Thứ Hai, ngày 16/05/2022, 15:46

Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Chủ nghĩa xã hội khoa học ở Học viện Chính trị khu vực I đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay

ĐỖ HUYỀN TRANG
Học viện Chính trị khu vực I

(GDLL) - Thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị là một trong những hoạt động chính, cơ bản, hệ trọng của cả hệ thống chính trị nói chung và Học viện Chính trị khu vực I nói riêng. Bài viết đề cập đến thực trạng giảng dạy và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn chủ nghĩa xã hội khoa học gắn với việc đấu tranh, phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở Học viện Chính trị khu vực I giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chất lượng giảng dạy; chủ nghĩa xã hội khoa học.

Phát động cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lần thứ hai - năm 2022. (Ảnh: TTXVN)

Đặt vấn đề

Thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung, phương pháp giảng dạy lý luận chính trị theo hướng tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là một trong những hoạt động chính của Học viện Chính trị khu vực I nói chung và của Khoa Chủ nghĩa xã hội (CNXH) khoa học nói riêng, đang thu hút được sự tham gia tích cực của đội ngũ giảng viên Học viện cũng như của Khoa. Hoạt động giảng dạy và học tập trong thời gian qua đã có những chuyển động tích cực. Đã có rất nhiều giảng viên mạnh dạn vận dụng những nội dung, phương pháp mới vào quá trình giảng dạy các môn trong đó có môn CNXH khoa học, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người học, bài giảng đã phần nào bớt tính chất truyền đạt một chiều, thụ động, nhờ vậy, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng đã có những chuyển biến tích cực.

1. Tầm quan trọng của việc giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học trong chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị

CNXH khoa học là một bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác - Lênin, trực tiếp làm rõ mục tiêu cuối cùng và con đường giải phóng xã hội, giải phóng con người, đồng thời luận giải một cách khoa học về giai cấp công nhân với sứ mệnh lịch sử là xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản; khẳng định các quy luật chính trị - xã hội của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN); kiên định các giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH và xây dựng CNXH hiện thực.

Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt chú trọng nhiệm vụ: “Vận dụng sáng tạo lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học... Xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam”[6, tr.4]. Có thể nói, việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển CNXH khoa học là rất quan trọng. Trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam, đặc biệt từ sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, thì vấn đề đi lên CNXH lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực phản động thừa cơ lấn tới để xuyên tạc, chống phá. Đáng chú ý là một số người, kể cả một số người cộng sản, phai nhạt lý tưởng, mơ hồ, dao động, hoài nghi con đường đi lên CNXH. Một số khác lại có biểu hiện suy thoái về đạo đức và lối sống. Việc giáo dục CNXH khoa học góp phần tích cực vào việc đề phòng và ngăn ngừa những biểu hiện tiêu cực nêu trên. Bởi vì, CNXH khoa học là "biểu hiện lý luận của lập trường giai cấp vô sản" (như chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ). Tiến hành thường xuyên giáo dục về CNXH khoa học nói riêng và lý luận Mác - Lênin nói chung sẽ góp phần giữ vững và nâng cao giác ngộ giai cấp, lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị, lòng tin vào sự nghiệp cách mạng, nhiệt tình, đạo đức và tình cảm cách mạng... cho bản thân giai cấp công nhân, cho Đảng Cộng sản, cán bộ nhà nước và cho toàn thể nhân dân lao động trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

2. Thực tiễn giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học gắn với đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở Học viện chính trị khu vực I hiện nay

Thực tế cho thấy, trước những bước ngoặt lịch sử đặc biệt kể từ năm 1975 cho đến khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ và hiện nay trong tiến trình xây dựng CNXH, các thế lực thù địch thường đẩy mạnh chống phá về mặt tư tưởng bằng những chiêu thức, thủ đoạn mới, trong nội bộ thường có những biểu hiện lệch lạc. Dưới góc độ nghiên cứu, giảng dạy CNXH khoa học, các nhà khoa học đã chỉ ra một số quan điểm của các thế lực thường chống phá liên quan tới lý luận của CNXH khoa học như sau: Quan điểm cho rằng không có thời kỳ quá độ, nội hàm, xu thế, đặc điểm của thời đại là sự mơ hồ. Khi không còn Liên Xô và phe XHCN nữa thì Việt Nam làm sao đi lên CNXH được; cho rằng nền tảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam theo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, không còn phù hợp với thế kỉ XXI; xuyên tạc, phủ nhận lịch sử và thành quả đấu tranh cách mạng vẻ vang của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam...

Trước những luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch, là một ngôi trường trong hệ thống chính trị của Đảng, Học viện Chính trị khu vực I nói chung và khoa CNXH khoa học nói riêng đã thường xuyên có những điều chỉnh trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, nhằm đấu tranh, phản bác lại những quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, nhằm đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái thù địch trong lĩnh vực CNXH khoa học, Khoa CNXH khoa học đã họp và đưa ra nhiều vấn đề phản bác các quan điểm sai trái thù địch và đưa vào nội dung giảng dạy, xây dựng câu hỏi, tình huống phục vụ thảo luận, thi hết môn, thi tốt nghiệp nhằm giúp cho học viên có nhận thức đúng đắn và có cơ sở lý luận, thực tiễn cụ thể để đấu tranh phản bác với các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. 

Ngày 7 - 4 - 2020, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực I đã ban hành thông báo số 216-TB/HVCTKVI về việc điều chỉnh xây dựng đề cương, kế hoạch bài giảng thiết kế đáp ứng yêu cầu bản chất trường Đảng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tập trung vào các nội sung chính như: khung phân tích chuyên đề, quan điểm chính sách của Đảng/Nhà nước liên quan đến nội dung chuyên đề giảng dạy, những vấn đề thực tiễn đặt ra cần giải quyết và phương hướng, giải pháp giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Trên cơ sở đó Khoa đã chỉnh sửa lại đề cương và đưa ra gần 30 câu hỏi cốt lõi cho 09 chuyên đề của bài giảng, các câu hỏi cốt lõi liên tục được chỉnh sửa để phù hợp với thực tiễn các vấn đề cốt lõi của bài giảng. Nhằm truyền thụ kiến thức tới học viên một cách hiệu quả nhất. Khoa cũng xác định rõ mục tiêu tăng cường kết hợp giảng dạy lý luận với giáo dục về nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; cụ thể hóa việc lồng ghép nội dung Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị vào nội dung chương trình của các phần học ở các lớp đào tạo một cách phù hợp.

Sau khi Đại hội XIII của Đảng thành công tốt đẹp (1/2021), Học viện Chính trị khu vực I đã chỉ đạo các đơn vị tăng cường sinh hoạt chuyên môn cập nhật các nội dung mới trong Văn kiện Đại hội XIII vào trong giảng dạy cao cấp lý luận chính trị nói chung và CNXH khoa học nói riêng; tổ chức giới thiệu sách “Những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng” do Hội đồng Lý luận Trung ương ban hành. Chất lượng bài giảng của giảng viên được Ban Giám đốc Học viện cũng như Ban Chủ nhiệm Khoa đánh giá cao qua các giờ duyệt giảng. Công tác nghiên cứu khoa học được chú trọng thông qua các công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, cấp Bộ, các cuộc hội thảo hàng năm.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác giảng dạy CNXH khoa học trong việc góp phần đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn gặp một số hạn chế như: đa số giảng viên Khoa CNXH khoa học còn trẻ, thiếu kinh nghiệm thực tế. Nội dung giảng dạy mang tính hàn lâm, thiếu liên hệ thực tiễn một cách sâu sắc. Đặc biệt, giảng viên đa phần sử dụng phương pháp thuyết trình, thảo luận với học viên nhưng diễn ra còn thiếu sinh động, chưa tối ưu khai thác, sử dụng phương pháp lấy người học làm trung tâm. Bên cạnh đó học viên chưa thực sự tự tìm lấy kiến thức, tinh thần tự học của một số học viên còn chưa cao, chưa nhiệt tình tham gia các buổi thảo luận... điều này đòi hỏi cả giảng viên và học viên cần có sự thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong phương pháp dạy và học của mình. Đặc biệt đối với nội dung đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch, giảng viên cần dành nhiều thời gian hơn, đề xuất, gợi ý nhiều luận điểm để học viên tiếp cận và thể hiện khả năng phản bác của mình trong quá trình tìm hiểu bài.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn chủ nghĩa xã hội khoa học góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Một là, xây dựng đội ngũ giảng viên bảo đảm về số lượng và chất lượng

Với sự thay đổi trong những năm gần đây, các giảng viên trẻ mới được tuyển dụng, chuyển ngạch còn hạn chế nhất định về chuyên môn. Đây cũng là khó khăn của Khoa CNXH khoa học. Do đó, để khắc phục những hạn chế này trong những năm tới Học viện cần có kế hoạch để phát triển đội ngũ giảng viên không chỉ đủ về số lượng mà còn bảo đảm về chất lượng, trong đó, cần quan tâm đến một số công tác sau:

 i. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên bộ môn CNXH khoa học và đội ngũ kế cận. Ngoài việc cử cán bộ, giảng viên tham gia các lớp tập huấn do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hàng năm nhằm cập nhật, bổ sung kiến thức mới đặc biệt là những kiến thức liên quan tới các luận cứ phản bác, nhận diện quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng và Nhà nước. Học viện cần có hoạt động để thúc đẩy các giảng viên tích cực tự học tập, nghiên cứu để nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm, tác phong mô phạm, đáp ứng yêu cầu giảng dạy. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cần chú trọng các kiến thức chuyên môn nhưng đồng thời bồi dưỡng các kỹ năng thiết kế bài giảng, tổ chức điều khiển, định hướng hoạt động, giải quyết các tình huống sư phạm trong điều kiện giảng dạy cho đối tượng là học viên của các lớp cao cấp. 

ii. Học viện tiếp tục quan tâm tạo môi trường khoa học rộng mở nhằm phát huy sức sáng tạo của giảng viên để nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên, tiếp tục tạo kiện để đội ngũ giảng viên tham gia vào các đề tài khoa học trong và ngoài Học viện, qua đó nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học, phục vụ tốt cho công tác giảng dạy.

iii. Nâng cao tinh thần kỷ luật, trách nhiệm, đạo đức, tác phong người giáo viên của giảng viên trường Đảng. Người giảng viên lý luận chính trị nói chung và giảng viên môn CNXH khoa học nói riêng cần tránh mọi biểu hiện tiêu cực, buông lỏng việc thực hiện nhiệm vụ, thiếu tinh thần trách nhiệm với nội dung, kiến thức bài giảng. Tránh tình trạng qua loa, hình thức, giảng bài cho xong mà không chú trọng đến nội dung kiến thức của bài giảng 

iv. Duy trì và thực hiện có hiệu quả công tác đưa đội ngũ giảng viên trẻ đi nghiên cứu thực tế dài hạn. Thông qua quá trình nghiên cứu thực tế, người giảng viên lý luận chính trị sẽ có cơ hội cập nhật các kiến thức thực tiễn cơ sở, thấy được thực trạng hoạt động sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên các ngành, lĩnh vực. Từ kết quả nghiên cứu thực tế, vận dụng vào nội dung bài giảng, làm cho bài giảng luôn phong phú, sinh động và sát với yêu cầu nhiệm vụ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.

Hai là, đổi mới phương pháp dạy và học

Đổi mới phương pháp giảng dạy đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa giảng viên và học viên, trong đó, giảng viên giữ vai trò chủ đạo, là nhân tố quyết định thành công của đổi mới. Giảng viên phải thực sự là người tâm huyết với nghề nghiệp và có phông kiến thức sâu rộng. Trước hết mỗi giảng viên phải tự nâng cao cho mình về kiến thức chuyên ngành, liên ngành và phương pháp giảng dạy, rút kinh nghiệm đồng thời phải bổ sung những phần còn yếu, còn thiếu. Phải tự mình ý thức việc tự học để không ngừng nâng cao hiểu biết, trau dồi về chuyên môn nghiệp vụ. Trong đó, quan trọng nhất là phải nắm chắc kiến thức về Triết học và Kinh tế chính trị học Mác - Lênin vì đây là những kiến thức nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với CNXH khoa học. Giúp giảng viên có kiến thức đa chiều, có cơ sở luận giải nhiều vấn đề trong quá trình giảng dạy CNXH khoa học. Giảng viên và học viên cần tìm đọc, nghiên cứu, nắm bắt các thông tin mới qua sách báo, tạp chí, mạng Internet và các phương tiện thông tin đại chúng để cập nhật thường xuyên, kịp thời những tri thức cũng như diễn biến thời sự trong nước và thế giới. Đồng thời, phải tích cực nghiên cứu các tài liệu chính thống, nhất là các tác phẩm kinh điển, các văn kiện Hội nghị, Đại hội Đảng... đây là dạng thực tiễn có độ tin cậy chính xác cao, vừa có tính cụ thể, vừa có tính khái quát giúp giảng viên và học viên trang bị cho mình những  luận cứ phê phán các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, giảng viên cần chú trọng nghiên cứu khoa học và xem đây là một nhiệm vụ không thể thiếu trong giảng dạy CNXH khoa học

Nghiên cứu khoa học là động lực thúc đẩy say mê nghề nghiệp, giúp cho giảng viên làm chủ được tri thức trên cơ sở độc lập suy nghĩ, sáng tạo, biết vận dụng tri thức vào bài giảng cũng như thực tiễn cuộc sống. Mỗi bài viết, mỗi đề tài, chuyên đề, vấn đề nghiên cứu đòi hỏi giảng viên phải vạch ra đề cương, đọc những tài liệu liên quan. Như vậy, là giảng viên sẽ có quá trình tích lũy về lượng để biến đổi về chất, chủ động hơn và hình thành được những phương pháp mới, tư duy mới.  Do đó, tri thức ngày càng được mở rộng và chuyên sâu. Giảng viên sẽ thực sự chủ động trước mọi vấn đề đặt ra và sẽ kết hợp tốt, sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp trong mỗi giờ giảng để nâng cao kết quả đào tạo.

Bốn là, đa dạng hình thức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Đại hội XII của Đảng xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”, “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan” [1, tr.115-116]. Đây không chỉ là đổi mới giáo dục, đào tạo ở nước ta nói chung mà còn là sự đổi mới trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở hệ thống học viện và các trường chính trị nói riêng. Do đó, cùng với đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy cần chú trọng việc đổi mới và đa dạng hình thức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Coi khâu thi, kiểm tra đánh giá kết quả học tập là một khâu đặc biệt quan trọng trong quá trình đào tạo. 

Học viện cần tiến hành đa dạng hóa các hình thức thi, kiểm tra và đánh giá học viên. Về hình thức thi, kiểm tra, đánh giá, chủ yếu bằng thi tự luận, thi vấn đáp và thi trắc nghiệm. Hiện nay, việc đánh giá học viên trong hệ thống Học viện vẫn được thực hiện thông qua hình thức thi tự luận, đề mở, học viên được tham khảo tài liệu liên quan. Trong xây dựng câu hỏi thi hết học phần, thi tốt nghiệp nên có nội dung thể hiện việc bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch. Dạng đề thi này giúp học viên thể hiện tốt năng lực tổng hợp trong phân tích, đánh giá, tổng kết thực tiễn, phát huy cao nhất sự sáng tạo cá nhân. Qua đó, việc đánh giá học viên chính xác, khách quan hơn. 

Kết luận 

Nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị trong đó có chất lượng giảng dạy môn CNXH khoa học là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết, là giải pháp quan trọng thiết thực góp phần triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Với nhiệm vụ trọng tâm là giảng dạy CNXH khoa học ở Học viện Chính trị khu vực I, các giảng viên đã không ngừng nỗ lực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ tri thức, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng phương pháp sư phạm để đáp ứng với mục tiêu yêu cầu giáo dục và đào tạo của Học viện, phù hợp với tình hình mới hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật,  Hà Nội. 

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 

[3] Hội đồng Lý luận Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2008), Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 

[4] Vũ Văn Hiền, (2020), Một số luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[5] Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai số 02-NQ/HNTW (khóa VIII), Về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, ngày 24/12/1996.

[6] Nguyễn Xuân Thắng (2017), Đổi mới, tăng cường công tác dạy và học lý luận chính trị, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên, phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị hiện nay, http://www.hcma.vn

Đọc thêm

Nguyên tắc và nội dung đổi mới phương pháp định hướng dư luận xã hội ở nước ta hiện nay

Tác giả: ThS Lưu Thị Thu Phương

(LLCT) - Nghiên cứu, nắm bắt, định hướng dư luận xã hội là một hoạt động quan trọng trong lãnh đạo, quản lý xã hội, do đó cần không ngừng được đổi mới công tác này để giúp cấp ủy, chính quyền phát hiện những điểm nóng về tư tưởng, kịp thời giải tỏa xung đột xã hội tiềm tàng. Bài viết tập trung làm rõ các phương pháp định hướng dư luận xã hội đang được sử dụng, nguyên tắc và nội dung đổi mới phương pháp định hướng dư luận xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Từ tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh

Tác giả: ThS. Cao Phan Giang

(GDLL) - Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh là những danh nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp cho dòng tư tưởng về dân ở Việt Nam. Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi hội tụ những giá trị vượt trội của thời đại phong kiến với và nhiều quan điểm tiến bộ về dân. Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là kết tinh của tư tưởng thân dân truyền thống cùng những giá trị tiến bộ của nhân loại trong ý thức hệ của giai cấp công nhân. Sự giống và khác nhau về hoàn cảnh lịch sử, ý thức hệ và bài học dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước của hai tác giả cho thấy sự vận động và phát triển liên tục của dòng tư tưởng về dân Việt Nam.

Một số vấn đề thực tiễn thi hành pháp luật về luật sư và kiến nghị nâng cao chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Đồng Ngọc Dám

(GDLL) - Thể chế, pháp luật về tổ chức và hoạt động của luật sư thời gian qua đã từng bước được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý cho luật sư và tổ chức hành nghề luật sư phát triển cả về số lượng và chất lượng. Bài viết tìm hiểu thực tiễn thi hành pháp luật về luật sư, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay.

Giáo dục ý thức dân tộc, lòng yêu nước cho thế hệ trẻ Việt Nam trong xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế

Tác giả: ThS NGUYỄN THÙY LINH - ThS TÀO THANH HUYỀN

(LLCT) - Ý thức dân tộc, lòng yêu nước là giá trị rất quan trọng đối với mỗi người dân trong việc xây dựng đất nước thành quốc gia phát triển, thịnh vượng, hòa bình, hạnh phúc trước những thách thức ngày càng gia tăng của toàn cầu hóa. Do đó, giáo dục ý thức dân tộc, đặc biệt là cho thế hệ trẻ, có vai trò vô cùng quan trọng, cần được thực hiện một cách bài bản, có hệ thống.

Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số

Tác giả: Trương Bảo Thanh - Nguyễn Đình Quỳnh

(GDLL) - Giáo dục và đào tạo là “chìa khóa” đem lại sự thành công và phát triển bền vững của mỗi quốc gia, là nhân tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực. Trên cơ sở làm rõ vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo trong xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bài viết phân tích thành tựu và hạn chế trong công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam trong kỷ nguyên số.