Thứ Ba, ngày 10/05/2022, 14:26
Lượt xem: 533

Phát triển lực lượng sản xuất trong xây dựng kinh tế số ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

PHAN MẠNH TOÀN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(GDLL) - Phát triển kinh tế số là xu thế khách quan của thời đại trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang trên đà tăng tốc rất mạnh mẽ. Xây dựng, phát triển kinh tế số cũng là đòi hỏi tất yếu từ cuộc sống, tạo tiền đề vật chất cần thiết để Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. Bài viết phân tích sự phát triển lực lượng sản xuất trong xây dựng kinh tế số ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khóa: Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam; kinh tế số; phát triển lực lượng sản xuất; xây dựng kinh tế số.

Từ khóa: Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam; kinh tế số; phát triển lực lượng sản xuất; xây dựng kinh tế số. 

(Ảnh: baochinhphu.vn)

Đặt vấn đề

Lực lượng sản xuất (LLSX) đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Không thể có nền kinh tế phát triển cao nếu không dựa trên nền tảng vững chắc của nó là LLSX hiện đại. Trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại... giữa các nước ngày càng quyết liệt; Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang lại cả thời cơ và đặt ra những thách thức đối với mọi quốc gia dân tộc; phát triển kinh tế xanh, kinh tế số trở thành xu hướng quan trọng, được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam.

1. Phát triển kinh tế số là xu thế khách quan

Những năm tới, Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn và sẽ phải thực hiện đầy đủ, hiệu quả hơn các cam kết khi tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong khi đó, nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn không ít hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Kết quả phát triển kinh tế - xã hội mặc dù đã được cải thiện trên nhiều mặt so với những năm trước đây; qui mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng tăng lên; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Tuy nhiên, mức tăng trưởng kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và thiếu tính bền vững, chưa thu hẹp được khoảng cách và bắt kịp với các nước phát triển. Năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, chưa thực sự dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nền tảng kinh tế vĩ mô, khả năng chống chịu của nền kinh tế chưa thật vững chắc. Để vượt qua khó khăn, thách thức đó, một trong những đòi hỏi bức thiết hiện nay là phải “thực hiện quyết liệt chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế số, xã hội số”[1, tr.213], qua đó giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, tạo động lực để phát triển kinh tế số (KTS), đáp ứng yêu cầu của đất nước trong bối cảnh mới.

Theo nghĩa chung nhất, KTS được hiểu là “nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên ứng dụng công nghệ số”. Ở Việt Nam, việc ứng dụng các thành tựu mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, đẩy mạnh xây dựng, phát triển KTS là cơ hội để có thể “đi tắt đón đầu”, thu hẹp khoảng cách với các nước, hoàn thành mục tiêu “trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” vào giữa thế kỷ XXI.

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước cũng thể hiện rõ quyết tâm trong nhận thức và sự quyết liệt trong hành động nhằm thúc đẩy phát triển KTS, tăng cường khả năng chống chịu hiệu quả của nền kinh tế trước các “cú sốc ngoại sinh”. Văn kiện Đại hội XIII đề ra mục tiêu: “Thực hiện chuyển đổi số quốc gia một cách toàn diện để phát triển kinh tế số , xây dựng xã hội số. Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành xây dựng chính phủ số; đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, KTS”[1, tr.225]. Phấn đấu đến năm 2025, KTS ở Việt Nam đạt khoảng 20% GDP, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 KTS đạt khoảng 30% GDP, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đó là mục tiêu đầy tham vọng nhưng không hề viển vông, ảo tưởng mà hoàn toàn có tính hiện thực và khả thi. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu đó, không thể không phát triển LLSX hiện đại, bởi đây là một trong những điều kiện tiên quyết.

2. Xây dựng kinh tế số ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Một là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Nguồn lực con người (hay nguồn nhân lực) là yếu tố quan trọng hàng đầu của LLSX trong mọi thời đại. Trong các nguồn lực phát triển đất nước nói chung, phát triển nền kinh tế nói riêng, nguồn lực con người giữ vai trò quyết định, là “nguồn lực của mọi nguồn lực”, bởi tất cả các nguồn lực khác chỉ có thể được khai thác, sử dụng hiệu quả và phát huy sức mạnh tối đa của nó khi nguồn lực con người được phát huy. Do đó, để xây dựng, phát triển KTS ở Việt Nam một cách thực sự hiệu quả, vấn đề đầu tiên cần phải thay đổi là nguồn lực con người.

Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao được Đảng xác định là một trong các đột phá chiến lược, bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 cũng xác định: “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển”[1, tr.215-216].

Sau 35 năm đổi mới đất nước, lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: Tỷ lệ người dân biết chữ tăng cao (đạt trên 97%) và tỷ lệ tái mù thấp; chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo so với GDP thuộc loại cao trên thế giới, bắt đầu chú trọng việc áp dụng các phương pháp đào tạo tiên tiến của các tổ chức đào tạo nhân lực quốc tế, vấn đề nâng cao chất lượng, gắn kết đào tạo với nhu cầu lao động của địa phương, doanh nghiệp và các đơn vị sử dụng lao động được coi trọng... Nhờ đó, nguồn nhân lực chất lượng cao tăng cả về số lượng và chất lượng, trong một số ngành, lĩnh vực đạt trình độ khu vực và quốc tế, như công nghệ thông tin, y tế, công nghiệp xây dựng, cơ khí...

Năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 51,6%, trong đó 19,9% có bằng cấp, chứng chỉ; năm 2020 ước đạt 64,5%, trong đó 24,5% có bằng cấp, chứng chỉ. Mục tiêu đến năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 28-30%; đến năm 2030 tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%. Theo dự báo của ILO, trong tương lai, lao động trong các ngành đang tạo việc làm cho nhiều lao động Việt Nam (dệt may, giày dép...) có nguy cơ cao mất việc dưới tác động của những đột phá về công nghệ. Đây là nguy cơ hiện hữu, bởi họ bị kẹt trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với đội ngũ nhân công giá rẻ hơn từ các nước đang phát triển khác và hệ thống người máy đang được ứng dụng ngày càng phổ biến ở các nước phát triển.

Trong bối cảnh đó, để phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển KTS trong điều kiện của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đòi hỏi phải thực sự đổi mới mạnh mẽ, căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng ưu tiên hỗ trợ cho các ngành khoa học, công nghệ bằng các thể chế và chính sách phù hợp: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”[1, tr.115].

Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng lại lực lượng lao động hiện có và đào tạo lực lượng lao động mới theo xu hướng hiện đại đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ truyền thống, tiếp nhận công nghệ hiện đại, tiến tới sáng tạo công nghệ; bảo đảm sự cân đối và đồng bộ giữa lao động phổ thông, lao động kỹ thuật và lao động khoa học. Mặt khác, cũng cần ưu tiên các nguồn lực để đào tạo, phát triển nguồn nhân lực công nghệ chất lượng cao, đào tạo kỹ năng sử dụng công nghệ, góp phần đẩy mạnh khả năng tiếp cận, sử dụng công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cho phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng xã hội học tập, nâng cao dân trí đồng thời tạo những điều kiện tối ưu để mọi người dân có thể tiếp cận và sử dụng thế giới công nghệ số. Bên cạnh đó, phải chú trọng “giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam”[1, tr.136-137].

Như vậy, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xây dựng KTS đang tạo ra những cơ hội và triển vọng, đồng thời đặt ra những thách thức và yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực Việt Nam để tạo ra những nguồn nhân lực có năng lực vượt trội, có khả năng làm việc với công nghệ thông minh và khả năng sử dụng ngoại ngữ thành thạo, tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức mới có thể có những bứt phá trong tương lai.

Hai là, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trên nền tảng phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia

Trong bối cảnh hiện nay, cùng với nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ cũng là yếu tố đặc biệt quan trọng, giữ vai trò “động lực then chốt” trong phát triển LLSX hiện đại. Trên thực tế, khoa học, công nghệ nước ta những năm qua đã có bước phát triển đáng kể so với trước, tiềm lực khoa học, công nghệ quốc gia được tăng cường, một số lĩnh vực khoa học tự nhiên đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới... đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ vào các lĩnh vực của đời sống còn rất khiêm tốn. Đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ tăng về số lượng nhưng chất lượng và năng lực còn hạn chế; cơ cấu trình độ chưa hợp lý, đầu tư ngân sách nhà nước còn dàn trải, phân tán, hiệu quả sử dụng chưa cao. Việc nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học và đổi mới công nghệ còn chậm; các sản phẩm khoa học, công nghệ vẫn bị tụt hậu so với thế giới, làm giảm năng lực cạnh tranh; trình độ cơ khí hóa, tự động hóa, tin học hóa của các ngành kinh tế còn khá thấp. So với trình độ khoa học, công nghệ của nhiều nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới thì trình độ khoa học, công nghệ của nước ta còn một khoảng cách khá xa và về cơ bản vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển "đi tắt đón đầu": “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Năng suất lao động vẫn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và khoảng cách chênh lệch này vẫn tiếp tục gia tăng”[2, tr.70]... Trong khi đó, yêu cầu của nền kinh tế đất nước đang đặt ra là phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điều đó chỉ có thể thực hiện trên cơ sở phát triển KTS dựa vào nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải được xem là động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Do đó yêu cầu đặt ra là cần: “Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng, phát triển, làm chủ công nghệ hiện đại; phát triển một số sản phẩm chủ lực có thương hiệu mạnh, có uy tín trong khu vực và thế giới. Nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số nền kinh tế quốc gia và phát triển KTS”[1, tr.123]. Mặt khác, phải tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị. Chỉ trên cơ sở đó chúng ta mới có thể thực hiện chủ trương “đi tắt đón đầu”, giải phóng tối đa sức sản xuất, nhanh chóng phát triển LLSX hiện đại để xây dựng KTS một cách hiệu quả, đồng thời đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại

Kết cấu hạ tầng là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành LLSX. Mặc dù không trực tiếp tạo ra sản phẩm vật chất, song kết cấu hạ tầng giữ vai trò quan trọng trong việc kết nối các yếu tố của quá trình sản xuất, tạo nên tính đồng bộ và thể hiện trình độ phát triển của LLSX. Trong quá trình phát triển sản xuất nói chung, phát triển KTS hiện nay nói riêng, những yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng có vai trò rất to lớn. Nhận thức được vai trò quan trọng đó, trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2021 - 2030, Đảng nhất quán và nhấn mạnh, phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, qui mô lớn về giao thông, năng lượng và hạ tầng số để tăng cường kết nối với khu vực và thế giới: “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội, ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số”[1, tr.204].

Trên thực tế những năm qua, bên cạnh hạ tầng giao thông quốc gia, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn đều được đầu tư nâng cấp, mở rộng và từng bước hiện đại hóa; hạ tầng giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, du lịch được quan tâm xây dựng, thì hạ tầng năng lượng với nhiều công trình lớn được đầu tư và hoàn thành, đáp ứng yêu cầu phát triển và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; hạ tầng thông tin và truyền thông nước ta cũng phát triển khá hiện đại, rộng khắp, kết nối với quốc tế và bước đầu hình thành “siêu xa lộ thông tin”. Hiện nay, ở Việt Nam đã cáp quang hóa đến cấp xã, thôn, bản với hơn 1 triệu kilômét, phủ sóng thông tin di động đến 98% người dân với công nghệ hiện đại, thuộc nhóm các quốc gia thử nghiệm thành công sớm công nghệ 5G, tốc độ kết nối internet năm 2018 xếp hạng 58 thế giới. Tuy nhiên, việc phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại chưa đạt yêu cầu, chưa cân đối giữa các vùng, miền; một số dự án xây dựng kết cấu hạ tầng chậm tiến độ, chất lượng còn hạn chế, chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới. Do đó, để đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng số, bảo đảm an ninh mạng, tạo điều kiện cho người dân và các doanh nghiệp thuận lợi, an toàn tiếp cận nguồn tài nguyên số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển KTS hiện nay, đòi hỏi phải “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại...; tạo bứt phá trong phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, xây dựng, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia”[1, tr.127].

Kết luận

Lực lượng sản xuất là yếu tố quan trọng hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Hiện nay, phát triển KTS là xu thế của thời đại trong điều kiện của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang trên đà tăng tốc rất mạnh mẽ. Xây dựng, phát triển KTS ở Việt Nam cũng là một đòi hỏi tất yếu từ cuộc sống nếu không muốn ngày càng tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới. Muốn vậy, phát triển LLSX hiện đại với ba trụ cột là nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ tiên tiến, hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại sẽ là nhân tố quyết định cho sự thành công.

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[3] Nguyễn Hoàng Hà (2021), “Xử lý vấn đề việc làm và quan hệ lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4.

[4] Phạm Thị Kiên (2021), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7.

[5] Nguyễn Thị Miền (2021), “Phát triển kinh tế số ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7.