Thứ Sáu, ngày 22/09/2023, 13:56

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng có ý nghĩa quyết định đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Đinh Đức Thắng
Học viện Biên phòng.

(GDLL) - Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thường xuyên chăm lo củng cố và phát triển Đảng. Công tác xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn là vấn đề có tính quy luật, tính nguyên tắc trong mọi hoạt động và sự phát triển của Đảng, là nhân tố quyết định sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bài viết làm rõ quá trình nhận thức và thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng của Đảng và đề xuất một số giải pháp tiếp tục xây dựng chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới.

Đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị triển khai kiểm tra đối với Ban cán sự Đảng Bộ Nội vụ (nguồn: news.vnanet.vn)

Đặt vấn đề

Với mục đích xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là hai mặt của một quá trình thống nhất biện chứng, có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời. Đó là một thể thống nhất trong quá trình vận động và phát triển của Đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là quá trình không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; nhằm làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ cách mạng. Chỉnh đốn Đảng là để khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, làm cho Đảng mạnh lên, xứng đáng là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn gắn với quá trình phát triển liên tục của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.

1. Quá trình nhận thức và thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam là phải có một Đảng Cộng sản có “đường lối chính trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải đấu tranh mà trưởng thành”[1, tr.100]. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm gốc, đại biểu quyền lợi cho giai cấp vô sản và lãnh đạo giai cấp vô sản đấu tranh để đạt được mục đích cuối cùng của giai cấp vô sản là chủ nghĩa cộng sản. Kể từ đó với tư cách là một Đảng cách mạng chân chính, Đảng đã xác định vấn đề mấu chốt, có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của dân tộc và đối với bản thân của Đảng là Đảng phải không ngừng được xây dựng, tự chỉnh đốn, tự đổi mới, về mọi mặt để có đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đáp ứng với yêu cầu lãnh đạo trước sự phát triển của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dày công chuẩn bị những điều kiện về lý luận chính trị, tổ chức và cán bộ cho sự ra đời của Đảng, mà Người còn thường xuyên quan tâm đặc biệt đến công tác xây dựng Đảng. Người luôn nhận thức một cách sâu sắc rằng, cách mạng Việt Nam muốn thành công thì “trước hết phải có đảng cách mạng”, “Đảng có vững cách mạng mới thành công”, “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt” và trong thời đại ngày nay, “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”[9, tr.289]mà Đảng cần phải tuân theo để đưa cách mạng Việt Nam đến thành công. Với Người, công việc xây dựng đường lối, chiến lược, sách lược cho cách mạng Việt Nam luôn gắn liền với việc thường xuyên chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, coi đây là nhiệm vụ tất yếu, then chốt mang tính chiến lược.

Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 90 năm qua cho thấy xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải luôn được xem là công việc cơ bản, thường xuyên. Đảng đã đánh giá đúng về vị trí “then chốt”, tầm quan trọng đặc biệt của công tác xây dựng Đảng; làm rõ tính trọng tâm, trọng điểm trong tiến hành xây dựng Đảng toàn diện; từng bước hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách, chấn chỉnh công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng ngày càng thêm trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, Đảng cũng luôn thẳng thắn chỉ ra những sai lầm khuyết điểm qua các giai đoạn lịch sử: “Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng chưa được thể chế kịp thời, đầy đủ hoặc đã thể chế nhưng không khả thi. Chậm khắc phục tình trạng ban hành nhiều văn bản, một số văn bản còn chung chung dàn trải, chậm bổ sung, sửa đổi, thay thế... Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chú trọng công tác kiểm tra, giám sát; chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc”[8, tr.2]

Trước những cơ hội và thách thức của thời kỳ đổi mới, nếu Đảng không giữ vững bản chất cách mạng, không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng, không thống nhất cao về ý chí và hành động, không trong sạch về đạo đức, lối sống, không chặt chẽ về tổ chức, không được Nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Đảng đã ban hành Nghị quyết về Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Điểm mới trong nhận thức và cũng là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt thể hiện trong Nghị quyết là kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị, gắn với thực hiện tổng thể các nghị quyết khác của Đảng để khắc phục những khuyết điểm, yếu kém trong Đảng, trọng tâm là nhận diện, giải quyết 3 vấn đề cấp bách, 4 nhóm giải pháp. Trên cơ sở đó, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong đó xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức là vấn đề cơ bản. Nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, đưa việc thường xuyên giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức thành một nội dung quan trọng trong mục tiêu xây dựng Đảng là phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa xuất phát từ thực trạng đạo đức trong Đảng, vừa là yêu cầu xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Đây là bước phát triển nhận thức lý luận về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Nhìn lại hơn 35 năm đổi mới, có thể nhận thấy rằng, nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có những bước phát triển quan trọng; hơn lúc nào hết vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cần phải được giữ vững, củng cố và tăng cường. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”[6, tr.180].

2. Một số giải pháp tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới

Thứ nhất, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị. Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đổi mới; giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo trong hoạch định đường lối, chính sách và kịp thời thể chế hóa, triển khai thực hiện đúng đắn, hiệu quả. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược. Thực hành dân chủ trong Đảng gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Đây là những vấn đề rất quan trọng được tổng kết rút ra để bổ sung cho đầy đủ hơn, rõ hơn để tiếp tục xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị.

Thứ hai, tăng cường xây dựng Đảng về tư tưởng. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng nhưng theo hướng phải chủ động, thiết thực, hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải nắm chắc, dự báo đúng, định hướng chính xác, xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong xã hội. Chú trọng làm tốt tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải coi trong cập nhật kết quả nghiên cứu; sớm kết luận những vấn đề lý luận đã chín, đã rõ, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”, kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”[5, tr.3].

Thứ ba, tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức. Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên; học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Xây dựng các chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi trong công việc hằng ngày. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phi đạo đức.

Thứ tư, xây dựng Đảng về tổ chức. Đại hội XIII xác định: “Đẩy mạnh xây dựng Đảng về tổ chức; tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức, bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị”[6, tr.185]. Xây dựng Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị; nhấn mạnh đổi mới, hoàn thiện tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội, con người…, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng”[2, tr.4].

Thứ năm, về công tác cán bộ. “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”[3, tr.4]. Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Tăng cường xây dựng Đảng về cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu”[6, tr.187]. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; hoàn thiện thể chế, quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ. Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền.

Thứ sáu, về công tác kiểm tra, giám sát. Đại hội XIII xác định: “Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng”[6, tr.188]. Cải tiến, đổi mới phương pháp, quy trình, kỹ năng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Triển khai quyết liệt, thường xuyên, toàn diện, đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, phục vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những nơi dễ xảy ra vi phạm, nơi có nhiều bức xúc nổi cộm, dư luận quan tâm. Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; “Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị 05 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, phát hiện từ sớm, kịp thời ngăn chặn vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước...”[4, tr.4].

Thứ bảy, về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII khẳng định: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới[8, tr.1]. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng phải kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; làm rõ hơn nữa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn với nêu cao trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu; giữ vững sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm nguyên tắc quyền lực đi đôi với trách nhiệm, mọi cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, nguyên tắc và kỷ luật của Đảng. Phải chủ động, tích cực, có quyết tâm chính trị cao, đồng thời cần thận trọng, có bước đi vững chắc; vấn đề đã rõ thì kiên quyết đổi mới, vấn đề cần thiết nhưng chưa rõ, còn ý kiến khác nhau thì phải nghiên cứu, thí điểm, không nóng vội nhưng cũng không bỏ qua hoặc để chậm, ảnh hưởng đến sự phát triển; kế thừa, phát huy những thành tựu, kết quả, kinh nghiệm tốt trong phương thức lãnh đạo của Đảng đã được thực tiễn chứng minh là đúng.

Kết luận

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ đồng thời cũng là vấn đề khách quan, sống còn nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực đáp ứng ngày càng cao nhiệm vụ cách mạng. Thực hiện hiệu quả các giải pháp trên sẽ góp phần vào xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, bảo đảm sự tồn vong của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khoá XII “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", https://tulieuvankien.dangcongsan.vn

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2022), Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương, “về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn

[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2022), Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương, “về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.

[9] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

Đọc thêm

Vấn đề giai cấp trong Tác phẩm “thường thức chính trị” của chủ tịch Hồ Chí Minh với việc củng cố liên minh giai cấp trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Cung Thị Ngọc

(GDLL) - Bài viết góp phần làm sáng tỏ vấn đề giai cấp trong tác phẩm “Thường thức chính trị”** của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phương châm củng cố liên minh giai cấp công nhân - nông dân và đội ngũ trí thức của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong xây dựng đời sống văn hoá vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Lê Viết Cường

(GDLL) - Bài viết tập trung làm rõ vai trò và thực trạng phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong xây dựng đời sống văn hoá vùng dân tộc thiểu số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Nguyễn Văn Tặng

(GDLL) - Kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã, tồn tại dưới nhiều hình thức, phổ biến hơn cả là tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Bài viết làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế tập thể, quá trình vận dụng và phát triển nhận thức của Đảng về phát triển kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời gian qua. Từ đó, đưa ra một số giải pháp vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

C.Mác - Nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại

Tác giả: GS, TS Nguyễn Hùng Hậu

(LLCT) - C.Mác là nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại, đã có những phát kiến khoa học làm thay đổi cả thế giới, trong đó đặc biệt là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư. Khoa học đối với C.Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng, góp phần vào việc lật đổ xã hội tư bản, giải phóng giai cấp vô sản hiện đại. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh là người đầu tiên tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, từ đó đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Phản bác quan điểm sai trái, thù địch “Kinh tế tư nhân trở thành động lực phát triển là xa rời nền tảng tư tưởng, mất định hướng xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam”

Tác giả: Đỗ Đức Quân

(GDLL) - Trong quá trình đổi mới đất nước, việc giải quyết vấn đề sở hữu luôn là một trong những nhiệm vụ mà Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm và giải quyết, trong đó giải quyết vấn đề sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân là thành công hơn cả, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước qua từng giai đoạn phát triển trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Mặc dù vậy, các thế lực thù địch vẫn tập trung chống phá ác liệt; trong bài viết này, tác giả tập trung phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chỉ ra không gian tồn tại và giới hạn của kinh tế tư nhân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp căn cơ để tiếp tục thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế đất nước.