
Hội
thảo khoa học quốc gia “Xây dựng Quy định về công tác chính trị, tư tưởng”
The role of ideology in social life:
mechanisms of influence and transformation in the digital era in Vietnam
Abstract:Ideology
plays a particularly important role in social life, serving as a spiritual
foundation that guides cognition and regulates human behavior. The article
analyzes the role of ideology in social life, as well as the mechanisms through
which it exerts influence and undergoes transformation in the digital era. On
that basis, it presents several orientations for promoting the role of ideology
in the new context.
Keywords:Digital
era; ideology; ideological foundation of the Communist Party of Vietnam;
Vietnam.
Đặt vấn đề
Hệ tư tưởng là tập hợp các quan điểm,
tư tưởng, niềm tin, giá trị và nguyên tắc được xây dựng thành một hệ thống nhằm
giải thích cách con người nhìn nhận thế giới xã hội và định hướng hành động của
cá nhân hoặc cộng đồng. Hệ tư tưởng không xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà được
hình thành qua quá trình phát triển lâu dài của xã hội. Nó chịu tác động của
nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế - lịch sử, văn hóa, tôn giáo, giáo dục và
môi trường chính trị của từng quốc gia hoặc cộng đồng. Trong bối cảnh cách mạng
công nghệ phát triển mạnh mẽ tác động đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã
hội trong đó có hệ tư tưởng. Kỷ nguyên số tác động cả mặt tích cực cũng như mặt
hạn chế nó làm biến đổi quá trình nhận thức về con người cả tự nhiên và xã hội.
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Theo quan điểm duy vật lịch sử, đời sống tinh thần nảy
sinh trên cơ sở đời sống vật chất và các quan hệ xã hội. C.Mác
chỉ rõ không phải ý thức quyết định tồn tại xã hội, mà tồn tại xã hội quyết
định ý thức (C.Mác & Ph.Ăng-ghen.1995,
tr.15). Sự quy định này không mang tính cơ giới: ý thức xã hội có tính độc lập
tương đối và tác động trở lại hiện thực thông qua hoạt động của con người.
Hệ
tư tưởng hình thành trong quan hệ với cơ cấu lợi ích và vị trí của các giai
cấp, tầng lớp. Nhận định của C.Mác và Ph.Ăng-ghen cho rằng giai cấp nắm sức mạnh vật chất thống trị đồng
thời có khả năng chi phối đời sống tinh thần cho thấy quyền sở hữu và quyền lực
xã hội ảnh hưởng đến quá trình tạo lập, phổ biến tư tưởng (C.Mác & Ph.Ăng-ghen.
tr. 66). Tuy nhiên, tính giai cấp không đồng nghĩa mọi
mệnh đề tư tưởng đều là sự xuyên tạc. Một hệ tư tưởng có thể khái quát lợi ích
rộng lớn khi phản ánh đúng xu hướng phát triển, nhận diện mâu thuẫn chủ yếu và
đề xuất cách giải quyết phù hợp với tiến bộ xã hội.
Chủ nghĩa Mác cho rằng trong xã hội có giai
cấp, hệ tư tưởng mang tính giai cấp, phản ánh những lợi ích của giai cấp. Cuộc
đấu tranh giữa các lợi ích giai cấp tất yếu biểu hiện thành đấu tranh tư tưởng
và hình thành hệ tư tưởng. Giai cấp thống trị trình bày lợi ích của mình như là
lợi ích của xã hội, luôn áp đặt hệ tư tưởng của mình cho toàn xã hội. Giai cấp
cách mạng có hệ tư tưởng đối lập với hệ tư tưởng của giai cấp phản cách mạng.
Điều kiện xã hội cần thiết để cho hệ tư tưởng phản ánh hiện thực một cách khách
quan là lợi ích giai cấp phù hợp với nhu cầu của tiến bộ xã hội. Do đó, xét về
bản chất, hệ tư tưởng luôn mang tính giai cấp, phản ánh quyền lợi của một giai
cấp hay một nhóm xã hội nhất định trong xã hội có giai cấp. Theo quan điểm của
chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ tư tưởng là một bộ phận của ý thức xã hội nên
chịu sự quy định của tồn tại xã hội.
Ý
thức xã hội là phạm trù rộng. Tâm lý xã hội biểu hiện trực tiếp qua tình cảm,
tâm trạng, tập quán; hệ tư tưởng là sự khái quát lý luận, có hệ thống. Thế giới
quan bao quát tự nhiên, xã hội và con người; hệ tư tưởng tập trung giải thích,
đánh giá và định hướng trật tự xã hội từ những lợi ích nhất định. Lý luận chính
trị là tri thức về quyền lực và thiết chế, chỉ trở thành bộ phận của hệ tư
tưởng khi gắn với hệ giá trị, chủ thể và chương trình hành động. Dư luận xã hội
là đánh giá đang lưu hành, không nhất thiết có tính hệ thống.
Theo
đó, hệ tư tưởng có bốn dấu hiệu: tính hệ thống lý luận; tính định hướng giá
trị; mối liên hệ với lợi ích và chủ thể xã hội; khả năng định hướng thể chế và
hành động. Có thể hiểu hệ tư tưởng là hệ thống tương đối nhất quán các quan
niệm, giá trị, biểu tượng và mục tiêu, phản ánh lợi ích cùng kinh nghiệm của
những lực lượng xã hội nhất định, cung cấp cách giải thích hiện thực, xác lập
trật tự được coi là chính đáng và định hướng hoạt động nhằm duy trì hoặc cải
biến trật tự đó.
2. Vai trò cơ
bản của hệ tư tưởng với đời sống xã hội
Để
hạn chế sự chồng lấn, các vai trò được phân nhóm theo vị trí trong chuỗi tác
động: nhận thức - chuẩn mực thuộc khâu khái quát và định hướng giá trị; chính
danh - liên kết gắn với thể chế hóa và xã hội hóa; huy động - cải biến thể hiện
ở hành động và phản hồi thực tiễn.
Thứ nhất, vai trò nhận thức - chuẩn mực.
Hệ
tư tưởng cung cấp khung nhận thức để lựa chọn và giải thích hiện thực: xác định
vấn đề trung tâm, nguyên nhân, chủ thể có trách nhiệm và giải pháp được coi là
hợp lý. Cùng một hiện tượng chênh lệch thu nhập có thể được nhìn từ cạnh tranh
thị trường, bất bình đẳng cơ hội, quan hệ sở hữu hoặc chất lượng thể chế; mỗi
cách lý giải dẫn tới chương trình hành động khác nhau.
Trên
cơ sở đó, hệ tư tưởng xác lập chuẩn mực và thứ tự ưu tiên giữa các giá trị như
tự do, bình đẳng, trách nhiệm, đoàn kết, phẩm giá con người và phát triển bền
vững. Vai trò này không xóa bỏ xung đột giá trị mà cung cấp nguyên tắc xử lý,
chẳng hạn giữa tăng trưởng với bảo vệ môi trường, giữa tự do kinh doanh với
quyền lợi người lao động. Sức sống của chức năng này phụ thuộc vào năng lực
giải thích vấn đề mới và mức phù hợp của hệ giá trị với nhu cầu phát triển.
Thứ hai, vai trò chính danh - liên kết.
Khi
được thể chế hóa, hệ tư tưởng giải thích vì sao quyền lực và thiết chế tồn tại,
vận hành theo nguyên tắc nào và phục vụ mục tiêu gì. Tính chính danh không chỉ
đến từ mục tiêu tuyên bố mà còn từ sự công bằng của quy trình, hiệu quả của kết
quả và trách nhiệm giải trình. Khoảng cách kéo dài giữa giá trị với hoạt động
thực tế có thể làm suy giảm niềm tin và sự tự nguyện tuân thủ.
Hệ
tư tưởng đồng thời tạo dựng bản sắc, liên kết các lợi ích khác biệt trong cộng
đồng chính trị. Đồng thuận không phải sự giống nhau tuyệt đối hay im lặng trước
khác biệt, mà là sự chấp nhận có cơ sở đối với các nguyên tắc nền tảng và
phương thức giải quyết bất đồng. Khi bản sắc bị tuyệt đối hóa hoặc khác biệt bị
biến thành đối kháng, chức năng liên kết có thể chuyển thành loại trừ và phân
cực.
Thứ ba, vai trò huy động - cải biến.
Hệ
tư tưởng chuyển những nhu cầu và lợi ích phân tán thành mục tiêu chung, xác
định chủ thể, phương thức và trạng thái xã hội mong muốn; nhờ đó tập hợp lực
lượng và tạo động lực cho hành động. Tuy nhiên, cơ chế huy động cũng có thể bị
lợi dụng để kích thích thù hận khi vấn đề phức tạp bị giản lược thành đối lập
tuyệt đối giữa “chúng ta” và “họ”.
Những
giá trị đã được xác lập còn trở thành tiêu chuẩn phê phán hiện thực và thúc đẩy
sửa đổi thiết chế. Khả năng tự phê bình, tiếp nhận tri thức mới và sửa chữa sai
lầm không đối lập với sự kiên định về mục tiêu, mà giúp hệ tư tưởng tránh giáo
điều. Chức năng huy động - cải biến phải được đánh giá bằng nội dung nhân văn,
tính khoa học, mức độ tham gia tự nguyện và hệ quả xã hội thực tế.
Tác
động của hệ tư tưởng trong đời sống xã hội
Hệ
tư tưởng không tác động trực tiếp đến hành vi xã hội mà thông qua các khâu thể
chế hóa, truyền thông, tiếp nhận và chuyển hóa thành thực tiễn. Từ quan hệ giữa
tồn tại xã hội với ý thức xã hội và luận điểm của V.I. Lênin về vai trò của lý
luận đối với phong trào thực tiễn (V.I.Lênin, tr. 30), bài viết đề xuất chuỗi: điều kiện vật
chất và lợi ích; khái quát thành hệ quan niệm, giá trị; thể chế hóa thành pháp
luật, chính sách, chuẩn mực; truyền thông và xã hội hóa; tiếp nhận, diễn giải
hoặc phản bác; hành động; phản hồi từ kết quả thực tiễn. Đây
là khung tổng hợp do bài viết xây dựng.
Bốn
nhân tố trung gian quyết định mức độ chuyển hóa là chất lượng thiết chế; uy tín
và tính nêu gương của chủ thể truyền đạt; cấu trúc môi trường truyền thông;
trải nghiệm cùng năng lực nhận thức của người tiếp nhận. Sự nhất quán giữa giá
trị, thể chế và kết quả có thể củng cố niềm tin; ngược lại, thiết chế kém hiệu
quả, chủ thể thiếu uy tín, thông tin bị thao túng hoặc trải nghiệm trái ngược
với thông điệp đều làm suy giảm sức thuyết phục. Khung này được sử dụng xuyên
suốt các phần tiếp theo.
3. Biến đổi của
hệ tư tưởng và cơ chế tác động trong kỷ nguyên số
3.1. Biến đổi cấu trúc truyền thông và cách thức tiếp nhận
Công
nghệ số làm thay đổi mạnh khâu truyền thông và xã hội hóa. Cá nhân, nhóm nhỏ và
mạng lưới xuyên quốc gia đều có thể tiếp cận công chúng rộng; hệ tư tưởng không
chỉ hiện diện trong các học thuyết, quan điểm, văn kiện chính trị mà còn được
lồng vào video ngắn, hình ảnh, quảng cáo, trò chơi và thiết kế giao diện. Cơ
hội tham gia tăng lên, nhưng số lượng nội dung không đồng nghĩa với chất lượng
thông tin.
Thuật
toán phân phối dòng thông tin theo dữ liệu hành vi khiến công chúng không còn
cùng tiếp xúc với một không gian thông tin. Tổng quan nghiên cứu quốc tế cho
thấy truyền thông số có thể mở rộng tham gia, đồng thời liên hệ với phân cực,
suy giảm niềm tin và thao túng thông tin trong những điều kiện nhất định (Lorenz - Spreen, 2023). “Quyền
lực nền tảng” là khả năng kiểm soát dữ liệu, quyền tiếp cận, thứ tự hiển
thị và mức độ nhìn thấy của nội dung; “bất bình đẳng thuật toán” là
chênh lệch có tính hệ thống về cơ hội tiếp cận hoặc hiển thị do dữ liệu, mô
hình và thiết kế hệ thống tạo ra. Đây là các cơ chế định hình nội dung nào được
ưu tiên và chủ thể nào có ảnh hưởng.
Cảm
xúc trở thành biến số có thể đo lường và tối ưu hóa theo thời gian thực. Tin
sai trên mạng xã hội có xu hướng lan nhanh, xa và rộng hơn tin đúng, đặc biệt
với nội dung chính trị (Vosoughi, S,
2018,
tr. 1146 -1151). Trí tuệ nhân tạo tạo sinh tiếp tục hạ thấp chi phí làm
giả văn bản, hình ảnh, giọng nói và video. Rủi ro không chỉ là tin vào nội dung sai mà còn là sự hoài nghi đối với cả bằng
chứng xác thực.
3.2. Biến đổi uy tín chủ thể và vòng phản hồi thực tiễn
Môi
trường số không xóa bỏ vai trò của điều kiện vật chất, lợi ích và thiết chế,
nhưng rút ngắn vòng phản hồi và làm uy tín chủ thể dễ bị kiểm nghiệm hơn. Công
chúng vừa tiếp nhận, vừa đối chiếu và sản xuất nội dung; thông điệp nhanh chóng
được so sánh với dữ liệu công khai và trải nghiệm thực tế. Vì vậy, sự nhất quán
giữa lời nói, hành vi và kết quả quản trị trở thành điều kiện quan trọng của
sức thuyết phục.
Chuỗi
tác động có thể bị sai lệch ở nhiều khâu: dữ liệu đầu vào thiên lệch; lợi ích
đứng sau thông điệp bị che giấu; thuật toán thiếu minh bạch; người dùng bị khép
trong môi trường đồng quan điểm; hoặc tương tác nhân tạo tạo cảm giác về đồng
thuận không có thật. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng không thể chỉ là tăng số
lượng thông điệp hay xử lý nội dung riêng lẻ, mà phải đồng thời nâng chất lượng
lý luận, tính nhất quán của thiết chế, độ tin cậy của chủ thể, tính toàn vẹn
thông tin và năng lực kiểm chứng của công dân.
4. Những
định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh
chuyển đổi số
4.1. Định hướng giá trị và thể chế hóa trong
phát triển đất nước
Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
là nền tảng tư tưởng của Đảng. Nền tảng đó định hướng quan hệ giữa
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây
dựng quan hệ xã hội tiến bộ; giữa tăng trưởng với công bằng và phát triển con
người. Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định độc lập phải gắn với tự do, hạnh phúc
của nhân dân (Hồ Chí
Minh, 2011, tr. 64), qua đó đặt lợi ích chính đáng của
nhân dân vào vị trí thước đo của giá trị chính trị.
Văn
kiện Đại hội XIV của Đảng
nhấn mạnh: “Bảo đảm tiến bộ, công bằng
xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và an ninh con người”
(Đảng Cộng sản Việt Nam,
2026, tr. 108). Yêu cầu này vừa định hướng nhận thức - chuẩn mực, vừa
phải được chuyển thành tiêu chí phân bổ nguồn lực, thiết kế chính sách và đánh
giá kết quả phát triển.
Chuyển
đổi số đặt ra vấn đề về sở hữu và sử dụng dữ liệu, quyền lực nền tảng, bất bình
đẳng thuật toán, việc làm và phân phối lợi ích công nghệ. Nghị quyết số
57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột
phá quan trọng hàng đầu (Bộ Chính trị, 2024, tr. 2). Nghiên cứu lý luận vì vậy phải chỉ
ra bản chất kinh tế - xã hội và quan hệ lợi ích trong các biến đổi công nghệ,
thay vì chỉ coi đây là bài toán kỹ thuật.
4.2. Yêu cầu về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
trong không gian số
Nghị
quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu tăng
cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch (Bộ Chính trị,
2018, tr.1). Trong không gian số, nhiệm vụ này cần kết hợp nâng cao
nội dung lý luận, báo chí chuyên nghiệp, phản hồi chính sách kịp thời, giáo dục
truyền thông và trách nhiệm nền tảng; qua đó tăng sức thuyết phục và khả năng
chống chịu xã hội, thay vì chỉ xử lý từng thông tin riêng lẻ.
Để
tránh phân loại tùy nghi, có thể phân biệt góp ý, phản biện chính sách với
thông tin sai lệch, xuyên tạc theo bốn tiêu chí: (1) căn cứ sự thật - phản biện
dùng thông tin có thể kiểm chứng, còn thông tin sai lệch dựa vào dữ liệu bịa
đặt, cắt ghép hoặc tách khỏi bối cảnh; (2) mục đích - phản biện nhận diện hạn
chế, đề xuất hoàn thiện, còn xuyên tạc cố ý quy kết sai bản chất hoặc phủ nhận
chứng cứ; (3) phương thức - phản biện công khai lập luận, nguồn và trách nhiệm
phát ngôn, trong khi thao túng thường che giấu nguồn, giả mạo chủ thể hoặc
khuếch đại nhân tạo; (4) hành vi - góp ý tuân thủ pháp luật, không kích động
bạo lực, chia rẽ cộng đồng hay xâm hại quyền hợp pháp. Việc nhận diện không thể
chỉ dựa vào mức độ khác biệt với quan điểm chính thức.
Phản
hồi chính đáng được lắng nghe và chuyển thành điều chỉnh chính sách có thể củng
cố tính chính danh; ngược lại, vấn đề có thật không được giải thích hoặc xử lý
sẽ làm tăng khoảng cách giữa giá trị với trải nghiệm xã hội. Do đó, phản bác
thuyết phục phải kết hợp dữ liệu chính xác, lập luận rõ ràng, thái độ thẳng
thắn với hạn chế và kết quả quản trị có thể kiểm chứng.
4.3. Định hướng
phát huy vai trò của hệ tư tưởng trong giai đoạn mới
Các định hướng cần tương ứng với bốn nhân tố trung gian
của chuỗi tác động.
Thứ
nhất, nâng cao năng lực giải thích khoa học của
lý luận. Nghiên cứu phải xuất phát từ mâu thuẫn và quan hệ lợi ích, lấy lý luận
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, tiếp thu có chọn lọc tri thức
liên ngành. Khái niệm mới chỉ nên dùng khi nội hàm và cấp độ phân tích rõ ràng;
ưu tiên làm sáng tỏ tác động của dữ liệu, nền tảng và trí tuệ nhân tạo đối với
sở hữu, lao động, phân phối và quyền lực xã hội.
Thứ
hai, bảo đảm sự thống nhất giữa giá trị, thiết
chế và hành vi. Các giá trị dân chủ, công bằng, lấy nhân dân làm trung tâm phải
được cụ thể hóa trong cơ hội phát triển, dịch vụ công, minh bạch và trách nhiệm
giải trình. Nêu gương phải gắn với kiểm soát quyền lực và xử lý trách nhiệm. Có
thể đánh giá sức thuyết phục qua ba “phép thử”: năng lực giải thích vấn đề mới;
mức nhất quán giữa giá trị với hoạt động thiết chế; kết quả phát triển mà người
dân nhận biết.
Thứ
ba, phát triển truyền thông có đối thoại và hệ
sinh thái thông tin có tính toàn vẹn. Cần giải thích căn cứ, lắng nghe phản
hồi, công bố kịp thời những gì đã biết, chưa rõ và tiến độ xác minh. Đồng thời,
tăng trách nhiệm của nền tảng đối với quảng cáo chính trị, tài khoản tự động,
nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra và cơ chế đề xuất; phát triển dữ liệu công
mở và cơ chế kiểm chứng.
Thứ
tư, nâng cao năng lực tiếp nhận và đổi mới đánh
giá. Giáo dục lý luận chính trị phải giúp người học phân tích quan hệ lợi ích,
quyền lực, mâu thuẫn xã hội; giáo dục truyền thông số trang bị kỹ năng kiểm tra
nguồn, đánh giá bằng chứng, hiểu thuật toán và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Ngoài
chỉ tiêu hoạt động, cần đo mức độ hiểu đúng, niềm tin có căn cứ, khả năng đối
thoại, năng lực chống chịu trước thông tin sai lệch và mức phù hợp giữa thông
điệp với trải nghiệm.
Kết luận
Về
lý luận, hệ tư tưởng là bộ phận có tính hệ thống của ý thức xã hội, gắn với lợi
ích, giá trị và định hướng hành động; khác với tâm lý xã hội, thế giới quan, lý
luận chính trị và dư luận xã hội. Chuỗi từ điều kiện vật chất, lợi ích đến khái
quát lý luận, thể chế hóa, truyền thông, tiếp nhận, hành động và phản hồi cho
phép tổ chức vai trò của hệ tư tưởng thành ba nhóm: nhận thức - chuẩn mực,
chính danh - liên kết, huy động - cải biến.
Trong
kỷ nguyên số, nền tảng, thuật toán và trí tuệ nhân tạo làm thay đổi cấu trúc
truyền bá, uy tín chủ thể, cách tiếp nhận và tốc độ phản hồi, tạo cả cơ hội
tham gia lẫn nguy cơ phân mảnh, thao túng và khủng hoảng niềm tin. Đối với Việt
Nam, phát huy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn đổi mới lý luận với
chất lượng thể chế, nêu gương, trách nhiệm giải trình, truyền thông có đối
thoại, tính toàn vẹn thông tin và năng lực số. Sức thuyết phục được củng cố khi
lý luận giải đáp vấn đề mới, giá trị chuyển thành chính sách nhất quán và kết
quả được nhân dân kiểm nghiệm.
Tài liệu tham khảo
Bộ
Chính trị (2018).
Nghị quyết số
35-NQ/TW ngày 22-10-2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Bộ
Chính trị (2024).
Nghị quyết số
57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
C.Mác& Ph.Ăng-ghen (1995). Toàn tập(Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia.
C.Mác & Ph.Ăng-ghen (1993). Toàn tập(Tập
13). Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng
Cộng sản Việt Nam (2026). Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I).
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ
Chí Minh (2011).
Toàn tập (Tập 4). Nxb
Chính trị quốc gia - Sự thật.
Kemp,S. (2025). Digital
2025: Vietnam. DataReportal.
https://datareportal.com/reports.
Lorenz-Spreen,
P., Oswald, L., Lewandowsky, S., & Hertwig, R. (2023). “A systematic review of worldwide
causal and correlational evidence on digital media and democracy”. Nature
Human Behaviour, https://doi.org/10.1038/s41562-022-01460-1.
Vosoughi,
S., Roy, D., & Aral, S. (2018). “The spread of true and false news online”. Science
359(6380).
https://doi.org/10.1126/science.aap9559.
V.I. Lênin (2005). Toàn tập(Tập 6). Nxb
Chính trị quốc gia.