể tổ chức đánh giá trước và sau hoạt động học tập hoặc so sánh các
nhóm phù hợp khi điều kiện cho phép. Kết quả đánh giá là căn cứ lựa chọn chuyên
đề và điều kiện nhân rộng mô hình.
Kết luận
Với mô hình giảng dạy lý luận chính trị mới,
việc khảo sát 345 phiếu tại Trường Chính trị tỉnh Lào Cai ghi nhận đánh giá
tích cực đối với hoạt động đồng giảng, nhất là sự phối hợp giữa giảng viên và
việc sử dụng tình huống thực tiễn. Kết quả này là căn cứ ban đầu để tiếp tục
hoàn thiện mô hình, chưa thay thế việc đánh giá trực tiếp năng lực vận dụng của
học viên.
Nâng cao chất lượng đồng kiến tạo tri thức,
giá trị mới đòi hỏi sự thống nhất giữa thiết kế bài giảng, năng lực điều phối
của giảng viên và sự tham gia thực chất của người học. Nhà trường cần chú trọng
chất lượng tình huống, sản phẩm học tập và cơ chế phản hồi; đồng thời kiểm soát
chất lượng dữ liệu đánh giá để việc điều chỉnh và nhân rộng mô hình có căn cứ
khoa học, phù hợp với thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung
ương (2026), Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 15/10/2026 về tiếp tục xây dựng đội
ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu
cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Bộ Chính trị
(2014), Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26/5/2014 về tiếp tục đổi mới, nâng cao
chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo,
quản lý.
Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh (2026a). Khai mạc
Hội nghị triển khai thực hiện và tập huấn mô hình giảng viên - học viên đồng
kiến tạo tri thức, giá trị mới.
Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh (2026b). Tọa đàm
khoa học: Giải pháp thực hiện hiệu quả đồng giảng trong đào tạo Trung cấp lý
luận chính trị tại các trường chính trị khu vực Đồng bằng sông Hồng.
Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh (2026c). Trường
Chính trị tỉnh Lào Cai triển khai thí điểm Mô hình đồng giảng: Bước đột phá
hướng tới đồng kiến tạo tri thức.
Trần Thị Kiều Nga
(2025). Đổi mới phương pháp và đa dạng
hóa hình thức đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị trong môi trường số hiện nay.
Tạp chí Lý luận chính trị.
Phiếu tổng hợp kết quả khảo sát ý kiến học viên (về mô
hình giảng viên - học viên đồng kiến tạo tri thức, giá trị mới trong giảng dạy
lý luận chính trị). (ngày 30/9/2026).
Trường Chính trị tỉnh Lào Cai (2026). Báo
cáo khảo sát tại một số lớp đào tạo, bồi dưỡng của Trường Chính trị tỉnh Lào
Cai từ ngày 18/9/2026 đến ngày 30/9/2026.