Thứ Năm, ngày 15/05/2025, 07:25

Phát triển kinh tế xanh trong kỷ nguyên mới kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Nguyễn Thị Thùy Dung
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) Kinh tế xanh đã trở thành xu hướng tất yếu của các quốc gia nhằm đạt được sự tăng trưởng kinh tế, trong khi vẫn duy trì sự bền vững về môi trường. Trên cơ sở làm rõ khái niệm và hệ thống hoá quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế xanh, bài viết phân tích thực trạng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam trong thời gian qua và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế xanh trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

 

Ngày 21/10/2024, tại TP. Hồ Chí Minh, Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham Việt Nam) phối hợp với Bộ Công thương tổ chức phiên toàn thể Diễn đàn và Triển lãm kinh tế xanh GEFE 2024 chủ đề “Kiến tạo tương lai xanh”.

Ảnh: Xuân Anh (nguồn news.vnanet.vn)

 


Đặt vấn đề

Trong lịch sử phát triển kinh tế, mô hình tăng trưởng dựa trên việc khai thác chủ yếu tài nguyên thiên nhiên đã từng được nhiều quốc gia áp dụng. Mặc dù mang lại tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong ngắn hạn, mô hình này đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường. Trước bối cảnh đó, kinh tế xanh được coi là một giải pháp bền vững nhằm cân bằng mục tiêu tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường. Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển kinh tế xanh là một trong những ưu tiên hàng đầu trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hướng tới mục tiêu xây dựng một nền kinh tế vừa hiện đại, vừa bền vững. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này còn gặp phải nhiều thách thức như: hệ thống pháp luật về môi trường và kinh tế xanh chưa hoàn thiện, nguồn vốn đầu tư cho các dự án kinh tế xanh còn thiếu, công nghệ sản xuất trong nước còn lạc hậu... Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với mục tiêu xây dựng một đất nước giàu mạnh, văn minh, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh góp phần bảo vệ môi trường, tạo ra các cơ hội phát triển mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và đảm bảo một tương lai bền vững cho thế hệ mai sau.

1. Nhận thức chung về kinh tế xanh và quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế xanh

Khái niệm "kinh tế xanh" bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, khi các quốc gia tìm kiếm những mô hình tăng trưởng mới, bền vững hơn. Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã đóng vai trò tiên phong trong việc định hình và thúc đẩy ý tưởng này. Năm 2011, UNEP đã đưa ra một định nghĩa toàn diện về kinh tế xanh, đó là "một nền kinh tế vừa góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro môi trường và sự suy giảm nguồn lực sinh thái"[7]. Theo định nghĩa này, kinh tế xanh nhấn mạnh sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, đồng thời đảm bảo tính bao trùm xã hội. Các đặc trưng chính của kinh tế xanh bao gồm: giảm thiểu lượng khí thải carbon, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy công bằng xã hội.

Tại Việt Nam, vấn đề phát triển kinh tế xanh đã nhận được sự quan tâm sâu sắc từ cộng đồng khoa học. Các nhà nghiên cứu trong nước đã đưa ra nhiều định nghĩa và góc nhìn khác nhau về khái niệm này. Tác giả Lê Quốc Lý (2014) định nghĩa: “Kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái”[4]. Định nghĩa này nhấn mạnh tính toàn diện của kinh tế xanh, bao gồm cả các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Trong một nghiên cứu gần đây, Nguyễn Đình Hoàn và cộng sự (2022) đã xác định ba trụ cột chính của kinh tế xanh: phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và gắn kết xã hội[2].

Từ những quan điểm đã nêu, có thể hiểu phát triển kinh tế xanh là một quá trình chuyển đổi nền kinh tế hướng tới sự bền vững lâu dài, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và đảm bảo công bằng xã hội.

Tại Đại hội lần thứ XII của Đảng đã xác định một trong những hướng đi đó là phát triển kinh tế xanh. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”[1, tr. 116-117].

Thể chế hoá quan điểm của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo điều hành về phát triển kinh tế xanh như Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu; Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh; Quyết định số 1474/QĐ-TTg ngày 05/10/2012 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 – 2020; Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững; Quyết định số 1670/QĐ-TTg ngày 31/10/2017 phê duyệt Chương trình mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 – 2020; Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050.

Nhằm đánh giá hiệu quả thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 10/2023/TT-BKHĐT ngày 01/11/2023, quy định một hệ thống 72 chỉ tiêu thống kê tăng trưởng xanh, được phân loại theo bốn nhóm mục tiêu chính: (i) giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP, (ii) xanh hóa các ngành kinh tế, (iii) xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững, và (iv) xanh hóa quá trình chuyển đổi trên nguyên tắc bình đẳng, bao trùm và nâng cao năng lực chống chịu. Hệ thống chỉ tiêu này được áp dụng để đo lường và đánh giá tiến độ thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh tại tất cả các tỉnh thành trên cả nước. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các địa phương, sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc triển khai hệ thống chỉ tiêu này. Việc ban hành hệ thống chỉ tiêu trên đây thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh và phát triển bền vững. Như vậy, qua các kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt từ Đại hội XII và XIII, nhận thức về phát triển kinh tế xanh ngày càng được thể hiện rõ ràng hơn. Điều này không chỉ dừng lại ở việc xác định đây là một hướng đi quan trọng mà còn nhấn mạnh các nguyên tắc cốt lõi như thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và loại bỏ các dự án gây ô nhiễm. Tư duy lý luận đã chuyển từ nhận thức chung sang hành động cụ thể với những cam kết mạnh mẽ. Thêm vào đó, sự thể chế hóa quan điểm của Đảng thông qua việc ban hành các chiến lược và kế hoạch hành động cụ thể cho thấy tư duy lý luận về phát triển kinh tế xanh đã được cụ thể hóa thành chính sách thực tiễn. Các quyết định của Chính phủ từ năm 2011 đến nay cho thấy một quá trình điều chỉnh và nâng cấp chiến lược để phù hợp với từng giai đoạn phát triển, qua đó phản ánh sự phát triển trong nhận thức khi kinh tế xanh không còn là một khái niệm chung chung mà đã được lồng ghép vào các chương trình cụ thể.

2. Thực trạng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam trong thời gian qua

2.1. Thành tựu đạt được

Thứ nhất, trong giai đoạn 2013 - 2023, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng bình quân 5,76%. Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 đã gây ra những tác động tiêu cực đáng kể, làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP xuống còn 2,87% và 2,55% lần lượt vào các năm 2020 và 2021. Đáng chú ý, nền kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ vào năm 2022 với mức tăng 8,12%[6, tr. 239]. Mặc dù tốc độ tăng trưởng năm 2023 chỉ đạt 5,05%[6, tr. 227], thấp hơn so với mục tiêu đề ra và so với mức tăng trưởng của các năm trước đại dịch, nhưng đây vẫn là một thành tựu đáng ghi nhận trong bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn. Theo Tổng cục Thống kê, tính chung cả nước năm 2024 tốc độ tăng trưởng GDP ước tính là 7,09% (vượt mức mục tiêu đề ra là 6 - 6,5% GDP), thuộc nhóm số ít các nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới[5]. Cơ cấu nền kinh tế Việt Nam năm 2024 cho thấy sự chuyển dịch đáng kể. Cụ thể, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 11,86% vào GDP, trong khi công nghiệp và xây dựng chiếm 37,64% và dịch vụ chiếm 42,36%[5]. So với năm 2023, cấu trúc này cho thấy sự tiếp tục xu hướng dịch chuyển trọng tâm sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Sự chuyển dịch này phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xanh của Chính phủ, nhằm đa dạng hóa nền kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh đã tạo ra những tác động tích cực đến thị trường lao động Việt Nam, thể hiện rõ nét qua sự dịch chuyển cơ cấu lao động khỏi khu vực nông nghiệp. Xu hướng này không chỉ phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững mà còn góp phần hình thành một lực lượng lao động có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ hai, xu hướng phát triển công nghiệp xanh ở Việt Nam hiện nay tập trung vào hai mục tiêu chính là hạn chế phát thải khí CO2, hóa chất độc hại từ các khu công nghiệp, khu chế xuất ra ngoài môi trường; đồng thời, nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng mới, máy móc kỹ thuật mới thân thiện với môi trường. Cùng với đó, các hoạt động thiết thực nhằm thúc đẩy kinh tế xanh đã được triển khai rộng rãi, góp phần cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của người dân. Sự hình thành và phát triển của các khu đô thị hiện đại và các vùng nông thôn mới là minh chứng rõ nét cho điều này.

Thứ ba, Việt Nam đã chủ động triển khai nhiều hoạt động nhằm chuyển đổi mô hình tiêu dùng sang hướng xanh. Quá trình này được minh chứng qua việc ký kết và ban hành hàng loạt văn bản pháp quy quan trọng, bao gồm: Tuyên ngôn quốc tế về sản xuất và tiêu dùng bền vững; Kế hoạch hành động quốc gia cùng các luật, nghị định liên quan đến bảo vệ môi trường và năng lượng. Bên cạnh đó, các chương trình cấp nhãn sinh thái, nhãn tiết kiệm năng lượng đã góp phần nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm xanh. Đặc biệt, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 đã đặt ra nền tảng vững chắc cho việc xây dựng và triển khai các chính sách cụ thể nhằm khuyến khích tiêu dùng bền vững trong giai đoạn tới.

Thứ tư, trước sự gia tăng nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường, nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam đã nhanh chóng điều chỉnh chiến lược kinh doanh, coi yếu tố xanh là lợi thế cạnh tranh cốt lõi. Các doanh nghiệp này đã đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ hiện đại và các phương pháp sản xuất sạch hơn, nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Bên cạnh đó, việc ứng dụng năng lượng tái tạo và các biện pháp tiết kiệm năng lượng, nước đã trở thành xu hướng phổ biến trong các doanh nghiệp sản xuất. Trong lĩnh vực tiêu dùng, các siêu thị và nhà hàng cũng tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng xanh bằng cách ưu tiên phân phối các sản phẩm hữu cơ, sản phẩm địa phương và sử dụng bao bì thân thiện với môi trường.

Thứ năm, trong hành trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ tích cực từ Ngân hàng Thế giới. Cụ thể, Ngân hàng đã và đang đầu tư lớn vào các dự án trọng điểm nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo, nâng cấp kết cấu hạ tầng, cải thiện quản lý môi trường đô thị và tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2022, tổng cam kết tài chính dành cho Việt Nam từ năm 1994 đến nay đã lên tới hơn khoảng 25,3 tỷ USD, khẳng định tầm quan trọng của Việt Nam trong danh mục đầu tư của tổ chức này.

2.2. Một số hạn chế, khó khăn

Thứ nhất, nhận thức về kinh tế xanh tại Việt Nam hiện nay vẫn còn hạn chế, đòi hỏi phải có những nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa để nâng cao nhận thức của toàn xã hội, từ cấp lãnh đạo đến các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng. 

Thứ hai, mặc dù Nhà nước đã có những nỗ lực ban hành các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, song khung pháp lý hiện hành vẫn còn những hạn chế nhất định. Cụ thể, hệ thống pháp luật liên quan đến năng lượng xanh và năng lượng tái tạo chưa được hoàn thiện, đồng thời thiếu vắng một luật chuyên biệt về phát triển công nghiệp xanh và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, công tác quản lý và phối hợp thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xanh giữa các cấp chính quyền và các ngành, lĩnh vực còn chưa đồng bộ, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao.

Thứ ba, nguồn lực tài chính dành cho việc triển khai các kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Sự phụ thuộc lớn vào nguồn vốn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế khiến cho quá trình thực hiện các dự án gặp nhiều khó khăn và thiếu tính bền vững. Bên cạnh đó, việc thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực kinh tế xanh cũng đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt sau đại dịch COVID-19 gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu.

Thứ tư, nguồn nhân lực hiện tại của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kỹ năng và kiến thức chuyên sâu để thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế xanh. Việc nâng cấp công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng vận hành và phát triển các hệ thống công nghệ tiên tiến, đây chính là một trong những thách thức lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.

3. Một số giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế xanh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế xanh là một trong những yếu tố cốt lõi để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh. Cần có những hoạt động tuyên truyền, giáo dục sâu rộng nhằm trang bị cho toàn xã hội những kiến thức cần thiết về tầm quan trọng của phát triển kinh tế xanh và những lợi ích mà nó mang lại. Đồng thời, việc tổ chức các diễn đàn, hội thảo khoa học sẽ tạo điều kiện để các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp và các bên liên quan chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và xây dựng mạng lưới hợp tác, từ đó góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh một cách hiệu quả.

Thứ hai, hoàn thiện khung pháp lý, chính sách, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động sản xuất kinh doanh bền vững. Đồng thời, việc xây dựng và triển khai một chiến lược phát triển kinh tế xanh toàn diện, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước là hết sức cần thiết. Chiến lược này cần tập trung vào các mục tiêu giảm thiểu sử dụng nhiên liệu hóa thạch, tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo và xây dựng một cơ cấu kinh tế xanh dựa trên ba trụ cột: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý môi trường, xây dựng hệ thống báo cáo và xử lý thông tin môi trường nhanh chóng, hiệu quả và áp dụng các chế tài xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm môi trường là những giải pháp cần thiết để đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi này.

Thứ ba, tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ, đồng thời chủ động tiếp thu, chuyển giao và thích ứng các công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện quốc gia. Việc tập trung nghiên cứu vào các lĩnh vực trọng tâm như giảm thiểu phát thải carbon, phát triển năng lượng tái tạo sẽ góp phần xây dựng nền tảng khoa học và công nghệ cho sự phát triển bền vững. Bên cạnh đó, việc ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất kinh doanh không chỉ giúp nâng cao năng suất, hiệu quả mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề môi trường như ô nhiễm, biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học. Để khuyến khích các doanh nghiệp chuyển đổi sang mô hình sản xuất kinh doanh bền vững, Nhà nước cần ban hành các chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận công nghệ mới, đồng thời tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế xanh.

Thứ tư, Việt Nam cần chủ động thu hút các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế nhằm huy động các nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế. Việc hợp tác quốc tế sẽ góp phần tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn, thu hút các dự án đầu tư quy mô lớn, hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị. Đồng thời, việc hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các nguồn vốn và công nghệ xanh sẽ giúp các doanh nghiệp này nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần hình thành chuỗi cung ứng bền vững. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đi đầu trong phát triển xanh sẽ giúp Việt Nam rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu để xây dựng và triển khai các chính sách, cơ chế phù hợp với điều kiện quốc gia.

Kết luận

Phát triển kinh tế xanh là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự nỗ lực của toàn xã hội. Tuy nhiên, những lợi ích mà kinh tế xanh mang lại là rất lớn, không chỉ đối với môi trường mà còn cho sự phát triển bền vững của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Do vậy, cần thực hiện các giải pháp nêu trên để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh đưa đất nước vững bước vào Kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật Hà Nội.

[2] Nguyễn Đình Hoàn và cộng sự (2022),Kinh tế xanh và tăng trưởng xanh ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán, số 03 (224).

[3] Tô Lâm (2024), Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, https://www.tapchicongsan.org.vn

[4] Lê Quốc Lý (2014), Giáo trình kinh tế môi trường (Dành cho đào tạo sau đại học), Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[5] Tổng cục Thống kê (2025), Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2024, https://www.gso.gov.vn

[6] Tổng cục Thống kê (2024), Niên giám thống kê 2023, Nxb. Thống kê, Hà Nội.

[7] UNEP (2011), Towards a Green Economy: Pathways to Sustainable Development and Poverty Eradication - A Synthesis for Policy Makers, www.unep.org

Đọc thêm

Nghiên cứu, đề xuất xây dựng chuẩn chương trình bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay

Tác giả: TRƯƠNG BẢO THANH

(GDLL) - Xây dựng chuẩn chương trình bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng, là căn cứ để cơ sở đào tạo tiến hành xây dựng, thẩm định, ban hành, thực hiện, đánh giá và cải tiến các chương trình bồi dưỡng trên thực tế. Bài viết tập trung nghiên cứu cơ sở chính trị, pháp lý, cơ sở thực tiễn, đề xuất xây dựng chuẩn chương trình bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thích ứng linh hoạt với đại dịch Covid 19 tại Việt Nam

Tác giả: CHU THỊ LÊ ANH

(GDLL) - Đại dịch COVID-19 đã gây ra nhiều hậu quả tiêu cực tới đời sống xã hội và làm giảm sút tăng trưởng kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bài viết phân tích các chính sách phục hồi và phát triển kinh tế ứng phó tác động của dịch bệnh COVID-19 tới nền kinh tế Việt Nam, từ đó đề xuất một số khuyến nghị chính sách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thích ứng linh hoạt với dịch bệnh trong thời gian tới nhằm thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Giải pháp thực hiện các chính sách hỗ trợ tài chính để doanh nghiệp vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19

Tác giả: NINH THỊ MINH TÂM

(GDLL) - Đại dịch Covid-19 đã tạo ra cú sốc đối với nền kinh tế Việt Nam và tác động tiêu cực đến “sức khỏe”, tiềm lực và khả năng chống chịu của nhiều doanh nghiệp, dẫn đến nguy cơ phá sản. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ tài chính nhằm giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Bài viết tập trung phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ tài chính nhằm tăng “sức bền” và hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp bị tác động tiêu cực bởi dịch bệnh.

Tổn thương của doanh nghiệp Việt Nam sau cú sốc đại dịch Covid-19 - thực trạng và khuyến nghị

Tác giả: HOÀNG VĂN HOAN

(GDLL) - Khủng hoảng thường tạo cú sốc cho doanh nghiệp xét về cả kết quả kinh doanh thực tế và kỳ vọng. Các cú sốc có thể tích cực (hữu ích) hoặc tiêu cực (có hại) gây tổn thương cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Để có những biện pháp đối phó nhằm ngăn chặn sớm cũng như giảm bớt những tác động bất lợi của các cú sốc gây tổn thương cho doanh nghiệp cũng như xã hội, đặc biệt sau cú sốc đại dịch COVID -19, bài viết giúp nhận diện các cú sốc, mức độ tổn thương của doanh nghiệp Việt Nam sau cú sốc bất lợi từ đại dịch COVID-19 trong giai đoạn vừa qua, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách.

Phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc - một số vấn đề đặt ra

Tác giả: Tạ Thị Đoàn

(GDLL) - Phát triển du lịch cộng đồng đã và đang mang lại nhiều lợi ích cho các tỉnh vùng Tây Bắc, qua đó góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc thời gian qua, bài viết chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững ở các tỉnh vùng Tây Bắc trong thời gian tới.