
Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng
chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan Triển lãm "Những thành tựu trong
phát triển kinh tế tư nhân và các gian hàng trưng bày sản phẩm của các doanh
nghiệp tư nhân"_Nguồn: nhandan.vn
1. Mở đầu
Kinh
tế tư nhân từ chỗ bị coi là “tàn dư” của chế độ xã hội cũ, trong thời kỳ đổi mới,
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam dần thừa nhận đây là một bộ phận quan trọng,
và đến nay đã được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc
gia. Kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế tất yếu trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, một động lực quan trọng khơi dậy nguồn lực tạo ra những chuyển
biến đối với nền kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
Trong
kỷ nguyên mới của dân tộc, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá đúng vai
trò của kinh tế tư nhân nhằm thống nhất về nhận thức, tạo ra những chuyển biến
về hành động để kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất
của nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu “Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm
thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu
nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(1).
2. Nội dung
2.1. Quá
trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi
mới
Giai
đoạn 1986 - 2001: Bước đầu đổi mới nhận thức về kinh tế tư nhân
Mở
đầu thời kỳ đổi mới, trên cơ sở vận dụng quan điểm của V.I. Lênin, “coi nền
kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”(2) lên chủ nghĩa xã hội, và
xuất phát từ thực tế khách quan, tại Đại hội VI, Đảng chính thức thừa nhận kinh
tế tư nhân là một thành phần quan trọng trong đầu tư và phát triển kinh tế - xã
hội ở Việt Nam. Đảng khẳng định: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi
chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế... Xóa bỏ những thành kiến
thiên lệch...”(3), “bằng những biện
pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự
liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”(4). Theo đó, các thành phần kinh tế phi xã
hội chủ nghĩa được thừa nhận sự tồn tại và hoạt động dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của
thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nhưng lúc này, kinh tế tư nhân vẫn được
coi là đối tượng “cần có chính sách sử dụng và cải tạo”(5).
Nghị
quyết số 10-NQ/TW ngày 05-4-1988 của Bộ Chính trị khóa VI xác định hộ nông dân
là đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó đổi mới cơ bản cách thức quản lý hợp tác xã
nông nghiệp, tạo động lực cho kinh tế tư nhân trong nông nghiệp hồi phục và
phát triển năng động, bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa.
Nghị
quyết số 16-NQ/TW ngày 15-7-1988 của Bộ Chính trị khóa VI và các nghị quyết sau
đó tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới, nhất quán thực hiện chính sách kinh tế
nhiều thành phần, khẳng định kinh tế tư nhân được phát triển trong những ngành
có lợi cho quốc kế dân sinh. Đó là khởi đầu quan trọng trong đổi mới nhận thức
đối với kinh tế tư nhân mở đường cho những bước đột phá sau này.
Tiếp
tục quan điểm của Đại hội VI, Đại hội VII (tháng
6-1991) đưa ra quan điểm rõ ràng hơn về việc khuyến khích và tạo điều kiện
cho kinh tế tư nhân phát triển. Trong đó khẳng định: “Kinh tế tư nhân được phát
triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước”(6), đồng thời “mọi người được tự do kinh doanh
theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp”(7). Do đó, “kinh tế tư bản tư nhân được
phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề
mà luật pháp không cấm”(8). Kinh
tế tư nhân từ chỗ bị coi là một thành phần kinh tế “tàn dư” của chế độ xã hội
cũ, có thể sử dụng nhưng cần “cải tạo” bằng những bước đi thích hợp, đến là một
thành phần kinh tế độc lập, có tiềm năng phát triển và đóng góp cho sự phát triển
kinh tế đất nước.
Đại
hội VIII (năm 1996), Đảng tiếp tục “thực hiện
nhất quán, lâu dài chính sách này, khuyến khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong
và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển, yên tâm làm ăn
lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử bình đẳng với mọi thành
phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh
doanh”(9).
Giai
đoạn 2001 - 2011: Thể chế hóa chính sách về kinh tế tư nhân
Từ
nhận thức kinh tế “tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho
quốc kế dân sinh do luật pháp quy định”(10) (Đại hội VII); đến Đại hội IX (tháng 01-2001) của Đảng đã có bước phát triển
mới trong nhận thức: “Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển
không hạn chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật
không cấm”(11), “tạo môi trường
kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển”(12) trong nền kinh tế nhiều thành phần
định hướng xã hội chủ nghĩa(13) ở
Việt Nam.
Đây
là lần đầu tiên trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đưa ra những đánh giá xác đáng về
vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã
hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân,
tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất
nước.
Đến
Đại hội X, Đảng nêu rõ: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những
động lực của nền kinh tế”(14) với
nhiều thành phần kinh tế trên cơ sở nhiều hình thức sở hữu. Đây cũng là lần đầu
tiên kinh tế tư nhân được xác định chính thức với tư cách là một thành phần
kinh tế được khuyến khích phát triển. Đồng thời, cũng là lần đầu tiên, vấn đề đảng
viên làm kinh tế tư nhân được Đảng chính thức công nhận. Thực tế, vấn đề này đã
được đặt ra và tranh luận từ những năm đầu thời kỳ đổi mới, nhưng tới Hội nghị
Trung ương 3 khóa X mới thảo luận và thông qua “Quy định đảng viên làm kinh tế
tư nhân”. Tinh thần được nhấn mạnh là đảng viên tiên phong, gương mẫu trong mọi
lĩnh vực, để vừa phát huy được khả năng làm kinh tế của đảng viên, vừa giữ được
tư cách, phẩm chất, bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của Điều lệ Đảng, nghị quyết,
quyết định của Đảng và các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà
nước. Điều này đã mở đường cho đảng viên kinh doanh hợp pháp nhằm huy động,
phát huy tiềm năng của mọi người dân, trong đó có đội ngũ đảng viên, tạo động lực
để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Giai
đoạn 2011 đến nay: Hoàn thiện thể chế và định hướng chiến lược
Đại
hội XI của Đảng chủ trương hoàn thiện cơ chế, chính sách đổi mới mô
hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh, áp dụng các hình thức thu hút đầu tư đa dạng, hấp dẫn để huy động và sử
dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế, thúc đẩy hình thành
các tập đoàn kinh tế tư nhân, khuyến khích tư nhân góp vốn vào các tập đoàn
kinh tế nhà nước. Đây là bước phát triển về tư duy lý luận của Đảng, tạo cơ sở
cho xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế tư
nhân ở Việt Nam.
Ngày
9-12-2011, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát
huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết nhấn mạnh tầm quan trọng của
đội ngũ doanh nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc
biệt trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Những quan điểm của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013: “Nền
kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều
hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”(15). Đồng thời, khuyến khích hình thành các
tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế
nhà nước. Điều này cho thấy, Đảng đã nhận thức rõ trong phát triển kinh tế, sự
phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân là một xu thế tất yếu, là kênh quan
trọng giúp Nhà nước thực thi nhiệm vụ kinh tế đã đề ra.
Đại
hội XII có những phát triển mới trong tư duy của Đảng về kinh tế tư nhân, đồng
thời yêu cầu tiếp tục “hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi
phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở
thành một động lực quan trọng của nền kinh tế”(16),
“khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước,
hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi
của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động”(17),
nhằm huy động nguồn lực xã hội. “Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu
doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60 -
65%”(18); “tổng vốn đầu tư toàn
xã hội đạt 17,3 triệu tỷ đồng, tương đương 33,2% GDP”(19).
“Từ chỗ bị coi là “tàn dư” của chế độ xã hội cũ, kinh tế tư
nhân dần được thừa nhận là một bộ phận quan trọng, đến nay đã được xác định là
một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
Ngày
04-5-2025 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số
68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Việc ưu tiên phát triển kinh tế tư
nhân với tư cách là một khu vực kinh tế có nhiều thế mạnh trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trương đúng đắn, hợp quy luật, vận
dụng sâu sắc quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ
quá độ. Đảng khẳng định: kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất
của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. “Tốc độ tăng trưởng khu vực tư
nhân bình quân 10-12%/năm, cao hơn tốc độ tăng GDP chung của cả nước. Đóng góp
vào GDP 55-58%, vào ngân sách nhà nước 35-40%, và tạo việc làm cho 84-85% lực
lượng lao động. Năng suất lao động khu vực tư nhân tăng bình quân 8,5-9,5%/năm”(20). “Quy mô doanh nghiệp tăng mạnh. Cả nước
có 2 triệu doanh nghiệp tư nhân hoạt động (tương đương 20 doanh nghiệp/1.000
dân). Hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân lớn có khả năng tham
gia chuỗi giá trị toàn cầu”(21),
thương hiệu tầm khu vực và quốc tế. Năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số của khu vực tư nhân thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 5 nước
hàng đầu châu Á. Đến năm 2045, khu vực tư nhân được định hướng sẽ phát triển
nhanh, mạnh, bền vững, có năng lực cạnh tranh cao trên phạm vi khu vực và quốc
tế. Việt Nam “có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp tư nhân, đóng góp trên 60% GDP quốc
gia”(22).
Qua
gần 40 năm đổi mới, quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân đã có sự phát triển
triển mạnh mẽ: từ chỗ là “đối tượng cải tạo” đến được công nhận là “một động lực
quan trọng của nền kinh tế”.
2.2.
Thực trạng phát huy vai trò động lực quan trọng của kinh tế tư nhân
Sau
gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã
có những bước phát triển quan trọng:
Một
là, về số lượng doanh nghiệp thành lập tăng mạnh,
“từ 5.000 doanh nghiệp năm 1990 lên 50.000 doanh nghiệp năm 2000, và 200.000
doanh nghiệp năm 2005 (tức gấp 40 lần sau 15 năm)”(23);
“giai đoạn 2010 - 2020, bình quân mỗi năm có trên 100.000 doanh nghiệp được thành
lập mới; giai đoạn 2021 đến nay, bình quân mỗi năm có hơn 145.000 doanh nghiệp
thành lập mới”(24). Đến nay “có
hơn 940.000 doanh nghiệp, hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP,
hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước”(25).
Hai
là, đóng góp vào thu ngân sách nhà nước liên tục
tăng, “năm 2010 mới chỉ đạt 70 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách
nhà nước; đến năm 2015 đạt 129,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,7% và tăng 85% so với
năm 2010. Trong những năm gần đây, đóng góp của khu vực này tăng nhanh. Tốc độ
đóng góp vào thu ngân sách nhà nước của khu vực kinh tế tư nhân luôn cao hơn tốc
độ tăng thu ngân sách chung của cả nền kinh tế. Năm 2016 đạt 157,1 nghìn tỷ đồng,
chiếm 13,88%; đến năm 2020 đạt 247,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,36% và gấp 3,5 lần
năm 2010, gấp gần 2 lần năm 2015”(26) .
“Năm 2023, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 46% GDP, tạo 30% nguồn thu ngân
sách nhà nước”(27), góp phần quan
trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà
nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.
Ba
là, tạo việc làm, thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh
tế, đặc biệt ở vùng nông thôn, địa bàn khó khăn. “Giai đoạn 2017 - 2024, khu vực
kinh tế tư nhân sử dụng bình quân hơn 43,5 triệu lao động, chiếm hơn 82% tổng số
lao động có việc làm trong nền kinh tế”(28).
Năng suất lao động trong khu vực kinh tế tư nhân tăng trung bình 4-6%/năm trong
giai đoạn 2016 – 2023(29), đóng
góp đáng kể vào mức tăng năng suất lao động chung của cả nước.
Bốn là, tỷ
trọng vốn đầu tư của kinh tế tư nhân trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng
nhanh, “từ 44% năm 2010 lên 56% năm 2024; đóng góp hơn 30% tổng thu ngân sách
nhà nước, khoảng 30% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu”(30). Đây là khu vực năng động trong đổi mới công nghệ,
sáng tạo sản phẩm và dịch vụ. Các doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
tăng nhanh, “từ 1.500 startup năm 2015 lên khoảng 4.000 startup năm 2024”(31). Nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn hình
thành, phát triển, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường khu vực và toàn
cầu, đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng nội địa, tham gia tích cực
các Hiệp định thương mại tự do (FTA) như EVFTA, CPTPP….
Mặc
dù có nhiều đóng góp quan trọng, khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn những hạn chế,
chưa phát huy hết tiềm năng, nội lực và chưa đóng góp xứng đáng cho kinh tế quốc
gia.
Một
là, mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân đề ra tại
Nghị quyết 10-NQ/TW năm 2017 (đạt 1,5 triệu doanh nghiệp và đóng góp 55% GDP vào
năm 2025) chưa đạt được. Trong đó, chưa có các tập đoàn lớn mang
tính dẫn dắt nền kinh tế, chưa có doanh nghiệp lọt vào top 500 doanh nghiệp
hàng đầu thế giới. Khu vực kinh tế tư nhân chưa thực sự trở thành lực lượng dẫn
dắt nền kinh tế như kỳ vọng; tỷ trọng đầu tư vào các ngành, lĩnh vực có tính dẫn
dắt, tạo động lực còn thấp, chưa có các dự án quy mô đủ lớn để tạo động lực bứt
phá, sức lan tỏa, hỗ trợ cơ cấu lại và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Hai
là, “hơn 97% doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ
và vừa, siêu nhỏ (70% số doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, dưới 10 lao động và vốn
đăng ký dưới 5 tỉ đồng)(32), sức
cạnh tranh, hiệu quả hoạt động, kỹ năng quản trị còn hạn chế; năng suất lao động
thấp hơn khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nhà nước. Năng suất lao động
của khu vực kinh tế tư nhân thấp nhất trong ba khu vực, “năm 2020 là 90,8 triệu
đồng/lao động đã tăng lên 124 triệu đồng/lao động năm 2023, trong khi khu vực
kinh tế nhà nước tương ứng là 405,6 triệu đồng đã tăng lên 536 triệu đồng/lao động
và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 339,9 triệu đồng đã tăng lên 398,1 triệu
đồng/lao động”(33). Quá
trình chuyển đổi số diễn ra chậm (65% doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có chiến lược
ứng dụng công nghệ số); tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân tham gia vào chuỗi cung ứng
của doanh nghiệp FDI thấp (chỉ khoảng 21%)(34).
Ba
là, tỷ lệ doanh nghiệp đang hoạt động bình quân
so với dân số còn thấp, thấp hơn so với các nước trong khu vực. So với các nước,
tỷ lệ hộ kinh doanh so với dân số Việt Nam năm 2024 chỉ đạt 2,17%, thấp hơn nhiều
so với Mỹ (6,88%), Canađa (8,97%), Anh (8,55%), Ấn Độ (4,19%), và Thái Lan
(5,63%)(35). Tốc độ doanh nghiệp
rút khỏi thị trường tăng nhanh từ năm 2021 đến nay, phản ánh những khó khăn
trong bối cảnh biến động kinh tế trong nước và quốc tế (36).
Bốn
là, việc tiếp cận các nguồn lực còn khó khăn, nhất
là về tài chính, tín dụng. Theo “khảo sát của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế
Trung ương cũng cho thấy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các nguồn tài
chính chính thống qua hệ thống ngân hàng và các nguồn chính thống khác chỉ chiếm
25%. Còn lại, đến 75% doanh nghiệp vẫn phải huy động từ bạn bè, vay mượn phi
chính thống”(37). Các doanh nghiệp
tư nhân chiếm chưa đến 10% tổng vốn hóa thị trường chứng khoán.
Năm
là, kết nối giữa doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp
tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI còn hạn chế. Theo số liệu,
“tổng dòng vốn FDI của Việt Nam năm 2024 đạt 36 tỷ USD, tương đương 10% GDP.
Lĩnh vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút khoảng 35% tổng lực lượng lao động của
Việt Nam. Mặc dù đạt được những kết quả ấn tượng nhưng thực tế cho thấy Việt
Nam vẫn gặp khó khăn trong việc thiết lập mối liên kết giữa các doanh nghiệp
FDI và các doanh nghiệp địa phương khi chỉ có khoảng 18% các doanh nghiệp trong
nước tham gia vào chuỗi giá trị và thậm chí con số này còn giảm theo từng năm”(38).
Sáu
là, một bộ phận doanh nghiệp tư nhân chưa nghiêm
túc tuân thủ pháp luật, thông tin chưa minh bạch, thiếu tầm nhìn chiến lược; đạo
đức, văn hóa kinh doanh còn hạn chế (cạnh tranh thiếu lành mạnh, sản xuất hàng
nhái, hàng kém chất lượng, vi phạm hợp đồng…). Thậm chí, một số doanh nghiệp tư
nhân trốn thuế, thao túng thị trường, găm hàng, đội giá… Công tác quản lý hộ
kinh doanh cá thể còn nhiều hạn chế, bất cập. Đối với khu vực hộ kinh doanh cá
thể, năm 2024 có khoảng 2,75 triệu hộ kinh doanh trong số gần 3,7 triệu hộ kinh
doanh, cá nhân kinh doanh (chiếm gần 75%) đóng thuế(39). Hoạt động của nhiều hộ kinh doanh chưa minh bạch,
tư duy ngắn hạn, mang tính thời vụ, thiếu động lực trở thành doanh nghiệp. Tình
trạng cơ sở kinh doanh, hộ kinh doanh vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy,
an ninh trật tự, an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, gây ô nhiễm môi trường
còn phổ biến.
2.3. Giải
pháp phát huy kinh tế tư nhân trong thời kỳ mới
Thứ
nhất, thể chế hóa quan điểm của Đảng, hoàn thiện
thể chế, chính sách, rà soát và sửa đổi hệ thống pháp luật của Nhà nước, nhằm
xóa bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn trong phát triển kinh tế tư nhân. Cụ
thể hóa hơn nữa quyền sở hữu tư nhân theo Hiến pháp 2013, bảo đảm tính minh bạch
và bảo vệ pháp lý. Thúc đẩy cơ chế vận hành của “Nhà nước kiến tạo”, chuyển từ
Nhà nước quản lý hành chính sang Nhà nước đồng hành cùng doanh nghiệp tư nhân
thông qua chính sách ưu đãi, giảm rủi ro pháp lý.
Thứ
hai, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
hơn nữa nhằm đơn giản hóa quy trình gia nhập và rút lui thị trường. “Thực hiện
cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, ít nhất 30% chi phí
tuân thủ pháp luật, ít nhất 30% điều kiện kinh doanh và tiếp tục cắt giảm mạnh
trong những năm tiếp theo” (40) trong
năm 2025. Đồng thời, áp dụng mô hình chính phủ “một cửa điện tử” trong đăng ký
doanh nghiệp, cấp phép đầu tư… Qua đó, hạn chế tình trạng quan liêu, nhũng nhiễu,
tiêu cực trong hoạt động vận hành của doanh nghiệp như thanh tra, kiểm tra
doanh nghiệp.
Thứ
ba, phát triển kinh tế tư nhân là một cách
tạo điều kiện để Nhà nước tiếp cận và huy động được các nguồn lực xã hội, như
giải quyết khó khăn về vốn, phát triển thị trường vốn (cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp) để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Khuyến khích các quỹ đầu
tư mạo hiểm hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân khởi nghiệp sáng tạo. Từ đó, góp phần
tiếp cận đất đai và công nghệ, ưu tiên doanh nghiệp tư nhân tham gia đấu thầu dự
án công, cung cấp đất công nghiệp với giá hợp lý. Hỗ trợ chuyển giao công nghệ
từ doanh nghiệp nhà nước và đối tác nước ngoài.
Thứ
tư, phát triển nguồn nhân lực số chất lượng
cao trong tiến trình chuyển đổi số. Phát triển, phát huy vai trò nguồn nhân lực
số là chìa khóa trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực số là trung tâm mang tính chiến lược nhằm tạo điều kiện phát triển
nguồn nhân lực số lớn về số lượng, mạnh về chất lượng, bảo đảm yêu cầu của quá
trình chuyển đổi số quốc gia hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học để xây
dựng chương trình đào tạo thực tiễn, đáp ứng lực lượng lao động trong bối cảnh
Cách mạng công lần thứ tư.
Thứ
tư, thúc đẩy liên kết hiệu quả giữa khu vực
doanh nghiệp tư nhân và khu vực nhà nước thông qua xây dựng và triển khai các mô
hình hợp tác công - tư (PPP) phù hợp với điều kiện thực tiễn. Ưu tiên tạo điều
kiện để doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư vào các lĩnh vực then chốt như
phát triển hạ tầng, năng lượng tái tạo, nhằm huy động nguồn lực xã hội cho tăng
trưởng bền vững. Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các hiệp
hội doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước để bảo đảm môi trường chính sách ổn
định, minh bạch và hiệu quả.
Thứ
năm, tăng cường vai trò giám sát và phản biện
xã hội. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội và truyền thông xã hội. Thành lập
diễn đàn đối thoại thường niên giữa Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp. Công
khai kết quả thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân để bảo đảm tính
minh bạch.
Các
giải pháp cần được triển khai đồng bộ, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, kết hợp
giữa cải cách thể chế và nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp tư nhân. Đề
cao tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong quá trình phát triển kinh
tế tư nhân, đặc biệt chú trọng đến doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
3. Kết luận
Chủ
trương về phát triển kinh tế tư nhân của Đảng từng bước được hoàn thiện qua các
kỳ đại hội trong thời kỳ đổi mới. Từ chỗ coi kinh tế tư nhân là thành phần bổ
trợ, đến nay Đảng khẳng định đây là một động lực quan trọng nhất của sự phát
triển kinh tế quốc gia. Sự chuyển biến đó phản ánh tư duy đổi mới, thực tiễn
hóa lý luận huy động mọi nguồn lực và kiên định mục tiêu phát triển đất nước vì
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kinh tế tư nhân được khuyến
khích phát triển lành mạnh, bình đẳng với các thành phần khác, gắn với lợi ích
quốc gia - dân tộc. Đây là minh chứng rõ nét cho bản lĩnh, sự nhạy bén và năng
lực lãnh đạo trong thời kỳ đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.
(nguồn
lyluanchinhtri.vn)
Ngày nhận bài: 22-6-2025; Ngày bình
duyệt: 10-10-2025; Ngày duyệt đăng:
Email tác giả: tsdangvanluan@gmail.com
(1), (17), (18)
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr.112, 130, 240.
(2)
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1987, tr.56.
(3), (4)
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI,
VII, VIII, IX, X), phần I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.58, 53.
(5), (6), (7), (8), (9),
(11), (12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần I, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1991, tr.333, 374, 374, 437, 622-623, 149, 26.
(13) ĐCSVN: Nghị
quyết số 14-NQ/TW ngày 18-3-2002 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và
tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân.
(14)
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI,
VII, VIII, IX, X), phần II, Sđd, tr.354.
(15)
Quốc hội: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb
Lao động, Hà Nội, 2014, tr.26.
(16)
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn
phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.107-108.
(19)
Vương Trần: Việt Nam bước vào nhóm các nước thu nhập trung bình cao, https://laodong.vn,
ngày 12-10-2025.
(20), (21), (22), (25),
(40) ĐCSVN: Nghị quyết số
68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư
nhân.
(23)
Ánh Phương, Gần 1 triệu doanh nghiệp tư nhân tạo việc làm cho hơn 43
triệu lao động, https://vov.vn, ngày 18-05-2025.
(24), (36)
Anh Phương: Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng: “Năm 2028 Việt Nam
vào tốp 3 ASEAN về môi trường kinh doanh”, https://www.sggp.org.vn, ngày
19-06-2025.
(26), (27)
Tạp chí điện tử Con số & Sự kiện: Kinh tế tư nhân: Thực trạng và tiềm
năng phát triển, https://consosukien.vn, ngày 07-9-2023.
(28), (30)
Nhị Hà: Kinh tế tư nhân vươn mình, https://daidoanket.vn/, ngày
25-05-2025.
(29)
Nguyễn Quỳnh: Kinh tế tư nhân có thể đóng góp 50% GDP vào năm 2030,
https://vov.vn, ngày 05/03/2025.
(31)
Phương Dung: Việt Nam có 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo,
https://vnexpress.net/, 1-10-2024.
(32)
Vân Phong: Doanh nghiệp tư nhân cần gì để ‘nâng lượng và tăng chất’?, https://thesaigontimes.vn,
ngày 13-10-2024.
(33)
Nguyễn Như Quỳnh: Kinh tế tư nhân - Động lực bứt phá vì một Việt Nam thịnh
vượng, hùng cường, https://vids.mpi.gov.vn, ngày 09-06-2025.
(34)
Nguyễn Hạnh: Doanh nghiệp lớn phải nỗ lực, tiên phong, dẫn dắt các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, https://congthuong.vn, ngày 31-05-2025.
(35)
Diệp Diệp: Bộ Tài chính đề xuất cách quản lý thuế mới với 3,6 triệu hộ
kinh doanh, https://vov.vn, ngày 12-6-2025.
(37)
Gia Cư: Khơi thông “điểm nghẽn” tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa,
https://thoibaotaichinhvietnam.vn, ngày 31-7-2024.
(38)
VnEconomy: Liên kết giá trị giữa FDI với doanh nghiệp trong nước,
https://vneconomy.vn, ngày 28-4-2025.
(39) Phương Dung: Khuyến khích hộ kinh doanh
lên doanh nghiệp để được hưởng ưu đãi, https://vnexpress.net, ngày
17-6-2025.