Thứ Hai, ngày 16/01/2023, 18:07

Đảng lãnh đạo kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên thành công của cách mạng Việt Nam

PHẠM THANH HÀ - NGUYỄN BÁ QUÂN
Học viện Chính trị khu vực I

(GDLL) - Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành quốc gia độc lập, tự do và phát triển. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên sự thành công này, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, Đảng tiếp tục vận dụng trong khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa giữa thế kỷ 21.

Từ khóa: Cách mạng Việt Nam; Đảng cộng sản Việt Nam; độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;kiên định.

(Ảnh: https://tuyengiao.vn)

Đặt vấn đề

Kể từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phấn đấu, rèn luyện xứng đáng là đội tiền phong và đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; là lực lượng lãnh đạo toàn diện Nhà nước và xã hội. Kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) là một yếu tố quan trọng hàng đầu đưa đến thành công của cách mạng Việt Nam. Đảng lãnh đạo kiên định con đường phát triển được minh chứng bằng những thắng lợi đạt được trong hơn 91 năm qua, đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành quốc gia độc lập, tự do, phát triển với vị thế, uy tín quốc tế ngày càng cao. Có thể nói, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam, là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

1. Những thành công khẳng định sự đúng đắn của việc Đảng lãnh đạo kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

 Khẳng định vai trò lãnh đạo và sự kiên định của Đảng đối với con đường phát triển của Việt Nam không phải chỉ được hiến định trong Hiến pháp, các văn bản pháp lý, trong Văn kiện của Đảng, mà được ghi nhận, khẳng định qua chặng đường vẻ vang hơn 91 năm xây dựng và trưởng thành. Đó là, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giương cao ngọn cờ cách mạng độc lập dân tộc và CNXH, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách làm nên những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử với những dấu mốc vẻ vang to lớn: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên CNXH; một chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu; một đại thắng Mùa Xuân đem tới thống nhất Tổ quốc năm 1975; thắng lợi trong 2 cuộc chiến tranh biên giới giữ vững chủ quyền lãnh thổ quốc gia; nhất là những kết quả to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của công cuộc đổi mới đất nước từ 1986 đến nay.

Những thành công đó cho thấy trong cuộc trường chinh để giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc; sự thống nhất, phát triển phồn thịnh của đất nước; khẳng định vị thế đối tác uy tín, trách nhiệm của cộng đồng quốc tế..., ở đâu và lúc nào cũng có Đảng. Đảng đi đầu trong chiến đấu, Đảng xông pha nơi khó khăn, Đảng tiên phong trong phát triển kinh tế; Đảng gắn bó mật thiết máu thịt với nhân dân, Đảng quyết làm tất cả vì Tổ quốc, vì nhân dân và Đảng luôn kiên định con đường đã lựa chọn. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo để xây dựng nên nhiều truyền thống quý báu thể hiện bản chất tốt đẹp, như: Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo; nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; trung thành với lợi ích quốc gia, dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân; giữ gìn đoàn kết nội bộ và đoàn kết quốc tế... Những truyền thống quý báu đó vừa là sự kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc trên một tầm cao mới của thời đại, vừa là kết quả của quá trình vun trồng, xây đắp bền bỉ, là sự hy sinh phấn đấu của các thế hệ đảng viên.

 Thành công tiếp nối thành công. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đạt được trong hơn 35 năm đổi mới trên tất cả các lĩnh vực là minh chứng bổ sung khẳng định sự kiên định con đường lựa chọn của Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với CNXH do Đảng lãnh đạo là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế vận động chung của nhân loại. So sánh bối cảnh thế giới đang có nhiều thay đổi và biến động nhanh chóng, khó lường trong những thập niên gần đây ta càng tự hào và gia tăng thêm niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt là kiên định con đường độc lập dân tộc và CNXH. Trở lại những năm 80 - 90 của thế kỷ XX, trong muôn vàn thử thách, khó khăn đối mặt với bao vây cấm vận từ bên ngoài; khủng hoảng, dao động bên trong về sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu; thực lực một nền kinh tế - xã hội nghèo nàn, lạc hậu... nhưng Đảng đã tự tin, bản lĩnh, kiên định, sáng tạo lãnh đạo nhân dân thực hiện sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, từng bước tạo nên một diện mạo của Việt Nam với sự chuyển động mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực để giờ đây chúng ta có quyền tự hào rằng “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[1, tr. 25].

 Về chính trị, đó là thành công về phương diện nhận thức lý luận với việc tiếp thu, bổ sung sáng tạo và hình thành về cơ bản khung lý luận tổng quát về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, như: Xác định rõ hơn các đặc trưng trong mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng; xác định đầy đủ hơn những phương hướng, định hướng lớn mang tính quy luật trong xây dựng, bảo vệ đất nước của thời kỳ quá độ lên CNXH phù hợp với tình hình thực tiễn mới trong nước và xu thế vận động của thế giới; xác định rõ và ngày càng đầy đủ các mối quan hệ lớn trong quá trình đổi mới cần nắm vững và giải quyết. Đó là thành công trong bước chuyển về xây dựng ngày càng rõ nét mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN. Căn cứ vào đường lối chính trị của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam trong những năm qua cho thấy việc “xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực và hiệu quả; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”[1, tr.71]; và “khẳng định bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”[1, tr.100].

Về kinh tế, đó là việc đổi mới tư duy “chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”[2, tr.19]. Điều này đã đưa Việt Nam từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu từng bước trở thành quốc gia có cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nổi bật rõ nét là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới. Trong những năm gần đây do chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (2008) tốc độ tăng trưởng có chậm lại, nhưng “bức tranh” kinh tế của Việt Nam vẫn là điểm sáng của khu vực và thế giới. Đặc biệt năm 2020 - 2021, cả thế giới bị tàn phá bởi đại dịch Covid - 19, song Việt Nam là một trong ít quốc gia trên thế giới có tốc độ tăng trưởng kinh tế dương. Năm 2022, kinh tế Việt Nam đang phục hồi và có những bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều đánh giá của các tổ chức và chuyên gia quốc tế đều khẳng định Việt Nam sẽ là nước nằm trong nhóm ít quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Bên cạnh đó, “quy mô của nền kinh tế tăng nhanh, tính đến nay đã tăng hơn 40 lần so với năm 1990 - Theo Ngân hàng thế giới, quy mô GDP của Việt Nam năm 1990 là 6,5 tỷ USD, năm 2019 là 262 tỉ USD”[2, tr.208]. Và “năm 2020 đạt 342,7 tỉ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 3.512 USD”[3, tr.31]. Bên cạnh đó hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Đặc biệt, Việt Nam đã, đang tham gia rất nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) - EVFTA, Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)...

Về văn hóa, đó là tầm nhìn sâu sắc, toàn diện, bao quát hơn về phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam, thể hiện với quan điểm văn hóa là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người, thể hiện trình độ phát triển chung của đất nước, văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển, không chỉ là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội mà phải là sự phát triển bền vững của đất nước, của dân tộc. Vì thế “phát triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”[1, tr.65]. Thực tế cho thấy, sự nghiệp phát triển văn hóa và xây dựng con người đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Văn hóa phát triển đa dạng, phong phú, xuất hiện nhiều loại hình, thể loại, các hoạt động văn hóa mới có khả năng chiếm lĩnh các mặt khác nhau của đời sống xã hội. Chính sự phát triển của văn hóa đã góp phần quan trọng tạo không khí dân chủ, cởi mở hơn, dân trí được nâng cao, tính năng động sáng tạo, tự chủ và tích cực của con người được phát huy, hình thành các nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt Nam. Văn hóa đã, đang thực sự soi đường cho quốc dân đi.

 Về quan hệ quốc tế, đó là những kết quả to lớn của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, như: Phá thế bao vây, cấm vận, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; mở ra một không gian sâu rộng thuận lợi cho kinh tế Việt Nam hội nhập, phát triển; tạo điều kiện để Việt Nam học hỏi, tiếp thu nhanh nhất những tiến bộ, văn minh của thế giới về khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý, tinh hoa văn hóa của các nước; quảng bá hình ảnh, tiềm năng lợi thế so sánh của Việt Nam ra bên ngoài; nhận được nhiều sự quan tâm ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế; nâng cao vị thế của Việt Nam từ “tham gia tích cực” vươn lên “chủ động đóng góp xây dựng định hình luật chơi chung” với một tinh thần, vị thế “là bạn, là đối tác tin cậy, và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”[1, tr.162]... Không tự hào sao được khi 192/193 quốc gia thành viên của Liên hiệp quốc đã bỏ phiếu bầu Việt Nam lần thứ hai là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp nhiệm kỳ 2020 - 2021. Và trong bối cảnh thế giới vẫn đang đối mặt với những hệ lụy phức tạp của đại dịch Covid - 19, thì việc Việt Nam nhanh chóng vượt qua đại dịch, cả nước sớm trở lại trạng thái hoạt động bình thường mới, an toàn là thêm một minh chứng để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng với con đường đã lựa chọn được nhân dân tin tưởng, ủng hộ.

Vẫn biết rằng trong chặng đường thăng trầm của lịch sử thời gian qua, Đảng cũng không tránh khỏi những yếu kém, sai lầm; song Đảng đã không hề che giấu, lẩn tránh, mà đã thực sự nghiêm túc cầu thị, mạnh dạn nhận diện chỉ ra sai lầm, yếu kém và hành động quyết liệt khắc phục, sửa chữa để đáp lại niềm tin, niềm hy vọng và nguyện vọng của nhân dân bằng việc chứng minh lãnh đạo đất nước luôn ổn định, phát triển đi lên. Chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, với một tư duy dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nghĩ, dám làm, khát vọng vươn lên trên cơ sở thực tiễn sinh động phong phú và kế thừa những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, với tinh thần đoàn kết và sự thống nhất của toàn hệ thống chính trị, sự tin tưởng ủng hộ của nhân dân, Đảng sẽ biến nguy cơ, thách thức thành những thời cơ, “đưa ra những thông điệp mạnh mẽ, những quyết sách sáng suốt, đúng đắn, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển trong giai đoạn mới”[1, tr.108].

2. Những bài học kinh nghiệm cần tiếp tục được vận dụng, phát huy để Việt Nam đạt được những mục tiêu Đại hội XIII đ ra

Một là, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định hàng đầu trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước

Điều này đã được khẳng định trên thực tế bằng những thành công của Cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước kia và trong thời gian những năm đổi mới vừa qua. Tuy nhiên, để tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo, khắc phục những hạn chế của mình, Đảng cần tập trung giải quyết tốt hơn nữa một số nội dung như: (i) Củng cố và mở rộng nền tảng xã hội của Đảng, tiếp tục tạo được sự ủng hộ của nhân dân. Muốn vậy Đảng không chỉ phải làm tốt vai trò là người lãnh đạo mà còn phải làm tốt bổn phận “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; (ii) Phòng, chống triệt để những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, cơ hội chủ nghĩa, kiêu ngạo cộng sản. Những “căn bệnh” này nếu không được nhận diện kịp thời và kiên quyết đẩy lùi thì như Bác Hồ đã chỉ rõ sẽ làm đổ vỡ cả sự nghiệp của một đảng cầm quyền; (iii) Lãnh đạo thực hiện hiệu quả Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, xây dựng hình ảnh người cán bộ, đảng viên trong sạch, liêm khiết “vừa hồng vừa chuyên”; (iv) Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu mới của thực tiễn. Phương thức lãnh đạo của Đảng phải gắn với xây dựng một hệ thống chính trị, bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, một xã hội hiện đại, tiến bộ, thượng tôn pháp luật và đề cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu.

Hai là, nhận thức và quán triệt sâu sắc sự kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

Việc kiên định độc lập dân tộc và CNXH không chỉ liên quan đến nhận thức, ý chí cách mạng, đến đường lối, chính sách mà còn liên quan đến lý tưởng, mục tiêu, đặc trưng mô hình phát triển và phương hướng đi lên của đất nước. Vì thế việc lựa chọn, kiên định này không phải là việc làm chủ quan, duy ý chí mà đây thực sự là sự lựa chọn khách quan, khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm trước nhân dân và dân tộc của Đảng. Và thực tế đã cho thấy những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”[1, tr.104]. Vì thế, bên cạnh việc tiếp tục kiên định con đường đi lên CNXH của Việt Nam thì Việt Nam cần kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đồng thời nắm vững và thực hiện có hiệu quả mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong tình hình mới.

Ba là, giữ vững, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Thực tiễn từ khi Đảng được thành lập đến nay cho thấy, Đảng đã được xây dựng, trưởng thành, lãnh đạo cách mạng dựa trên nền tảng tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Nền tảng tư tưởng mang giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn và hiện thực đó đã bảo đảm cho Đảng hoạch định Cương lĩnh, đường lối đúng đắn và từng bước hiện thực hóa thành công những mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ chính trị đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Để giữ vững, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần: (i) Trong bất kỳ hoàn cảnh và tình thế nào cũng kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc trung thành với hệ tư tưởng, học thuyết khoa học, cách mạng này phải gắn liền với đổi mới tư duy, vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong điều kiện mới; (ii) Chú trọng công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức và trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Điều này có ý nghĩa quan trọng bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động, sự đoàn kết vững chắc trong Đảng; (iii) Luôn tỉnh táo phòng ngừa, chủ động và kiên quyết đấu tranh phê phán mọi nhận thức lệch lạc, quan điển sai trái và thù địch. Điều quan trọng nhất là không bao giờ được nhân nhượng, thỏa hiệp về tư tưởng, lý luận, càng không được rút lui, hạ vũ khí trên mặt trận tư tưởng; (iv) Hoàn thiện và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Quản lý tốt và nâng cao hiệu quả thực chất vai trò, trách nhiệm của các cơ quan báo chí, truyền thông nhằm định hướng đúng đắn nhận thức trong toàn Đảng và xã hội.

Bốn là,kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải đi liền với đổi mới liên tục, đổi mới thường xuyên, đổi mới không ngừng nghỉ và đổi mới phải phù hợp với thực tiễn mới

Vì rằng đổi mới là tất yếu, là mệnh lệnh của cuộc sống. Đổi mới không chỉ để sửa chữa sai lầm, điều chỉnh những cái không phù hợp, mà còn là một sự thay đổi trong nhận thức, phương thức hoạt động, phát huy những thành công. Đổi mới thực chất là bảo vệ, phát huy cái gì cũ mà đúng; sửa chữa cái gì đúng mà không còn phù hợp; từ bỏ cái gì cũ mà sai; sáng tạo, tiếp thu cái gì mới mà tốt; biến đổi cái gì mới mà không thích hợp; kiên quyết gạt bỏ cái gì mới mà không phù hợp với Việt Nam. Tuy nhiên, thực hiện đổi mới xây dựng CNXH ở Việt Nam phải chú ý đảm bảo các yêu cầu như: (i) Đổi mới phải chủ động, tích cực, sáng tạo trên cơ sở kiên định con đường đã lựa chọn và nền tảng tư tưởng của Đảng; (ii) Đổi mới phải quán triệt sâu sắc “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; (iii) Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ có bước đi phù hợp, phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn; (iv) Đổi mới phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình; (v) Đổi mới phải trên cơ sở Đảng biết lắng nghe, chắt lọc, tổng kết, khái quát ý kiến, sáng kiến, nguyện vọng, cách làm sáng tạo của nhân dân, của địa phương, của cơ sở để từ đó đưa ra những chủ trương, quyết sách đúng; (vi) Đổi mới phải đi liền với thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng.

Kết luận

Kiên định con đường độc lập dân tộc và CNXH, đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, nhất quán trong hành trình đi tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trước mắt, các Đảng bộ, Chi bộ, cấp ủy, mọi đảng viên cần tiếp tục nắm vững, quán triệt, thấm nhuần sâu sắc “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng”[1, tr. 33]. Đây chính là nền tảng và định hướng có tính quyết định để Việt Nam thực hiện thành công các mục tiêu đặt ra trong Đại hội XIII: “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, kỷ niệm một trăm năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”[1, tr.112], để đến giữa thế kỷ XXI Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[2] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Các chuyên đề lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khóa XIII của Đảng, quyển 1, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.

[3] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Đọc thêm

Vấn đề giai cấp trong Tác phẩm “thường thức chính trị” của chủ tịch Hồ Chí Minh với việc củng cố liên minh giai cấp trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Cung Thị Ngọc

(GDLL) - Bài viết góp phần làm sáng tỏ vấn đề giai cấp trong tác phẩm “Thường thức chính trị”** của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phương châm củng cố liên minh giai cấp công nhân - nông dân và đội ngũ trí thức của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong xây dựng đời sống văn hoá vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Lê Viết Cường

(GDLL) - Bài viết tập trung làm rõ vai trò và thực trạng phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong xây dựng đời sống văn hoá vùng dân tộc thiểu số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Nguyễn Văn Tặng

(GDLL) - Kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã, tồn tại dưới nhiều hình thức, phổ biến hơn cả là tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Bài viết làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế tập thể, quá trình vận dụng và phát triển nhận thức của Đảng về phát triển kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời gian qua. Từ đó, đưa ra một số giải pháp vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

C.Mác - Nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại

Tác giả: GS, TS Nguyễn Hùng Hậu

(LLCT) - C.Mác là nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại, đã có những phát kiến khoa học làm thay đổi cả thế giới, trong đó đặc biệt là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư. Khoa học đối với C.Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng, góp phần vào việc lật đổ xã hội tư bản, giải phóng giai cấp vô sản hiện đại. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh là người đầu tiên tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, từ đó đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Phản bác quan điểm sai trái, thù địch “Kinh tế tư nhân trở thành động lực phát triển là xa rời nền tảng tư tưởng, mất định hướng xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam”

Tác giả: Đỗ Đức Quân

(GDLL) - Trong quá trình đổi mới đất nước, việc giải quyết vấn đề sở hữu luôn là một trong những nhiệm vụ mà Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm và giải quyết, trong đó giải quyết vấn đề sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân là thành công hơn cả, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước qua từng giai đoạn phát triển trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Mặc dù vậy, các thế lực thù địch vẫn tập trung chống phá ác liệt; trong bài viết này, tác giả tập trung phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chỉ ra không gian tồn tại và giới hạn của kinh tế tư nhân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp căn cơ để tiếp tục thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế đất nước.