Thứ Sáu, ngày 06/11/2026, 16:54

Vai trò của hệ tư tưởng trong đời sống xã hội: Cơ chế tác động, biến đổi trong kỷ nguyên số ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Đức Chính
Học viện Chính trị khu vực I

GDLL: Hệ tư tưởng có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, là nền tảng tinh thần, định hướng nhận thức và điều chỉnh hành vi con người. Bài viết phân tích vai trò của hệ tư tưởng trong đời sống xã hội, cơ chế tác động, biến đổi của nó trong kỷ nguyên số. Từ đó, nêu một số định hướng phát huy vai trò của hệ tư tưởng trong bối cảnh mới.

 

Hội thảo khoa học quốc gia “Xây dựng Quy định về công tác chính trị, tư tưởng”

 

The role of ideology in social life: mechanisms of influence and transformation in the digital era in Vietnam

Abstract:Ideology plays a particularly important role in social life, serving as a spiritual foundation that guides cognition and regulates human behavior. The article analyzes the role of ideology in social life, as well as the mechanisms through which it exerts influence and undergoes transformation in the digital era. On that basis, it presents several orientations for promoting the role of ideology in the new context.

Keywords:Digital era; ideology; ideological foundation of the Communist Party of Vietnam; Vietnam.

 

Đặt vấn đề

Hệ tư tưởng là tập hợp các quan điểm, tư tưởng, niềm tin, giá trị và nguyên tắc được xây dựng thành một hệ thống nhằm giải thích cách con người nhìn nhận thế giới xã hội và định hướng hành động của cá nhân hoặc cộng đồng. Hệ tư tưởng không xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà được hình thành qua quá trình phát triển lâu dài của xã hội. Nó chịu tác động của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế - lịch sử, văn hóa, tôn giáo, giáo dục và môi trường chính trị của từng quốc gia hoặc cộng đồng. Trong bối cảnh cách mạng công nghệ phát triển mạnh mẽ tác động đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội trong đó có hệ tư tưởng. Kỷ nguyên số tác động cả mặt tích cực cũng như mặt hạn chế nó làm biến đổi quá trình nhận thức về con người cả tự nhiên và xã hội.

1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

Theo quan điểm duy vật lịch sử, đời sống tinh thần nảy sinh trên cơ sở đời sống vật chất và các quan hệ xã hội. C.Mác chỉ rõ không phải ý thức quyết định tồn tại xã hội, mà tồn tại xã hội quyết định ý thức (C.Mác & Ph.Ăng-ghen.1995, tr.15). Sự quy định này không mang tính cơ giới: ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại hiện thực thông qua hoạt động của con người.

Hệ tư tưởng hình thành trong quan hệ với cơ cấu lợi ích và vị trí của các giai cấp, tầng lớp. Nhận định của C.Mác và Ph.Ăng-ghen cho rằng giai cấp nắm sức mạnh vật chất thống trị đồng thời có khả năng chi phối đời sống tinh thần cho thấy quyền sở hữu và quyền lực xã hội ảnh hưởng đến quá trình tạo lập, phổ biến tư tưởng (C.Mác & Ph.Ăng-ghen. tr. 66). Tuy nhiên, tính giai cấp không đồng nghĩa mọi mệnh đề tư tưởng đều là sự xuyên tạc. Một hệ tư tưởng có thể khái quát lợi ích rộng lớn khi phản ánh đúng xu hướng phát triển, nhận diện mâu thuẫn chủ yếu và đề xuất cách giải quyết phù hợp với tiến bộ xã hội.

Chủ nghĩa Mác cho rằng trong xã hội có giai cấp, hệ tư tưởng mang tính giai cấp, phản ánh những lợi ích của giai cấp. Cuộc đấu tranh giữa các lợi ích giai cấp tất yếu biểu hiện thành đấu tranh tư tưởng và hình thành hệ tư tưởng. Giai cấp thống trị trình bày lợi ích của mình như là lợi ích của xã hội, luôn áp đặt hệ tư tưởng của mình cho toàn xã hội. Giai cấp cách mạng có hệ tư tưởng đối lập với hệ tư tưởng của giai cấp phản cách mạng. Điều kiện xã hội cần thiết để cho hệ tư tưởng phản ánh hiện thực một cách khách quan là lợi ích giai cấp phù hợp với nhu cầu của tiến bộ xã hội. Do đó, xét về bản chất, hệ tư tưởng luôn mang tính giai cấp, phản ánh quyền lợi của một giai cấp hay một nhóm xã hội nhất định trong xã hội có giai cấp. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ tư tưởng là một bộ phận của ý thức xã hội nên chịu sự quy định của tồn tại xã hội.

Ý thức xã hội là phạm trù rộng. Tâm lý xã hội biểu hiện trực tiếp qua tình cảm, tâm trạng, tập quán; hệ tư tưởng là sự khái quát lý luận, có hệ thống. Thế giới quan bao quát tự nhiên, xã hội và con người; hệ tư tưởng tập trung giải thích, đánh giá và định hướng trật tự xã hội từ những lợi ích nhất định. Lý luận chính trị là tri thức về quyền lực và thiết chế, chỉ trở thành bộ phận của hệ tư tưởng khi gắn với hệ giá trị, chủ thể và chương trình hành động. Dư luận xã hội là đánh giá đang lưu hành, không nhất thiết có tính hệ thống.

Theo đó, hệ tư tưởng có bốn dấu hiệu: tính hệ thống lý luận; tính định hướng giá trị; mối liên hệ với lợi ích và chủ thể xã hội; khả năng định hướng thể chế và hành động. Có thể hiểu hệ tư tưởng là hệ thống tương đối nhất quán các quan niệm, giá trị, biểu tượng và mục tiêu, phản ánh lợi ích cùng kinh nghiệm của những lực lượng xã hội nhất định, cung cấp cách giải thích hiện thực, xác lập trật tự được coi là chính đáng và định hướng hoạt động nhằm duy trì hoặc cải biến trật tự đó.

2. Vai trò cơ bản của hệ tư tưởng với đời sống xã hội

Để hạn chế sự chồng lấn, các vai trò được phân nhóm theo vị trí trong chuỗi tác động: nhận thức - chuẩn mực thuộc khâu khái quát và định hướng giá trị; chính danh - liên kết gắn với thể chế hóa và xã hội hóa; huy động - cải biến thể hiện ở hành động và phản hồi thực tiễn.

Thứ nhất, vai trò nhận thức - chuẩn mực.

Hệ tư tưởng cung cấp khung nhận thức để lựa chọn và giải thích hiện thực: xác định vấn đề trung tâm, nguyên nhân, chủ thể có trách nhiệm và giải pháp được coi là hợp lý. Cùng một hiện tượng chênh lệch thu nhập có thể được nhìn từ cạnh tranh thị trường, bất bình đẳng cơ hội, quan hệ sở hữu hoặc chất lượng thể chế; mỗi cách lý giải dẫn tới chương trình hành động khác nhau.

Trên cơ sở đó, hệ tư tưởng xác lập chuẩn mực và thứ tự ưu tiên giữa các giá trị như tự do, bình đẳng, trách nhiệm, đoàn kết, phẩm giá con người và phát triển bền vững. Vai trò này không xóa bỏ xung đột giá trị mà cung cấp nguyên tắc xử lý, chẳng hạn giữa tăng trưởng với bảo vệ môi trường, giữa tự do kinh doanh với quyền lợi người lao động. Sức sống của chức năng này phụ thuộc vào năng lực giải thích vấn đề mới và mức phù hợp của hệ giá trị với nhu cầu phát triển.

Thứ hai, vai trò chính danh - liên kết.

Khi được thể chế hóa, hệ tư tưởng giải thích vì sao quyền lực và thiết chế tồn tại, vận hành theo nguyên tắc nào và phục vụ mục tiêu gì. Tính chính danh không chỉ đến từ mục tiêu tuyên bố mà còn từ sự công bằng của quy trình, hiệu quả của kết quả và trách nhiệm giải trình. Khoảng cách kéo dài giữa giá trị với hoạt động thực tế có thể làm suy giảm niềm tin và sự tự nguyện tuân thủ.

Hệ tư tưởng đồng thời tạo dựng bản sắc, liên kết các lợi ích khác biệt trong cộng đồng chính trị. Đồng thuận không phải sự giống nhau tuyệt đối hay im lặng trước khác biệt, mà là sự chấp nhận có cơ sở đối với các nguyên tắc nền tảng và phương thức giải quyết bất đồng. Khi bản sắc bị tuyệt đối hóa hoặc khác biệt bị biến thành đối kháng, chức năng liên kết có thể chuyển thành loại trừ và phân cực.

Thứ ba, vai trò huy động - cải biến.

Hệ tư tưởng chuyển những nhu cầu và lợi ích phân tán thành mục tiêu chung, xác định chủ thể, phương thức và trạng thái xã hội mong muốn; nhờ đó tập hợp lực lượng và tạo động lực cho hành động. Tuy nhiên, cơ chế huy động cũng có thể bị lợi dụng để kích thích thù hận khi vấn đề phức tạp bị giản lược thành đối lập tuyệt đối giữa “chúng ta” và “họ”.

Những giá trị đã được xác lập còn trở thành tiêu chuẩn phê phán hiện thực và thúc đẩy sửa đổi thiết chế. Khả năng tự phê bình, tiếp nhận tri thức mới và sửa chữa sai lầm không đối lập với sự kiên định về mục tiêu, mà giúp hệ tư tưởng tránh giáo điều. Chức năng huy động - cải biến phải được đánh giá bằng nội dung nhân văn, tính khoa học, mức độ tham gia tự nguyện và hệ quả xã hội thực tế.

Tác động của hệ tư tưởng trong đời sống xã hội

Hệ tư tưởng không tác động trực tiếp đến hành vi xã hội mà thông qua các khâu thể chế hóa, truyền thông, tiếp nhận và chuyển hóa thành thực tiễn. Từ quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội và luận điểm của V.I. Lênin về vai trò của lý luận đối với phong trào thực tiễn (V.I.Lênin, tr. 30), bài viết đề xuất chuỗi: điều kiện vật chất và lợi ích; khái quát thành hệ quan niệm, giá trị; thể chế hóa thành pháp luật, chính sách, chuẩn mực; truyền thông và xã hội hóa; tiếp nhận, diễn giải hoặc phản bác; hành động; phản hồi từ kết quả thực tiễn. Đây là khung tổng hợp do bài viết xây dựng.

Bốn nhân tố trung gian quyết định mức độ chuyển hóa là chất lượng thiết chế; uy tín và tính nêu gương của chủ thể truyền đạt; cấu trúc môi trường truyền thông; trải nghiệm cùng năng lực nhận thức của người tiếp nhận. Sự nhất quán giữa giá trị, thể chế và kết quả có thể củng cố niềm tin; ngược lại, thiết chế kém hiệu quả, chủ thể thiếu uy tín, thông tin bị thao túng hoặc trải nghiệm trái ngược với thông điệp đều làm suy giảm sức thuyết phục. Khung này được sử dụng xuyên suốt các phần tiếp theo.

3. Biến đổi của hệ tư tưởng và cơ chế tác động trong kỷ nguyên số

3.1. Biến đổi cấu trúc truyền thông và cách thức tiếp nhận

Công nghệ số làm thay đổi mạnh khâu truyền thông và xã hội hóa. Cá nhân, nhóm nhỏ và mạng lưới xuyên quốc gia đều có thể tiếp cận công chúng rộng; hệ tư tưởng không chỉ hiện diện trong các học thuyết, quan điểm, văn kiện chính trị mà còn được lồng vào video ngắn, hình ảnh, quảng cáo, trò chơi và thiết kế giao diện. Cơ hội tham gia tăng lên, nhưng số lượng nội dung không đồng nghĩa với chất lượng thông tin.

Thuật toán phân phối dòng thông tin theo dữ liệu hành vi khiến công chúng không còn cùng tiếp xúc với một không gian thông tin. Tổng quan nghiên cứu quốc tế cho thấy truyền thông số có thể mở rộng tham gia, đồng thời liên hệ với phân cực, suy giảm niềm tin và thao túng thông tin trong những điều kiện nhất định (Lorenz - Spreen, 2023). “Quyền lực nền tảng” là khả năng kiểm soát dữ liệu, quyền tiếp cận, thứ tự hiển thị và mức độ nhìn thấy của nội dung; “bất bình đẳng thuật toán” là chênh lệch có tính hệ thống về cơ hội tiếp cận hoặc hiển thị do dữ liệu, mô hình và thiết kế hệ thống tạo ra. Đây là các cơ chế định hình nội dung nào được ưu tiên và chủ thể nào có ảnh hưởng.

Cảm xúc trở thành biến số có thể đo lường và tối ưu hóa theo thời gian thực. Tin sai trên mạng xã hội có xu hướng lan nhanh, xa và rộng hơn tin đúng, đặc biệt với nội dung chính trị (Vosoughi, S, 2018, tr. 1146 -1151). Trí tuệ nhân tạo tạo sinh tiếp tục hạ thấp chi phí làm giả văn bản, hình ảnh, giọng nói và video. Rủi ro không chỉ là tin vào nội dung sai mà còn là sự hoài nghi đối với cả bằng chứng xác thực.

3.2. Biến đổi uy tín chủ thể và vòng phản hồi thực tiễn

Môi trường số không xóa bỏ vai trò của điều kiện vật chất, lợi ích và thiết chế, nhưng rút ngắn vòng phản hồi và làm uy tín chủ thể dễ bị kiểm nghiệm hơn. Công chúng vừa tiếp nhận, vừa đối chiếu và sản xuất nội dung; thông điệp nhanh chóng được so sánh với dữ liệu công khai và trải nghiệm thực tế. Vì vậy, sự nhất quán giữa lời nói, hành vi và kết quả quản trị trở thành điều kiện quan trọng của sức thuyết phục.

Chuỗi tác động có thể bị sai lệch ở nhiều khâu: dữ liệu đầu vào thiên lệch; lợi ích đứng sau thông điệp bị che giấu; thuật toán thiếu minh bạch; người dùng bị khép trong môi trường đồng quan điểm; hoặc tương tác nhân tạo tạo cảm giác về đồng thuận không có thật. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng không thể chỉ là tăng số lượng thông điệp hay xử lý nội dung riêng lẻ, mà phải đồng thời nâng chất lượng lý luận, tính nhất quán của thiết chế, độ tin cậy của chủ thể, tính toàn vẹn thông tin và năng lực kiểm chứng của công dân.

4. Những định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

4.1. Định hướng giá trị và thể chế hóa trong phát triển đất nước

Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng. Nền tảng đó định hướng quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng quan hệ xã hội tiến bộ; giữa tăng trưởng với công bằng và phát triển con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định độc lập phải gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 64), qua đó đặt lợi ích chính đáng của nhân dân vào vị trí thước đo của giá trị chính trị.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và an ninh con người” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 108). Yêu cầu này vừa định hướng nhận thức - chuẩn mực, vừa phải được chuyển thành tiêu chí phân bổ nguồn lực, thiết kế chính sách và đánh giá kết quả phát triển.

Chuyển đổi số đặt ra vấn đề về sở hữu và sử dụng dữ liệu, quyền lực nền tảng, bất bình đẳng thuật toán, việc làm và phân phối lợi ích công nghệ. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu (Bộ Chính trị, 2024, tr. 2). Nghiên cứu lý luận vì vậy phải chỉ ra bản chất kinh tế - xã hội và quan hệ lợi ích trong các biến đổi công nghệ, thay vì chỉ coi đây là bài toán kỹ thuật.

4.2. Yêu cầu về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong không gian số

Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch (Bộ Chính trị, 2018, tr.1). Trong không gian số, nhiệm vụ này cần kết hợp nâng cao nội dung lý luận, báo chí chuyên nghiệp, phản hồi chính sách kịp thời, giáo dục truyền thông và trách nhiệm nền tảng; qua đó tăng sức thuyết phục và khả năng chống chịu xã hội, thay vì chỉ xử lý từng thông tin riêng lẻ.

Để tránh phân loại tùy nghi, có thể phân biệt góp ý, phản biện chính sách với thông tin sai lệch, xuyên tạc theo bốn tiêu chí: (1) căn cứ sự thật - phản biện dùng thông tin có thể kiểm chứng, còn thông tin sai lệch dựa vào dữ liệu bịa đặt, cắt ghép hoặc tách khỏi bối cảnh; (2) mục đích - phản biện nhận diện hạn chế, đề xuất hoàn thiện, còn xuyên tạc cố ý quy kết sai bản chất hoặc phủ nhận chứng cứ; (3) phương thức - phản biện công khai lập luận, nguồn và trách nhiệm phát ngôn, trong khi thao túng thường che giấu nguồn, giả mạo chủ thể hoặc khuếch đại nhân tạo; (4) hành vi - góp ý tuân thủ pháp luật, không kích động bạo lực, chia rẽ cộng đồng hay xâm hại quyền hợp pháp. Việc nhận diện không thể chỉ dựa vào mức độ khác biệt với quan điểm chính thức.

Phản hồi chính đáng được lắng nghe và chuyển thành điều chỉnh chính sách có thể củng cố tính chính danh; ngược lại, vấn đề có thật không được giải thích hoặc xử lý sẽ làm tăng khoảng cách giữa giá trị với trải nghiệm xã hội. Do đó, phản bác thuyết phục phải kết hợp dữ liệu chính xác, lập luận rõ ràng, thái độ thẳng thắn với hạn chế và kết quả quản trị có thể kiểm chứng.

4.3. Định hướng phát huy vai trò của hệ tư tưởng trong giai đoạn mới

Các định hướng cần tương ứng với bốn nhân tố trung gian của chuỗi tác động.

Thứ nhất, nâng cao năng lực giải thích khoa học của lý luận. Nghiên cứu phải xuất phát từ mâu thuẫn và quan hệ lợi ích, lấy lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, tiếp thu có chọn lọc tri thức liên ngành. Khái niệm mới chỉ nên dùng khi nội hàm và cấp độ phân tích rõ ràng; ưu tiên làm sáng tỏ tác động của dữ liệu, nền tảng và trí tuệ nhân tạo đối với sở hữu, lao động, phân phối và quyền lực xã hội.

Thứ hai, bảo đảm sự thống nhất giữa giá trị, thiết chế và hành vi. Các giá trị dân chủ, công bằng, lấy nhân dân làm trung tâm phải được cụ thể hóa trong cơ hội phát triển, dịch vụ công, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Nêu gương phải gắn với kiểm soát quyền lực và xử lý trách nhiệm. Có thể đánh giá sức thuyết phục qua ba “phép thử”: năng lực giải thích vấn đề mới; mức nhất quán giữa giá trị với hoạt động thiết chế; kết quả phát triển mà người dân nhận biết.

Thứ ba, phát triển truyền thông có đối thoại và hệ sinh thái thông tin có tính toàn vẹn. Cần giải thích căn cứ, lắng nghe phản hồi, công bố kịp thời những gì đã biết, chưa rõ và tiến độ xác minh. Đồng thời, tăng trách nhiệm của nền tảng đối với quảng cáo chính trị, tài khoản tự động, nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra và cơ chế đề xuất; phát triển dữ liệu công mở và cơ chế kiểm chứng.

Thứ tư, nâng cao năng lực tiếp nhận và đổi mới đánh giá. Giáo dục lý luận chính trị phải giúp người học phân tích quan hệ lợi ích, quyền lực, mâu thuẫn xã hội; giáo dục truyền thông số trang bị kỹ năng kiểm tra nguồn, đánh giá bằng chứng, hiểu thuật toán và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Ngoài chỉ tiêu hoạt động, cần đo mức độ hiểu đúng, niềm tin có căn cứ, khả năng đối thoại, năng lực chống chịu trước thông tin sai lệch và mức phù hợp giữa thông điệp với trải nghiệm.

Kết luận

Về lý luận, hệ tư tưởng là bộ phận có tính hệ thống của ý thức xã hội, gắn với lợi ích, giá trị và định hướng hành động; khác với tâm lý xã hội, thế giới quan, lý luận chính trị và dư luận xã hội. Chuỗi từ điều kiện vật chất, lợi ích đến khái quát lý luận, thể chế hóa, truyền thông, tiếp nhận, hành động và phản hồi cho phép tổ chức vai trò của hệ tư tưởng thành ba nhóm: nhận thức - chuẩn mực, chính danh - liên kết, huy động - cải biến.

Trong kỷ nguyên số, nền tảng, thuật toán và trí tuệ nhân tạo làm thay đổi cấu trúc truyền bá, uy tín chủ thể, cách tiếp nhận và tốc độ phản hồi, tạo cả cơ hội tham gia lẫn nguy cơ phân mảnh, thao túng và khủng hoảng niềm tin. Đối với Việt Nam, phát huy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn đổi mới lý luận với chất lượng thể chế, nêu gương, trách nhiệm giải trình, truyền thông có đối thoại, tính toàn vẹn thông tin và năng lực số. Sức thuyết phục được củng cố khi lý luận giải đáp vấn đề mới, giá trị chuyển thành chính sách nhất quán và kết quả được nhân dân kiểm nghiệm.

 

Tài liệu tham khảo

Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

C.Mác& Ph.Ăng-ghen (1995). Toàn tập(Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia.

C.Mác & Ph.Ăng-ghen (1993). Toàn tập(Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.

Kemp,S. (2025). Digital 2025: Vietnam. DataReportal. https://datareportal.com/reports.

Lorenz-Spreen, P., Oswald, L., Lewandowsky, S., & Hertwig, R. (2023). “A systematic review of worldwide causal and correlational evidence on digital media and democracy”. Nature Human Behaviour, https://doi.org/10.1038/s41562-022-01460-1.

Vosoughi, S., Roy, D., & Aral, S. (2018). “The spread of true and false news online”. Science 359(6380). https://doi.org/10.1126/science.aap9559.

V.I. Lênin (2005). Toàn tập(Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia.

Đọc thêm

Vai trò của lực lượng dân quân tự vệ Hà Nội trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" tháng 12 năm 1972

Tác giả: NGUYỄN ĐÌNH QUỲNH - LÊ TRỌNG ĐẠI

(GDLL) - Trong quá trình đấu tranh cách mạng cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Dân quân tự vệ luôn là lực lượng dự bị hùng hậu cho bộ đội chủ lực và xung kích trong lao động sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, là lực lượng nòng cốt cho xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân. Bài viết khái quát diễn biến chính của trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội, làm rõ vai trò quan trọng của lực lượng Dân quân tự vệ Hà Nội trong bảo vệ địa phương, địa bàn cơ sở, rút ra một số kinh nghiệm vận dụng về vai trò của lực lượng Dân quân tự vệ Hà Nội.

30 năm quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc (1992 - 2022): Thành tựu và triển vọng

Tác giả: NGUYỄN VĂN ĐỨC - NGUYỄN THỊ THÚY

(GDLL) - Trải qua 30 năm, quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc đã có bước phát triển toàn diện, bền vững, mang lại lợi ích cho cả hai dân tộc. Bài viết khái quát những thành tựu tốt đẹp đã gặt hái được trong quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc 30 năm qua (1992 - 2022) và chỉ ra một số hạn chế còn tồn tại. Từ đó, đưa ra định hướng, khuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hàn Quốc lên tầm cao mới.

Phát huy vai trò của các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tác giả: PGS. TS. Phạm Ngọc Linh

(TG) - Sự phát triển nhanh chóng của các tổ chức KH&CN ngoài công lập trực thuộc LHHVN đã nâng cao vai trò của LHHVN trong việc tập hợp đoàn kết trí thức KH&CN phục vụ mục tiêu CNH, HĐH đất nước. Các tổ chức KH&CN này được đánh giá là nhân tố mới ở Việt Nam trong công tác tham gia xã hội hóa các hoạt động KH&CN, GD&ĐT, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường.

Chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới hướng tới mô hình làng thông minh

Tác giả: TS ĐỖ THỊ PHƯƠNG HOA

(LLCT) - Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển của nhân loại. Chuyển đổi số trở thành xu hướng phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Bài viết phân tích chủ trương về chuyển đổi số trong nông nghiệp, nông thôn và xây dựng làng thông minh ở nước ta, chỉ ra thực trạng một số mô hình làng thông minh hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới, hướng tới nông thôn thông minh trong thời gian tới.