
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu
khai mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, ngày 23-1-2025,
trong đó có bàn tới việc tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống
chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả_Ảnh: TTXVN
1. Mở đầu
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam
bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phồn
vinh, văn minh, hạnh phúc. Trong kỷ nguyên phát triển mới, sứ mệnh, vai trò
lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thành công. Một phương thức lãnh đạo của
Đảng là thông qua bộ máy của hệ thống chính trị. Để thực hiện tốt sứ mệnh, vai
trò của mình đòi hỏi phải hoàn thiện bộ máy của hệ thống chính trị thực sự
“Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”(1) như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã
chỉ ra.
2. Nội dung
2.1. Kỷ nguyên phát triển mới và yêu cầu
đặt ra đối với bộ máy của hệ thống chính trị
Khái niệm kỷ nguyên dùng để chỉ một thời kỳ
trong lịch sử được phân kỳ dựa trên các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa,
kỹ thuật và các điều kiện khác, ví dụ như kỷ nguyên đồ đá, kỷ nguyên cổ đại...
hay kỷ nguyên công nghiệp, kỷ nguyên thông tin, kỷ nguyên kỹ thuật số... Khái
niệm kỷ nguyên không chỉ mang hàm nghĩa về thời gian mà quan trọng hơn mang hàm
nghĩa về những đặc điểm kinh tế - xã hội.
Kỷ nguyên phát triển mới hàm ý tạo sự chuyển
biến mạnh mẽ theo chiều hướng tích cực dựa trên sự chủ động, tích cực, quyết
tâm cao, nỗ lực lớn của chủ thể thực hiện khát vọng phát triển, nhằm đạt được
những thành tựu to lớn trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, vươn tới
mục tiêu tốt đẹp, đem lại cuộc sống tốt hơn cho cho nhân dân.
Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, kỷ nguyên phát triển
mới của dân tộc Việt Nam là “kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự
lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với
các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được
hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định,
phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Đích đến
của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh
vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực
hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước
đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045
trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ
hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc,
khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại. Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, từ đây, mọi
người dân Việt Nam, hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng
tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi
nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất
cánh”(2).
Như vậy, theo Tổng Bí thư Tô Lâm có thể xác định
một số nội dung cụ thể liên quan đến kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc như
sau:
Về thời điểm bắt đầu của
kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam là từ Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Về mục tiêu trong kỷ nguyên phát triển mới
của dân tộc Việt Nam là “dân giàu, nước mạnh, trở
thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu”.
Về đặc trưng kinh tế, xã hội trong kỷ nguyên
phát triển mới của dân tộc Việt Nam. i) Về
kinh tế là một nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với công nghiệp
tiên tiến, hiện đại, kinh tế là phát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh
tế đạt hai con số trong nhiều năm liền; ii) Về xã hội là xã hội
phồn vinh, mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát
triển một cách toàn diện, được tạo điều kiện làm giàu chính đáng để vừa phát
triển bản thân và gia đình vừa đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định,
phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.
Về chủ thể thực hiện mục tiêu trong
kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc là
Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam. Đảng lãnh đạo, cầm quyền thông qua hệ thống
chính trị, do đó, chủ thể thực hiện là cả hệ thống chính trị và toàn thể dân tộc
Việt Nam, trong đó Đảng vừa là bộ phận cấu thành, là hạt nhân của hệ thống
chính trị, vừa là chủ thể lãnh đạo hệ thống chính trị.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Muốn
xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ
nghĩa”(3), có nghĩa là muốn
thực hiện một mục tiêu cao cả, tốt đẹp nào đó, đòi hỏi phải có những chủ thể có
đủ phẩm chất thì mới có thể hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể để từng bước đạt được
mục tiêu đề ra. Với tinh thần đó, để thực hiện thắng lợi các đặc trưng, mục
tiêu tốt đẹp trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, đòi hỏi sự tham gia
tích cực của hai chủ thể đó là hệ thống chính trị và dân tộc Việt Nam. Đối với
hệ thống chính trị phải có bộ máy của hệ thống chính trị với những đặc điểm mới
để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, tức là thúc đẩy mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội phát triển. Bộ máy của hệ thống chính trị là chủ thể quan trọng trong việc
thực hiện mục tiêu của kỷ nguyên phát triển mới, bởi vì, đây là lực lượng lãnh
đạo, dẫn dắt, tạo thể chế phát triển để toàn thể nhân dân dốc sức, đồng lòng bước
vào kỷ nguyên phát triển mới. Trước hết là thúc đẩy kinh tế tăng trưởng hai con
số trong nhiều năm liền nhằm xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường
quốc năm châu. Để đáp ứng mục tiêu của kỷ nguyên phát triển mới, đòi hỏi phải
có bộ máy của hệ thống chính trị thực sự “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu
lực - hiệu quả”.
Theo đó, bộ máy của hệ thống chính trị trong
kỷ nguyên phát triển mới phải đảm bảo hội đủ đồng bộ sáu đặc điểm, phẩm chất
là: tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Sáu đặc điểm, phẩm chất này
có quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau tạo thành đặc trưng của hệ thống
chính trị trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong đó, đặc điểm, phẩm chất trước
là điều kiện, tiền đề cho đặc điểm, phẩm chất sau. Cụ thể như bộ máy của hệ thống
chính trị có tinh, gọn thì mới có thể mạnh, tức là tinh, gọn là điều kiện, tiền
đề của mạnh; bộ máy của hệ thống chính trị có tinh, gọn, mạnh mới có hiệu năng,
tức là tinh, gọn, mạnh là điều kiện, tiền đề của hiệu năng; hệ thống chính trị
có tinh, gọn, mạnh, hiệu năng mới có hiệu lực, hiệu quả, tức là tinh, gọn, mạnh,
hiệu năng là điều kiện, tiền đề của hiệu lực, hiệu quả. Từ đó có thể thấy vấn đề
tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị là điều kiện, tiền đề để có hệ thống chính
trị thực sự “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” đáp ứng yêu cầu
của kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam.
Để hoàn thiện bộ máy của hệ thống chính trị
theo hướng “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” thì trước hết
phải đánh giá đúng thực trạng bộ máy của hệ thống chính trị nước ta hiện nay.
2.2. Thực trạng bộ máy của hệ thống
chính trị nước ta hiện nay
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm
các tổ chức, các thiết chế (như đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính
trị - xã hội hợp pháp) được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm
tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển
chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền(4).
Nếu xét theo chiều ngang thì hệ thống chính
trị ở nước ta hiện nay bao gồm các bộ phận cấu thành (thành tố): Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm:
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác của nhân dân được thành lập, hoạt
động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nếu xét theo chiều dọc, đến đầu năm 2025, hệ
thống chính trị ở nước ta được tổ chức theo bốn cấp từ trên xuống dưới bao gồm:
Cấp cao nhất là cấp trung ương (trong đó có các ban, bộ, ngành Trung ương của Đảng,
Chính phủ, Quốc hội); cấp thứ hai là cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương
(trong đó có các sở, ban, ngành của tỉnh/thành ủy, ủy ban nhân dân, hội đồng
nhân dân tỉnh/thành); cấp thứ ba là cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc
tỉnh (trong đó có các phòng, ban của huyện/ quận ủy, ủy ban nhân dân, hội đồng
nhân dân huyện/quận); cấp thứ tư là cấp xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện,
quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.
Trong những năm qua, bộ máy của hệ thống
chính trị nước ta có nhiều cải tiến, đổi mới, nhờ đó đất nước đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn hạn chế
như Đảng đã chỉ ra tại Đại hội XII: “tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính
trị còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hiệu quả hoạt động chưa cao”(5). Một trong những nguyên nhân của sự cồng
kềnh là do chiều dọc nhiều cấp, chiều ngang thì nhiều cơ quan đơn vị. Bốn cấp
(chiều dọc) của hệ thống chính trị đều có đầy đủ các bộ phận cấu thành (chiều
ngang). Chính vì bốn cấp từ trung ương cho đến xã đều thiết lập các thiết chế
(các cơ quan, đơn vị) của Đảng, chính quyền Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị - xã hội nên tất yếu dẫn tới sự cồng kềnh, nhiều tầng nấc của hệ
thống chính trị.
Nhằm khắc phục hạn chế của hệ thống chính trị,
ngày 25-10-2017, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số
18-NQ/TW Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống
chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, với mong muốn hoàn thiện tổ
chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, nâng cao chất lượng, hiệu
quả. Tuy nhiên, tại Đại hội XIII (năm 2021), khi đánh giá về hệ thống chính trị,
Đảng ta thừa nhận hệ thống chính trị còn nhiều hạn chế: “Phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với hệ thống chính trị, trọng tâm là đối với Nhà nước còn chậm đổi mới,
có mặt còn lúng túng. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy
đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao”(6);
“Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương chưa đổi mới mạnh mẽ; chức
năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng, hiệu lực, hiệu quả hoạt
động còn hạn chế”(7); “Việc đổi mới
nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới… Một bộ phận cán bộ, đảng
viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến
nghị của nhân dân và giải quyết kịp thời những quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện
vọng chính đáng của người dân. Quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị
vi phạm...”(8).
Tổng kết bảy năm triển khai thực hiện Nghị
quyết số 18-NQ/TW Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của
hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Đảng ta đưa ra Kết
luận số 121-KL/TW ngày 24-01-2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về
tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW. Trong đó, khẳng định những thành tựu đạt được,
Đảng cũng thừa nhận bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn nhiều hạn chế như:
“cơ chế vận hành của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị vẫn
còn nhiều hạn chế; việc phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền giữa các cơ
quan, tổ chức còn chưa thực sự đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có
nơi bỏ sót hoặc không rõ trách nhiệm, làm giảm sự chủ động, sáng tạo, phát sinh
phiền nhiễu, tiêu cực, cản trở phát triển, giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Sắp
xếp tổ chức bộ máy chưa thực sự gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại, nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và thu hút nhân tài. Chi
phí vận hành hệ thống tổ chức bộ máy lớn, làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát
triển, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của Nhân dân”.
Cũng trong Kết luận số 121-KL/TW, Đảng ta đã
thông qua phương án sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy. Theo đó kết thúc hoạt động,
chuyển chức năng nhiệm vụ của một số ban, bộ, ngành trung ương nhằm giảm đầu mối
các cơ quan trung ương, theo đó, giảm số lượng sở, ban, ngành ở cấp tỉnh. Đây
là chủ trương hết sức đúng đắn, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, được nhân
dân đồng tình ủng hộ. Hiện nay, Đảng ta đã có chủ trương xóa bỏ cấp huyện, sáp
nhập cấp xã nhằm giảm đầu mối đơn vị hành chính. Việc sáp nhập các đơn vị hành
chính không chỉ làm tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, mà còn tạo ra không
gian phát triển mới, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới.
2.3. Một số giải pháp nhằm tiếp tục
hoàn thiện bộ máy hệ của thống chính trị theo hướng “Tinh
- gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên phát
triển mới của dân tộc Việt Nam
Một là, tăng cường tuyên truyền chủ trương của
Đảng về tiếp tục hoàn thiện bộ máy hệ của thống chính trị thực sự “Tinh - gọn -
mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” nhằm thống nhất nhận thức trong cán bộ,
đảng viên và nhân dân
Việc sáp nhập các bộ, ban, bộ ngành; việc xóa
bỏ cấp huyện; việc sáp nhập các đơn vị hành chính sẽ tạo tiền đề quan trọng cho
việc hình thành bộ máy của hệ thống chính trị “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng -
hiệu lực - hiệu quả”. Hệ thống chính trị “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu
lực - hiệu quả” là điều kiện, tiền đề không thể thiếu nhằm thực hiện mục tiêu tốt
đẹp của kỷ nguyên phát triển mới. Tuy nhiên, việc sáp nhập các bộ, ban, bộ
ngành; việc xóa bỏ cấp huyện; việc sáp nhập các đơn vị hành chính cũng sẽ ảnh
hưởng đến lợi ích của một số cá nhân nhất định, do đó, có thể xuất hiện một số
tâm tư, trăn trở, thậm chí là lực cản. Chính vì vậy, cần tăng cường tuyên truyền
chủ trương của Đảng nhằm thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân
dân, bảo đảm sự thông suốt từ trung ương xuống cơ sở, bảo đảm thống nhất ý Đảng
và lòng dân về tiếp tục hoàn thiện bộ máy hệ của thống chính trị theo hướng
“Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”.
Đồng thời, phải tăng cường đấu tranh phản bác
các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động đang xuyên
tạc, chống phá chủ trương đúng đắn của Đảng nhằm hoàn thiện thống chính trị
“Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” để nhân dân trong nước và
thế giới nhận thức rõ rằng, chủ trương của Đảng đều vì lợi ích chung của quốc
gia, dân tộc; vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; vì sự phát
triển phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên thế
giới.
Hai là, tiếp tục tinh gọn đầu mối cơ quan,
đơn vị và tinh giản cán bộ công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị của hệ
thống chính trị một cách khoa học
Thực hiện việc xóa bỏ cấp huyện, đồng thời
sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã, cán bộ, công chức, viên chức ở trung
ương và cấp tỉnh sẽ gần dân hơn, việc lãnh đạo, chỉ đạo từ cấp trên xuống cấp
cơ sở (cấp xã) sẽ nhanh nhạy, hiệu quả hơn; ngược lại, những phản ánh từ cơ sở
lên cấp tỉnh, cấp trung ương cũng nhanh chóng hơn, qua đó trung ương, tỉnh giải
quyết, xử lý một cách kịp thời nên đem lại hiệu quả, chất lượng cao hơn. Việc
sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã còn nhằm giảm đầu mối, qua đó tinh gọn được
bộ máy của hệ thống chính trị, làm cho hiệu lực, hiệu quả được tăng lên.
Đồng thời với tinh gọn các đầu mối các cơ
quan từ trung ương tới cấp xã và sáp nhập các đơn vị hành chính, cần phải tinh
giản biên chế, tinh giản đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ
quan, đơn vị của hệ thống chính trị các cấp một cách khoa học để các cơ quan,
đơn vị đó thực sự tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả, đáp ứng
yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới. Khắc phục tình trạng “Số lượng cán bộ cấp
xã và đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công vẫn còn quá lớn; phẩm
chất, năng lực, uy tín còn nhiều hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”(9).
Trong quá trình tinh giản cán bộ, công chức, viên chức phải giữ được người tài,
có tâm huyết, có tinh thần cống hiến, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu
trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và
dám hành động vì lợi ích chung của cơ quan, đơn vị nói riêng, của quốc gia dân
tộc nói chung.
Việc tinh gọn đầu mối cơ quan, đơn vị và tinh
giản số lượng cán bộ, công chức, viên chức phải tuân theo tinh thần của
V.I.Lênin, đó là “thà ít mà tốt”(10),
“Cần phải tỏ ra đặc biệt keo cú về mặt số lượng”(11) và
“chỉ có làm cho bộ máy của chúng ta trong sạch đến tột mức, chỉ có giảm bớt đến
mức tối đa tất cả những cái không tuyệt đối cần thiết, chúng ta mới có thể đứng
vững được”(12).
Ba là, tăng cường áp dụng thành tựu khoa học
công nghệ vào trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả
Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển
như hiện nay, việc áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động của các tổ chức, cơ
quan, đơn vị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả là xu thế tất yếu khách. Do đó,
việc ứng dụng khoa học công nghệ vào các hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị
nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả là vấn đề thời sự cấp bách. Đó là chuyển đổi
số để xây dựng Chính phủ số, Quốc hội số,...; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, các phần
mềm quản trị thông minh, rô-bốt thông minh,... vào các hoạt động của các thiết
chế trong hệ thống chính trị để vừa tinh gọn tổ chức, vừa nâng cao năng lực, hiệu
lực, hiệu quả.
Ứng dụng khoa học công nghệ không chỉ giúp
làm tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, mà còn giúp cho người dân và doanh
nghiệp tiếp cận các dịch vụ hành chính công một cách nhanh nhất, tạo điều kiện
thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế.
Đồng thời, ứng dụng khoa học công nghệ cũng giúp cho bộ máy của hệ thống chính
trị tiếp nhận những phản ánh của người dân và doanh nghiệp một cách nhanh
chóng, nhờ đó đưa ra những quyết sách đúng đắn nhằm kiến tạo phát triển, nhờ đó
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển
mới của dân tộc Việt Nam.
3. Kết luận
Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam
đặt ra yêu cầu mới đối với bộ máy của hệ thống chính trị, đó là phải hoàn thiện
bộ máy của hệ thống chính trị để thực sự “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu
lực - hiệu quả”. Mặc dù trong những năm qua, bộ máy của hệ thống chính trị đã
có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Do đó,
việc đánh giá khách quan thực trạng bộ máy hệ của thống chính trị nước ta, trên
cơ sở đó, đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện theo hướng “Tinh - gọn - mạnh -
hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” là hết sức cần thiết. Việc thực hiện quyết liệt,
đồng bộ các giải pháp nói trên chắc chắn sẽ hình thành bộ máy của hệ thống
chính trị thực sự “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, góp phần
hiện thực hóa thành công những đặc trưng, mục tiêu tốt đẹp trong kỷ nguyên phát
triển mới của dân tộc Việt Nam.
(nguồn
lyluanchinhtri.vn)
Ngày
nhận bài: 19-3-2025; Ngày bình duyệt: 4 -4-2025; Ngày duyệt đăng: 10-4-2025.
Email
tác giả: dinhvanthuy@gmail.com
(1) Tổng Bí thư Tô Lâm: Tinh - gọn - mạnh
- hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả, https://www.tapchicongsan.org.vn,
ngày 5-11-2024.
(2) Tổng Bí thư Tô Lâm: Một số nội dung
cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến
lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, https://www.tapchicongsan.org.vn,
ngày 1-11-2024.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.13, Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 66.
(4) Nguyễn Văn Giang, Đinh Ngọc Giang, Nguyễn Ngọc
Ánh (đồng chủ biên): Xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam trong tình
hình mới, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 14.
(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.45.
(6), (7), (8), (9) ĐCSVN: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr. 93, 90, 88-89, 90.
(10), (11), (12) V.I.Lênin: Toàn
tập, t.45, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 445, 446, 459.