Thứ Sáu, ngày 22/09/2023, 14:22

Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thúy Hoa
Học viện Chính trị khu vực I.

(GDLL) - Trong những năm qua, với quyết tâm, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở nước ta đã có những chuyển biến cả về nhận thức, hành động, đóng vai trò tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Bài viết tập trung khái quát quá trình hình thành, phát triển quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật nhà nước về kiểm soát tài sản, thu nhập; làm rõ quá trình tổ chức thực hiện kiểm soát tài sản, thu nhập trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm kiểm soát tốt tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay.

Cao Bằng tổ chức bốc thăm lựa chọn người được xác minh tài sản, thu nhập năm 2023 (nguồn: news.vnanet.vn)

Đặt vấn đề

Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Với sự quyết tâm, nỗ lực của cả hệ thống chính trị, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức, hành động. Nhiều biện pháp đấu tranh phòng ngừa tham nhũng hiệu quả, trong đó đặc biệt là công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn được coi là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng hữu hiệu góp phần vào sự thành công của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiêu cực.

1. Quá trình hình thành và phát triển quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam

Ngay từ những năm đầu của chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về sự xuất hiện của nguy cơ tham nhũng. Người khẳng định: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta” và “Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”[5]. Vì vậy, ngày 27-11-1946, Người đã ký Sắc lệnh[6] phạt tội đưa và nhận hối lộ phải tù từ 5 đến 20 năm khổ sai; sau đó Người ký “Quốc lệnh” khép tội tham ô, trộm cắp vào tội tử hình. Luật pháp đó được thực thi hết sức nghiêm minh, bất kể người đó là ai, ở cương vị, hoàn cảnh nào.

Nhận thức rất rõ âm mưu“diễn biến hòa bình” và tham nhũng đang là những thách thức đe dọa sự ổn định, phát triển và sự tồn vong của chế độ, trong các văn kiện, nhất là Văn kiện Đại hội X và Văn kiện Hội nghị Trung ương 3 khóa X, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đây là những thách thức lớn mà Việt Nam phải vượt qua. Với quyết tâm chính trị đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa X đã ra Nghị quyết về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.

Trên bình diện quốc tế, trong giai đoạn này Việt Nam đã ký kết 2003) và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (2009). Công ước đã đề cập đến minh bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập: Khi thích hợp và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình, mỗi quốc gia thành viên nỗ lực thiết lập các biện pháp và cơ chế yêu cầu công chức báo cáo cơ quan có thẩm quyền về các vấn đề có liên quan trong đó có những hoạt động công việc, các khoản đầu tư bên ngoài hay tài sản hoặc quà tặng giá trị lớn, những thứ mà có thể gây xung đột lợi ích khi họ thực hiện công vụ”.

Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập được ban hành quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành những quy định về minh bạch tài sản, thu nhập bao gồm việc kê khai tài sản, thu nhập, công khai bản kê khai; giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm; xác minh tài sản, thu nhập; xử lý vi phạm các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện.

Tiếp đó, ngày 3/1/2014, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 33-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản, yêu cầu thực hiện thêm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản như quản lý bản kê khai và việc sử dụng, khai thác dữ liệu bản kê khai nhằm phát hiện tham nhũng...

Để chuẩn bị cho công tác xây dựng pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Thông báo số 116-TB/BCĐTW ngày 14/5/2015 của Ban chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng được trình tại phiên họp thứ 7 của Ban. Tổng Bí thư - Trưởng ban chỉ đạo đã kết luận: cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi toàn diện Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 để đáp ứng sát hơn các yêu cầu phòng, chống tham nhũng, hạn chế tình trạng tham nhũng vặt, làm rõ hơn quy trình, phương thức kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức.

Đến Đại hội XII (2016), Đảng tiếp tục khẳng định và bổ sung quan điểm về đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong đó có nội dung về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong các cơ quan. Đảng xác định: “Kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí với yêu cầu chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí”[3].

Kết quả đánh giá thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng trong Chu trình đầu tiên cho thấy, Việt Nam đáp ứng phần lớn các yêu cầu của công ước, đặc biệt là các yêu cầu mang tính bắt buộc. Chu trình đánh giá tiếp theo (đối với Chương 2 về phòng ngừa tham nhũng và Chương 5 về thu hồi tài sản) bắt đầu từ năm 2016 đã đặt ra những thách thức lớn đối với Việt Nam về hệ thống cơ sở pháp lý đồng bộ. Theo đó, cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong cả khu vực nhà nước và tư nhân một cách toàn diện như: mô hình cơ quan phòng, chống tham nhũng; các biện pháp nhận diện và kiểm soát xung đột lợi ích; xây dựng và tuân thủ các nguyên tắc liêm chính trong hoạt động kinh doanh; thực hiện các biện pháp và cơ chế thu hồi tài sản tham nhũng hiệu quả...

Việc sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 (sửa đổi các năm 2007, 2012) lần tiếp theo này có nhiệm vụ tạo ra một cơ chế phòng ngừa tham nhũng toàn diện, góp phần xây dựng một cơ chế quản lý nhà nước, quản lý xã hội công khai, minh bạch, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc ngăn chặn, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng. Luật mới cần được sửa đổi trên cơ sở bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, các quy định pháp luật khác có liên quan như Luật Dân sự, Luật Giao dịch điện tử, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam... Nhằm đảm bảo tính khả thi, tránh sự xung đột, nâng cao mức độ tuân thủ các yêu cầu của Công ước quốc tế Liên hợp quốc về Chống tham nhũng. Từ đó, tạo tiền đề cho Việt Nam thực hiện Chu trình đánh giá lần 2 về các biện pháp phòng ngừa và thu hồi tài sản.

Sau hơn một năm Luật phòng, chống tham nhũng (2018) có hiệu lực, với những nỗ lực cố gắng cụ thể hóa một số nội dung liên quan đến kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị có hiệu lực ngày 20/12/2020. Đây cũng là nội dung bắt nhịp với tinh thần chỉ đạo mới của Đại hội XIII trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030: “Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả;... tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng và công tác dân vận của Đảng...”[4].

2. Thực trạng kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn ở Việt Nam hiện nay

Sự nhất quán trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, cùng với hệ thống khung pháp lý dần được hoàn thiện, trong hai năm gần đây, công tác phòng ngừa tham nhũng đặc biệt là hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn được đôn đốc, triển khai với những bước chuyển biến rõ rệt:

Về nhận thức, Chính phủ trình Bộ Chính trị ban hành Quy định số 56-QĐ/TW ngày 08/02/2022 về Quy chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 phê duyệt Đề án “Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập”. Thủ tướng Chính phủ, Bí thư Ban Cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo[7] các cơ quan liên quan khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ cụ thể về công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực theo Thông báo Kết luận số 12-KL/TW ngày 06/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Về thực thi pháp luật Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng, tiêu cực gắn với việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; góp phần quan trọng vào việc thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý tham nhũng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và công dân, giữ vững an ninh chính trị - xã hội, bảo vệ chế độ và bảo đảm cho kinh tế - xã hội đất nước phát triển bền vững theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Các bộ, ngành, địa phương tăng cường phổ biến, quán triệt, tuyên truyền các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là những văn bản được ban hành trong năm 2021, 2022 dưới nhiều hình thức; đã xuất bản 656.526 đầu sách, tài liệu tuyên truyền về phòng chống tham nhũng, tiêu cực; tổ chức 96.393 lớp cho 3.207.177 lượt cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức... nhằm phổ biến, quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng chống tham nhũng, tiêu cực góp phần nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm đối với công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Ban Tuyên giáo Trung ương đã triển khai sơ kết 05 năm thực hiện Quy định số 65-QĐ/TW ngày 03/02/2017 của Ban Bí thư về chỉ đạo, định hướng cung cấp thông tin tuyên truyền phòng chống tham nhũng. Các cơ quan chức năng đã chủ động phối hợp với các cơ quan báo chí thông tin kịp thời kết quả các phiên họp, cuộc họp của Ban Chỉ đạo, kết quả xử lý kỷ luật của Đảng, kết luận thanh tra, kiểm toán, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng kinh tế.

Về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn năm 2022[1]đã có 542.337 người thực hiện kê khai tài sản, thu nhập. Trên cơ sở Quy chế phối hợp giữa các Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập được ban hành tại Quyết định số 56-QĐ/TW ngày 08/02/2022 của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt định hướng xác minh tài sản, thu nhập năm 2022[8]. Thanh tra Chính phủ đã có hướng dẫn và các bộ, ngành, địa phương khẩn trương triển khai việc xác minh tài sản, thu nhập theo kế hoạch hằng năm đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên.

Đến nay có 7.662 người được xác minh tài sản, thu nhập; 4.934 số cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được kiểm tra việc thực hiện các quy định về kê khai, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập. Qua việc xác minh tài sản, thu nhập, có 74 người kê khai chưa đúng quy định, đã chấn chỉnh, kiểm điểm, xử lý theo quy định. Quá trình kiểm tra, xác minh cũng đã phát hiện một số vi phạm như tình trạng sai sót trong kê khai tài sản, thu nhập như sử dụng biểu mẫu chưa đúng quy định, nhiều trường hợp người kê khai còn chủ quan, không nghiên cứu kỹ văn bản hướng dẫn, đồng thời cơ quan quản lý cán bộ chưa sâu sát trong việc hướng dẫn, kiểm tra, rà soát dẫn đến kê khai không đúng quy định; mặt khác, cũng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên nhiều bộ, ngành, địa phương không tổ chức được các hội nghị tập trung để quán triệt, hướng dẫn cụ thể và lưu ý về những điểm mới trong việc thực hiện kê khai tài sản, thu nhập nên phần nào ảnh hưởng đến kết quả thực hiện.

Về những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện, có thể thấy: Việc mô tả thông tin về tài sản và ghi giá trị tài sản còn có những cách hiểu chưa thống nhất. Người trong diện kê khai còn lúng túng khi phải tự định giá một số tài sản trước đây không phải kê khai, nay quy định mới phải kê khai. Theo hướng dẫn tại Nghị định số 130/2020/NĐ-CP tài sản, thu nhập phải kê khai có mục các khoản tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam mà tổng giá trị quy đổi từ 50 triệu đồng trở lên đã gây khó khăn trong việc xác định. Hay như việc xác định như thế nào là quyền sử dụng thực tế đối với đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyền sử dụng thực tế có phần đất ở và phần đất trng cây lâu năm cũng rất khó xác định là tách riêng hay gộp chung là đất ở.

Bên cạnh đó “nhà ở riêng lẻ” được xây dựng trên thửa đất riêng biệt nhưng sau đó là dùng vào mục đích khác (như để chăn nuôi, nuôi cấy)... khó để xác định đây là nhà ở hay là công trình xây dựng khác (là công trình xây dựng không phải nhà ở) như hướng dân của Phụ lục I của Nghị định số 130/2020/NĐ-CP. Chính vì vậy, việc xác định giá trị còn hiểu khác nhau nên khi thể hiện trong bản kê khai tài sản thiếu sự thống nhất ở một số cá nhân và đơn vị. Các quy định về nội dung các mẫu kê khai cũng chưa thống nhất (lần đầu, hàng năm); việc xác định giá trị từng loại tài sản, thời điểm phát sinh tài sản có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến việc kê khai cũng khác nhau; khi công khai bản kê khai tài sản khó xác định chính xác giá trị, chất lượng tài sản của người có nghĩa vụ phải kê khai.

Việc xác định đối tượng kê là người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp do Nhà nước cũng gặp nhiều khó khăn như: Trước ngày 05/5/2022 chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương Phó trưởng phòng của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Do vậy, dẫn đến việc lập danh sách người có nghĩa vụ kê khai đối với người giữ chức vụ từ tương đương với Phó trưởng phòng trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp do Nhà nước là không thống nhất và chưa thực sự trùng khớp với Kết luận số 35-KL/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

Sau khi có Kết luận số 35-KL/TW vẫn tồn tại một số khó khăn, như: Chưa có xác định đối với người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, người được cử làm đại diện phần vốn Nhà nước tại Doanh nghiệp. Cán bộ xã, phường, thị trấn được xác định là tương đương với Phó trưởng phòng trở lên bao gồm: Bí thư Đảng ủy, Phó bí thư Đảng ủy nhưng lại không được xác định trong danh mục tại Phụ lục III được ban hành kèm theo Nghị định 130/2020/NĐ-CP. Dẫn đến cấp chính quyền địa phương còn băn khoăn trong quá trình hướng dẫn triển khai thực hiện.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn ở Việt Nam thời gian tới

Một là, tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức về kiểm soát tài sản, thu nhập; kiên trì xây dựng văn hóa tiết kiệm, liêm chính, không tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân; đề cao sự gương mẫu trung thực, nói đi đôi với làm của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương trong hoạt động kê khai, kiểm soát tài sản thu nhập.

Hai là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, nhất là văn bản hướng dẫn thống nhất cho hoạt động kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập khắc phục các bất cập hiện có; Xây dựng Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2030 và kế hoạch tiếp tục thực hiện Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng, chuẩn bị các điều kiện pháp lý khi Việt Nam bước vào chu kỳ tiếp theo đó là trách nhiệm thu hồi tài sản, thu nhập khi chủ thể bị kiểm soát không chứng minh được/không đủ (chứng từ) chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản.

Ba là, hoàn thiện và thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, nhất là các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình tronghoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới...

Bốn là, tuân thủ kỷ luật, kỷ cương hành chính; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, thi hành án; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi gian dối trong kê khai, tẩu tán tài sản, thu nhập; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng…Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng chống tham nhũng, tiêu cực trước hết là cơ quan thanh tra nhà nước, kiểm toán nhà nước, cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ở các cấp, các ngành, các đơn vị chuyên trách về phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Năm là, hoàn thiện cơ chế phối hợp và phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các Tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, cơ quan báo chí - truyền thôngvà Nhân dân trong hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập. Đây chính là nghìn tai, nghìn mắt của Đảng trong phát hiện, đấu tranh với các hành vi gian dối, trục lợi, bưng bít thông tin làm sai lệch các quan điểm, chủ trương của Đảng trong minh bạch và hiệu quả của kiểm soát tài sản, thu nhập đối với người có chức vụ, quyền hạn.

Kết luận

Kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ công chức là một vấn đề mới, nhạy cảm do động chạm đến quyền tài sản, các quyền riêng tư cá nhân cần bảo vệ. Vì vậy để thực hiện được chế định này đòi hỏi nỗ lực từ quyết tâm chính trị đến xây dựng thể chế và tổ chức bảo đảm thực hiện. Muốn làm được điều đó, cần có sự lãnh đạo sát sao của các cấp ủy đảng, sự vào cuộc của bộ máy nhà nước và quan trọng là sự đồng thuận của nhân dân góp phần phòng ngừa, đấu tranh với mọi tiêu cực, sức ỳ của bộ máy kiểm soát trong hoạt động này. Có như vậy mới đảm bảo sự gắn kết giữa xây dựng pháp luật với thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập đối với người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam, góp phần minh bạch nền hành chính, xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

[1] Chính Phủ, Báo cáo số 410/BC-CP ngày 12/10/2022 về Công tác phòng, chống tham nhũng năm 2022.

[2] Chính phủ, Nghị định 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020Về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[6] Hồ Chí Minh (1946), Sắc lệnh số 223 ngày 27-11-1946.

[7] Liên hợp quốc (2003), Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, https://thuvienphapluat.vn

[8] Quốc hội (2018), Luật phòng chống tham nhũng, Luật số: 36/2018/QH14, https://thuvienphapluat.vn

Đọc thêm

Thực hiện chủ trương của Đảng về khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh

Tác giả: ThS Lê Quốc

(LLCT) - Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng”(1), chủ trương khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các công ty, các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh. Bài viết làm rõ vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự đổi mới trong nhận thức và thực tiễn phát triển doanh nghiệp tư nhân trong thời kỳ đổi mới. Từ đó, đề xuất giải pháp phát triển các công ty và tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao trong những năm tiếp theo.

Nâng cao phúc lợi xã hội cho nhân dân theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII

Tác giả: TS. Đỗ Văn Quân - ThS. Nguyễn Trọng Tuân

(TG) - Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, một trong những giải pháp để bảo đảm cho sự tiến bộ và công bằng xã hội trở thành hiện thực trên đất nước ta là thực hiện tốt phúc lợi xã hội.

Nâng cao khả năng thích ứng của nguồn nhân lực Việt Nam trước yêu cầu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Tác giả: Nguyễn Mai Phương

(GDLL) - Thế giới đã và đang chứng kiến những thay đổi to lớn về mặt khoa học, công nghệ do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại. Bài viết nghiên cứu về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay; Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng của nguồn nhân lực Việt Nam trước yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về an ninh mạng quốc gia và bảo vệ an ninh mạng quốc gia thời kỳ mới

Tác giả: Nguyễn Văn Nghĩa

(GDLL) - Bảo vệ chủ quyền, lợi ích và an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ là nhiệm vụ rất quan trọng, có tầm chiến lược. Phòng, chống tấn công mạng, tội phạm mạng và ứng phó với những nguy cơ mới đến từ không gian mạng đã trở thành vấn đề toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Bài viết đi sâu khái quát quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về an ninh mạng quốc gia và đề xuất một số giải pháp chủ yếu thực hiện có hiệu quả quan điểm của Đảng về an ninh mạng và bảo vệ an ninh mạng quốc gia thời kỳ mới.

TĂNG CƯỜNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hà

(GDLL) - Đối ngoại nhân dân góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, thúc đẩy đất nước phát triển. Bài viết khái quát một số kết quả đạt được trong đối ngoại nhân dân thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường đối ngoại nhân dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.