Thứ Năm, ngày 15/12/2022, 11:31

Phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc - một số vấn đề đặt ra

Tạ Thị Đoàn
Học viện Chính trị khu vực I

(GDLL) - Phát triển du lịch cộng đồng đã và đang mang lại nhiều lợi ích cho các tỉnh vùng Tây Bắc, qua đó góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc thời gian qua, bài viết chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc trong thời gian tới.

Từ khóa: Du lịch cộng đồng; sinh kế bền vững; vùng Tây Bắc.

Lễ cấp sắc của người Dao ở tỉnh Lai Châu hấp dẫn du khách

(Ảnh: https://nhandan.vn)

Đặt vấn đề

Vùng Tây Bắc Việt Nam gồm 6 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái. Vùng Tây Bắc sở hữu nguồn tiềm năng du lịch rất lớn với thiên nhiên kỳ vĩ, văn hóa đặc sắc và lịch sử hào hùng. Thực tiễn phát triển du lịch ở các địa phương vùng Tây Bắc thời gian qua cho thấy, du lịch cộng đồng (DLCĐ)đang được coi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi ích góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Tuy nhiên, những bước phát triển của DLCĐ Tây Bắc so với định hướng chiến lược và tiềm năng ở các tỉnh vùng Tây Bắc hiện nay còn bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định: Phát triển DLCĐ chưa tương xứng với tiềm năng; công tác quảng bá, xúc tiến, đầu tư phát triển du lịch chưa đạt hiệu quả mong đợi; chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du khách còn hạn chế; sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và các đơn vị tổ chức DLCĐ chưa chặt chẽ, bản sắc văn hóa đang dần bị mai một, môi trường sinh thái bị ảnh hưởng bởi hoạt động du lịch không lành mạnh... Thực tiễn đó cho thấy, việc nghiên cứu cung cấp luận cứ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn nhằm phát triển DLCĐ tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam trong thời gian tới là hết sức cần thiết.

1. Một số vấn đề lý luận về phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững

Sinh kế chính là hoạt động kiếm sống của con người thông qua việc sử dụng các nguồn lực bao gồm: Nguồn nhân lực, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính và nguồn lực xã hội. Khi hoạt động sinh kế thích ứng, hoặc tránh được các tác động tiêu cực từ môi trường dễ bị tổn thương, đồng thời bảo đảm duy trì, phát triển được các nguồn lực trong cả hiện tại và tương lai thì được coi là sinh kế bền vững[1].

Ở Việt Nam, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác giảm nghèo được thực hiện thông qua việc xây dựng mô hình sinh kế bền vững là nhiệm vụ cấp thiết. Trong các mô hình sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, DLCĐ nổi lên như một mô hình kiểu mẫu nhằm cải thiện sinh kế, tạo nguồn thu nhập bền vững và cơ hội việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số. Theo quy định tại Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018), “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi”[4].

Phát triển DLCĐ tạo sinh kế bền vững mang lại những lợi ích sau:

Một là, phát triển hoạt động du lịch có sự thúc đẩy tham gia tích cực của người dân địa phương. Cộng đồng địa phương là người “cung ứng” từ các giá trị tài nguyên du lịch để “hỗ trợ” du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức của mình khi tiếp cận hệ thống tài nguyên du lịch tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương. Cộng đồng địa phương ngày càng được tăng cường về khả năng tổ chức, vận hành và thực hiện các hoạt động, phát triển các sản phẩm du lịch phục vụ du khách. Từ đó, cộng đồng ngày càng phát huy vai trò làm chủ của mình.

Hai là, phát triển hoạt động du lịch phải thu hút được cộng đồng địa phương và đem lại lợi ích, tạo cơ hội việc làm và cải thiện điều kiện sống của họ. Du khách là nhân tố bên ngoài, là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế và sẽ có những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị tài nguyên du lịch (về môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn) khi đến với một cộng đồng địa phương cụ thể. Việc phát triển du lịch tại cộng đồng sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, giao lưu văn hóa, quảng bá hình ảnh địa phương, mở rộng thị trường các sản phẩm phục vụ du khách của cộng đồng. Ngoài ra, người dân địa phương được mở rộng tầm hiểu biết về đặc điểm tính cách của du khách cũng như có cơ hội nắm bắt các thông tin, tri thức bên ngoài do du khách mang lại.

Ba là, phát triển DLCĐ gắn liền với phát triển bền vững. Hiện nay, DLCĐ đang được coi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi ích cho người dân địa phương, bên cạnh lợi ích kinh tế thì DLCĐ còn giúp người dân bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, bảo tồn và phát huy những nét văn hóa độc đáo của địa phương.

Như vậy, DLCĐ vừa khai thác vừa tác động lên các nguồn lực sinh kế của cư dân địa phương. Một trong những tác động tích cực đáng kể của loại hình du lịch này là góp phần tạo ra sinh kế mới hoặc chuyển đổi từ sinh kế nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp sang dịch vụ du lịch và các hoạt động phi nông nghiệp.

2. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc và một số vấn đề đặt ra

2.1. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc

Trong nhiều năm qua, kinh tế - xã hội (KT-XH) ở vùng Tây Bắc đã có sự phát triển, hạ tầng được cải thiện và đời sống của người dân được nâng cao hơn, theo đó du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng cũng đã có bước phát triển khả quan, biểu hiện ở sự tăng trưởng những chỉ tiêu về doanh thu du lịch lữ hành, số lượt khách vận chuyển.

Bảng 1: Doanh thu du lịch lữ hành theo giá hiện hành của các tỉnh vùng Tây Bắc, giai đoạn 2017-2021

Đơn vị tính: Tỷ đồng

 Năm

2017

2018

2019

2020

2021

Lào Cai

162,90

179,10

189,00

93,60

32,70

Yên Bái

1,50

2,70

3,00

1,50

0,70

Điện Biên

..

..

..

1,30

0,80

Lai Châu

2,20

2,20

2,40

1,50

1,00

Sơn La

14,00

14,60

15,00

14,80

6,60

Hòa Bình

2,00

2,20

2,40

1,50

1,20

Toàn Vùng*

182,6

200,8

211,8

114,2

43

Cả nước

36.111,80

40.371,20

44.669,90

16.492,00

6.596,19

Tỷ lệ so với cả nước (%) **

0,51

0,50

0,47

0,69

0,65

 

Nguồn: https://www.gso.gov.vn và tính toán của tác giả (*, **).

Theo số liệu bảng 1, doanh thu du lịch lữ hành trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc từ năm 2017 đến năm 2019 đều tăng, riêng năm 2020 và năm 2021 có sự giảm đáng kể do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID19. Mặc dù so với cả nước thì doanh thu du lịch lữ hành của các tỉnh vùng Tây Bắc chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ dưới 1%, tuy nhiên, một tín hiệu đáng mừng là tỷ lệ này có xu hướng tăng trong thời gian gần đây. Hiện nay, du khách đến vùng Tây Bắc có mức chi tiêu còn thấp, chủ yếu do các dịch vụ chất lượng chưa cao và chưa thực sự hấp dẫn. Những số liệu trên cho thấy, phát triển du lịch ở vùng Tây Bắc nhìn chung còn ở mức thấp so với nhiều khu vực khác trên cả nước.

Bảng 2: Số lượt hành khách vận chuyển của các tỉnh vùng Tây Bắc, giai đoạn 2017-2021

Đơn vị tính: Triệu lượt khách

Năm

2017

2018

2019

2020

2021

Lào Cai

6,80

7,63

8,80

3,40

3,30

Yên Bái

8,10

8,51

8,70

8,20

6,40

Điện Biên

1,30

1,56

1,60

1,30

1,00

Lai Châu

1,30

1,43

1,70

1,40

1,10

Sơn La

3,80

4,40

4,80

3,60

2,90

Hòa Bình

5,60

5,94

7,30

3,60

3,40

Toàn Vùng*

26,9

29,47

32,9

21,5

18,1

Cả nước

3.852,10

4.233,69

4.713,60

3.413,20

2.530,10

Tỷ lệ so với cả nước (%) **

0,70

0,70

0,70

0,63

0,72

 Nguồn: https://www.gso.gov.vn và tính toán của tác giả (*, **).

Theo số liệu bảng 2, tương tự như đối với doanh thu du lịch lữ hành thì số lượt khách vận chuyển của các tỉnh Tây Bắc có xu hướng tăng qua các năm, riêng năm 2020 và 2021 do ảnh hưởng của dịch bệnh 19 nên số lượt khách giảm đáng kể. 

Những năm qua, cộng đồng địa phương các tỉnh vùng Tây Bắc đã tham gia cung cấp đa dạng các loại hình sản phẩm DLCĐ cho khách du lịch, điển hình là:

- Tham quan, tìm hiểu bản làng và văn hóa truyền thống dân tộc: Đây là một trong những sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng Tây Bắc trên cơ sở khai thác các không gian văn hóa truyền thống gắn với các cảnh quan tự nhiên;

- Lưu trú tại các homestay: Dịch vụ này rất phổ biến ở vùng Tây Bắc. Khách du lịch thường lựa chọn ở tập thể trong những ngôi nhà sàn của người dân. Loại nhà sàn phổ biến nhất là của dân tộc Thái;

- Thưởng thức ẩm thực địa phương (các món ẩm thực của các dân tộc Mường, Thái, Tày, Dao...) với những nét đặc trưng, khác biệt hẳn so với các vùng khác trên cả nước;

- Hoạt động trải nghiệm cuộc sống cộng đồng: Du khách có cơ hội làm những công việc thường ngày của người dân địa phương như câu cá trong hồ, trồng hoa, trồng lúa với bà con trong bản (bản Hụm, thành phố Sơn La); trồng, chăm sóc và thu hoạch lúa nước, thu hoạch ngô trên nương (bản Mện, Điện Biên); dệt vải, làm cùng một số công việc đồng áng tùy theo mùa vụ như hái mận, hái chè, vắt sữa bò, trồng và chăm sóc hoa... (bản Áng, Mộc Châu - Sơn La)...

Với sự tăng trưởng lượng khách du lịch đến các điểm DLCĐ, phát triển DLCĐ ở các tỉnh vùng Tây Bắc đã có những đóng góp nhất định đến phát triển KT-XH và nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn, cụ thể:

 - Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế: Sự phát triển DLCĐ ở các tỉnh Tây Bắc đã có đóng góp nhất định vào tổng thu du lịch của địa phương, trong đó Lào Cai là địa phương có tỷ lệ đóng góp của tổng thu từ du lịch cao nhất và thấp nhất là Điện Biên (Xem số liệu bảng 1).

- Tạo ra thu nhập và việc làm, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho người dân địa phương: Sự phát triển DLCĐ vùng Tây Bắc những năm qua đã góp phần tăng thu nhập và đóng góp vào nỗ lực xoá đói, giảm nghèo của địa phương. Tại Bản Lác (Mai Châu, Hoà Bình), đến nay có gần 80 hộ đăng ký kinh doanh dịch vụ du lịch. Cụ thể bao gồm loại hình: Đón tiếp khách ngủ, nghỉ, ăn uống, dệt thổ cẩm, hàng thủ công truyền thống… nhờ đó, tạo được đa dạng hoạt động sinh kế cho cộng đồng địa phương, tăng nguồn thu nhập cho người lao động[3].

Bên cạnh những đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo ra thu nhập và việc làm, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho người dân địa phương, sự phát triển DLCĐ có những đóng góp nhất định vào bảo vệ tài nguyên, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa bản địa. Sự phát triển của DLCĐ đã đem lại cơ hội phục hồi, phát triển các nghề truyền thống; khôi phục các phong tục và các nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Tuy nhiên, do đặc thù về địa lý, địa hình núi cao, trải rộng, điều kiện giao thông đi lại giữa các điểm đến khó khăn và trình độ phát triển du lịch chưa đồng đều trong vùng, hướng khai thác sản phẩm còn trùng lắp chưa mang tính đặc thù, hạn chế trong khai thác tài nguyên du lịch nên DLCĐ các tỉnh vùng Tây Bắc thời gian qua mới chỉ phát triển tập trung vào một số khu vực, địa phương đã có “tiếng” trên bản đồ du lịch dẫn đến tình trạng quá tải vào mùa cao điểm trong khi nhiều địa bàn trong vùng mặc dù có tiềm năng nhưng chưa thu hút được du khách ảnh hưởng tới phát triển du lịch bền vững[2]. Mặc dù có nhiều sản phẩm nhưng các sản phẩm DLCĐ ở các tỉnh vùng Tây Bắc nhìn chung còn mang tính đại trà, chưa thực sự gắn với bản sắc của người dân địa phương, dẫn đến việc không tạo được điểm nhấn để thu hút khách du lịch.

2.2. Một số vấn đề đặt ra

Thứ nhất, công tác quy hoạch, định hướng và hệ thống chính sách hỗ trợ cụ thể cho cộng đồng chưa được quan tâm đúng mức nên nhiều nơi trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc vẫn còn tình trạng phát triển DLCĐ theo hướng tự phát.

Thứ hai, hệ thống hạ tầng giao thông chưa đồng bộ. Hầu hết các tuyến, điểm DLCĐ chưa được đầu tư hoàn thiện hạ tầng du lịch thiết yếu theo quy định như: Đường giao thông, bãi đỗ xe, hệ thống cấp thoát nước, nhà vệ sinh công cộng, điểm dừng chân ngắm cảnh và giới thiệu sản phẩm địa phương, hệ thống biển báo và biển chỉ dẫn du lịch, nhà du lịch cộng đồng.... gây khó khăn cho du khách và các đơn vị lữ hành trong tiếp cận điểm đến và phục vụ du khách tại điểm đến.

Thứ ba, việc xây dựng sản phẩm cho DLCĐ còn đơn điệu chưa tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ đáp ứng nhu cầu của du khách dẫn đến sự lưu trú của du khách rút ngắn làm giảm nguồn thu của cư dân địa phương. Các nghề thủ công truyền thống mặc dù bước đầu đã được khai thác phục vụ du lịch nhưng mới chỉ dừng lại ở những mô hình thí điểm nên chưa tạo được sức lan tỏa vì vậy cần được đầu tư nhân rộng để nhiều cộng đồng các dân tộc thiểu số khác cũng có cơ hội tham gia và phát triển các ngành nghề truyền thống của mình, tạo sản phẩm, tăng thu nhập.

Thứ tư, nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực DLCĐ ngày càng tăng nhưng chất lượng rất hạn chế vì chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ.

Thứ năm, nguồn vốn hỗ trợ cho các hộ dân phát triển DLCĐ còn khá hạn chế. Vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và từ các tổ chức đối với DLCĐ chủ yếu tập trung vào đào tạo tập huấn trong khi người dân cần có thêm nguồn lực tài chính để đầu tư phát triển loại hình DLCĐ nhằm làm phong phú dịch vụ, đáp ứng nhu cầu khám phá và trải nghiệm của du khách. Do vậy, các hộ gia đình thu nhập thấp ít có cơ hội tham gia vào các hoạt động DLCĐ do không đủ nguồn lực tài chính để đầu tư.

Thứ sáu, vấn đề xử lý nước thải, rác thải, đặc biệt là nước thải và rác thải sinh hoạt tại các điểm du lịch chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường và gây ra nhiều phản cảm đối với du khách.

Thứ bảy, vai trò và sự phối hợp của chính quyền trong hỗ trợ cho hình thành mối quan hệ liên kết giữa các chủ thể tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ phục vụ cho DLCĐ chưa hiệu quả, công tác quản lý chưa chặt chẽ dẫn đến nhiều nơi phát triển DLCĐ gây tổn hại đến môi trường và xuất hiện những dịch vụ biến tướng, gây tác động xấu đến những giá trị văn hóa bản địa truyền thống.

3. Một số giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới

Thứ nhất, quan tâm đến công tác quy hoạch, định hướng phát triển DLCĐ của địa phương, đặc biệt chính quyền địa phương cần xây dựng đề án riêng về phát triển DLCĐ thay vì lồng ghép trong các quy hoạch. Gắn đề án phát triển du lịch của các địa phương với Chiến lược phát triển du lịch quốc gia nói chung và chiến lược phát triển du lịch của các tỉnh trong vùng nói riêng.

Thứ hai, sớm đầu tư, xây dựng hệ thống đường giao thông kết nối các điểm DLCĐ với hệ thống giao thông nội tỉnh được thông suốt và thuận lợi. Đặc thù của các điểm DLCĐ trên địa bàn các tỉnh vùng Tây Bắc là ở vùng sâu, vùng xa nên việc di chuyển của du khách chưa được thuận tiện, vì vậy cần phải được ưu tiên đầu tư để tạo điều kiện cho du khách dễ dàng tiếp cận với các địa điểm du lịch.

Thứ ba, cần có chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển đối với các chủ thể kinh doanh DLCĐ như: Chính sách hỗ trợ sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, sản xuất nông sản sạch, nông sản bản địa để phục vụ cho các điểm DLCĐ... qua đó góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch trên địa bàn.

Thứ tư, có chính sách thu hút đầu tư đào tạo nâng cao năng lực cho cộng đồng các địa phương, tập trung phát triển những kỹ năng và kiến thức căn bản về du lịch, quản lý kinh doanh; nâng cao các kỹ năng nghề cho người dân.

Thứ năm, cần có cơ chế để các hộ phát triển DLCĐ có thể tiếp cận với nguồn vốn của chính sách xóa đói, giảm nghèo, đơn giản thủ tục pháp lý và giảm thiểu thời gian giải ngân, đồng thời số tiền đủ lớn để tạo cho người dân cú hích trong phát triển cơ sở lưu trú hay các cơ sở sản xuất nghề thủ công. Thành lập quỹ hỗ trợ các hoạt động cộng đồng với nguồn thu được trích trực tiếp từ hoạt động du lịch của địa phương thu trên mỗi du khách.

Thứ sáu, tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân và khách du lịch trong công tác vệ sinh công cộng, bảo vệ môi trường thôn bản, không vứt rác bừa bãi. Khuyến khích người dân sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường gắn với tự nhiên như tre, gỗ... trong thiết kế các sản phẩm, công cụ phục vụ cho phát triển DLCĐ.

Thứ bảy, tranh thủ sự hỗ trợ của chính quyền, các cơ quan quản lý chức năng, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh du lịch bên ngoài cộng đồng về vốn, kinh nghiệm và tư vấn về kiến thức, kỹ năng làm du lịch. Chủ động triển khai các hoạt động kinh doanh theo những tư vấn, hướng dẫn của họ đảm bảo đạt hiệu quả cao nhất.

Kết luận

Sinh kế bền vững được xem là vấn đề cốt lõi của cộng đồng để cải thiện đời sống người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Bắc. Phát triển DLCĐ chính là chìa khóa góp phần tạo sinh kế bền vững: Cải thiện thu nhập cho cộng đồng địa phương, nâng cao trình độ dân trí cho cộng đồng, nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch văn hóa, bảo đảm phát triển bền vững cho các tỉnh Tây Bắc. Do đó, trong thời gian tới các tỉnh vùng Tây Bắc cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trên nhằm góp phần thúc đẩy phát triển DLCĐ tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân trên địa bàn.

Tài liệu tham khảo:

[1] Nguyễn Hồng Hải (2020), Phát triển mô hình sinh kế bền vững dựa trên tiềm năng tri thức bản địa các tộc người thiểu số ở vùng Đông Bắc, https://hvdt.edu.vn

[2] Hoàng Mai (2017), Định hướng phát triển sản phẩm du lịch liên kết đặc trưng vùng Tây Bắc, http://itdr.org.vn 

[3] Bùi Minh (2022), Mô hình chi hội “Nông dân làm Homestay” bản Lác ở Mai Châu (Hòa Bình), https://vietnamtourism.gov.vn

[4] Quốc hội (2017), Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2017, Hà Nội, https://thuvienphapluat.vn

Đọc thêm

Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” - 55 năm vẫn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn

Tác giả: PGS. TS. Lý Việt Quang

(TG) - Dung lượng ngắn gọn trong gần 700 từ, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm có giá trị hết sức to lớn đối với Đảng và cách mạng Việt Nam. Trải qua 55 năm, đến nay tác phẩm vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn.

Hồ Chí Minh thâu thái, kết tinh, lan tỏa những giá trị dân tộc và thời đại

Tác giả: PGS.TS Bùi Đình Phong

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh những giá trị dân tộc như bất khuất, kiên cường, tự chủ, sáng tạo, thích ứng hoàn cảnh và mọi biến đổi để giành thắng lợi; là sự thâu thái những giá trị của nhân loại: hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác, tiến bộ, nhân văn và phát triển. Người đã lan tỏa những giá trị đó trên toàn thế giới, cống hiến vào phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội.

Hiệp định Pari - thắng lợi có ý nghĩa chiến lược dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Tác giả: TS. Vũ Ngọc Lương

(LLCT&TT) Hội nghị Paris là cuộc đụng đầu ngoại giao tay đôi đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, kết thúc bằng Hiệp định Paris. Hiệp định Paris đã góp phần tạo nên bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc kháng chiến của dân tộc ta, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, từng bước đi vào giải pháp, chấm dứt chiến tranh và can thiệp ở Việt Nam. Việc Mỹ buộc phải “cút” khỏi miền Nam đã mở ra cục diện chính trị và chiến trường thuận lợi để quân và dân ta tiến tới “đánh cho ngụy nhào” mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Khai thác giá trị văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo trong phát triển du lịch ở nước ta

Tác giả: TS. Bùi Hồng Thanh

(LLCTTTĐT) Du lịch đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, nâng cao mức sống cho người dân và được cụ thể bằng quan điểm Đảng và Nhà nước ta phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Cùng với đó, những quan điểm về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới là bệ phóng để nhiều địa phương trong cả nước từng bước mạnh dạn khai thác và phát huy những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, khai thác những giá trị văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo để phát triển du lịch nói chung ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế. Điều này phần nào được lý giải trong khi có nhiều người nhận thức được giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo và thấy cần thiết phải khai thác, phát huy thì cũng có không ít người còn dè dặt về tính phức tạp, nhạy cảm của nó. Do đó, việc nhận diện khách quan những giá trị văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo để có những định hướng nhằm khai thác hiệu quả, phát huy lợi thế trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết.

Khơi thông mọi nguồn lực phát triển văn hóa, con người Việt Nam

Tác giả: PGS. TS. Đào Duy Quát

(TG) - Chấn hưng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới là sứ mệnh vô cùng vẻ vang nhưng rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải “tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước nhằm đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong xây dựng và phát triển văn hóa từ Trung ương tới cơ sở”, đồng thời “huy động tối đa các nguồn lực để phát triển văn hóa”.