Thứ Bảy, ngày 30/09/2023, 07:47

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng và ý nghĩa đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay

Trần Thanh Sơn
Học viện Chính trị.

(GDLL) - Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ và thực hành dân chủ là nguyên tắc, nội dung cốt lõi và xuyên suốt trong xây dựng Đảng. Bài viết trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong xây dựng Đảng và nhấn mạnh ý nghĩa của thực hành dân chủ đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Hoàn thiện các cơ chế thực thi nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng trong giai đoạn mới (nguồn: news.vnanet.vn)


Đặt vấn đề

Thực hành dân chủ là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng Đảng, góp phần làm cho Đảng trong sạch vững mạnh. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng[12, tr.611]. Trong điều kiện Đảng cầm quyền hiện nay, quán triệt tư tưởng của Người về thực hành dân chủ trong Đảng, trong sinh hoạt của Đảng bộ là hết sức cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng.

1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng

Đảng là một tổ chức chính trị cách mạng tiên phong, do đó Đảng phải tiêu biểu cho giá trị chính trị trong đó có dân chủ. Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải dựa vào dân mà xây dựng Đảng, phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, phải nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên. Muốn làm gương thì điều quan trọng nhất là: “Phải đoàn kết, đoàn kết thực sự, làm sao tự mình nêu gương và giáo dục cho đảng viên giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng làm cho nhân dân, biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”[12, tr.293]. Trong Bài nói chuyện về bản tổng cương và điều lệ của Đảng, Người chỉ rõ: “Quyền lợi của đảng viên là ứng cử, tuyển cử, thảo luận, đề nghị phê bình (trong Đảng) cho như thế là cốt để phát triển tính tự giác, tinh thần tích cực, tinh thần phụ trách của đảng viên”[8, tr.373]. Thực hành dân chủ trong Đảng, biểu hiện trong những quyền cơ bản sau:

Thứ nhất quyền tự do ngôn luận trong Đảng

Đảng là tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân (với tư cách là đội tiên phong), là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam. Đảng viên đều tham gia tổ chức một cách tự giác, tự nguyện, việc giữ vững và thực hiện nghiêm minh các nguyên tắc của Đảng không chỉ là nguyện vọng của nhân dân mà còn là trách nhiệm của mỗi đảng viên. Trong từng tổ chức Đảng phải thực hành dân chủ, mở rộng dân chủ, khiến cho đảng viên cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Muốn vậy, Người chỉ đạo: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải gom góp ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt”[11, tr.544].

Mọi ý kiến, suy nghĩ của mỗi đảng viên đều phải được bày tỏ, được lắng nghe; mọi quyết định quan trọng đều phải được bàn bạc, thảo luận một cách dân chủ. Người còn đặc biệt nhấn mạnh việc thực hiện và phát huy dân chủ nội bộ trong mọi sinh hoạt và hoạt động của Đảng, bởi theo Người, không có dân chủ nội bộ sẽ làm cho: “nội bộ của Đảng âm u”[7, tr.320], sinh hoạt đảng không còn trong sáng nữa và do vậy đã bị suy yếu từ bên trong và một khi đã như vậy thì sớm muộn, Đảng cũng mất quyền lãnh đạo.

Thứ hai là quyền thảo luận trong Đảng, gắn liền quyền tự do tư tưởng, quyền bình đẳng bảo lưu ý kiến khác biệt của đảng viên

Trong Đảng, đảng viên có trách nhiệm tích cực tham gia thảo luận các vấn đề thuộc về đường lối, chủ trương của Đảng, có quyền chất vấn, tranh luận một cách thẳng thắn; đồng thời chú ý lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác. Khi đã thành quyết định của tập thể thì phải nghiêm túc chấp hành, không được phát ngôn tuỳ tiện hoặc lan truyền những ý kiến, quan điểm riêng của mình bên ngoài các hội nghị Đảng. Thảo luận để đảng viên đóng góp nhiều ý kiến thật sự có giá trị tổng kết thực tiễn, góp phần bổ sung vào lý luận; phát huy dân chủ đồng thời cũng tôn trọng những ý kiến phản biện. Người hướng dẫn trong bài viết Một cách thảo luận dự thảo điều lệ Đảng, trên Báo Nhân dân ngày 3/4/1960, đó là: “Trước khi thảo luận, mỗi một đồng chí phải nghiên cứu thật kỹ bản dự thảo Điều lệ Đảng. Khi thảo luận ở chi bộ thì mỗi đồng chí phải liên hệ đúng đắn Điều lệ Đảng với công tác của chi bộ và của mình để góp đầy đủ ý kiến với Đại hội Đảng”[11, tr.543].

Thứ ba là quyền tự phê bình và phê bình trong Đảng

Tự phê bình và phê bình là sự văn minh và tiến bộ của xã hội, nó không chỉ là một nhu cầu mà còn là một nguyên tắc, qui luật để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Trong Đảng, mọi đảng viên đều tự giác thực hiện tự phê bình và phê bình, qua đó, tạo ra sự thống nhất trong Đảng về tư tưởng, tổ chức, hành động và cùng để xây dựng Đảng thành một khối đoàn kết vững chắc, thống nhất và đoàn kết, là cái làm nên sức mạnh vô địch của một đảng lãnh đạo cách mạng thành công. Trong bài Phê bình đăng trên báo Nhân dân, số 16, ngày 12/7/1951, Hồ Chí Minh khẳng định: “Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ, cấp dưới có quyền phê bình cấp trên. Nhân dân có quyền phê bình cán bộ, phê bình chính quyền, Đảng và các đoàn thể. Mọi người có quyền phê bình nhau để cùng nhau tiến bộ. Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình”[9, tr.l14].

Tự phê bình và phê bình là công việc thường xuyên. Ngừng tự phê bình và phê bình tức là ngừng tiến bộ, tức là thoái bộ. Người ta luôn luôn cần không khí để sống. Người cách mạng và đoàn thể cách mạng cần tự phê bình và phê bình thiết tha như người ta cần không khí. Người nói: “Đảng hoan nghênh phê bình, thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa. Vì vậy Đảng ngày càng tiến bộ, càng mạnh mẽ. Trong nội bộ Đảng có dân chủ rộng rãi, đồng thời có kỷ luật nghiêm khắc”[10, tr.456].

Thứ tư là quyền làm chủ của đảng viên trong Đảng

Thực hành dân chủ trong Đảng là để đảng viên thực sự là chủ và làm chủ, khẳng định tính tiên phong của mình. Để dân chủ được phát huy cao độ, quyền làm chủ của đảng viên được thực hiện trên thực tế và đi vào thực chất, Đảng tạo ra môi trường dân chủ, qua đó xây dựng chế độ ta thực sự là một chế độ dân chủ và tạo ra “cái chìa khóa vạn năng” để Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thành công. Quyền làm chủ đảng viên gắn quyền ứng cử, tuyển cử, dân chủ không chỉ là quyền quý báu nhất của nhân dân, mà còn là một giá trị mang tính nhân văn và pháp lý.

Trách nhiệm của đảng viên là phải đi đầu, nêu gương, nói đi đôi với làm, gương mẫu làm trước để dân noi theo. “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” vẫn còn nguyên giá trị. Trong bài Tiêu chuẩn của người đảng viên, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: đảng viên tốt thì Đảng mới mạnh. Đảng mạnh thì mới làm trọn nhiệm vụ nặng nề. Nếu mỗi đảng viên và toàn thể đội ngũ đảng viên đều làm đúng nghĩa vụ của mình, đều giữ đúng lời hứa khi vào Đảng thì Đảng ta mạnh biết chừng nào. Tầm cao vĩ đại của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là ở hoạt động thực tiễn, ở phong cách sống, chiến đấu, làm việc, ở tấm gương quan hệ với mọi người, với môi trường thiên nhiên.

2. Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay

Theo Hồ Chí Minh, dân chủ là động lực thúc đẩy tiến bộ và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, không chỉ giáo dục nâng cao nhận thức về dân chủ mà phải thực hành dân chủ rộng rãi và dân chủ thật sự, đặc biệt là trong xây dựng Đảng. Dân chủ để bảo đảm đoàn kết, thống nhất, thực hiện công bằng và bình đẳng. Dân chủ là một nguyên tắc trong phương pháp lãnh đạo, quản lý của Đảng. Nước ta là nước dân chủ, nên nhân dân có và phải được quyền kiểm soát mọi hoạt động của Đảng nói riêng và công việc quản lý của Nhà nước nói chung.

Dân chủ là nhân tố, điều kiện có tính quyết định đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng đối với xã hội, là vấn đề tiên quyết cho sự phát triển bền vững của Đảng. Thực hành dân chủ và dân chủ thật sự vừa là nguyên tắc, nhưng cũng là bản chất, đạo đức và văn hóa lãnh đạo của Đảng.

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam là tập trung dân chủ. Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập cho đến nay, từ Điều lệ của Đảng, Hiến pháp, các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương đến các Báo cáo Chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc, dân chủ luôn là một trong những nguyên tắc hàng đầu trong hoạt động của Đảng. “Đảng tổ chức theo dân chủ tập trung”[1, tr.360]. Đặc biệt, từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng đã ra nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo nguyên tắc dân chủ, tập trung.

Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII đã nêu rõ: “Mọi cán bộ, đảng viên phải biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau, thật sự vì chân lý, lẽ phải. Đồng thời không “đoàn kết” hình thức, một chiều, nể nang, không dám đấu tranh”[1, tr.144-145]. Tiếp đến, Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII đã ra Nghị quyết về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX đã phê phán những yếu kém về vi phạm dân chủ trong công tác xây dựng Đảng: “Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết”[2, tr.138]. Đại hội IX đề ra nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ tiếp theo là: “Chống dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan hoặc lợi dụng dân chủ để mưu cầu lợi ích riêng, cục bộ, bản vị”[2 tr.144]. Với đường lối “Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”[3, tr.130], Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X đề ra một trong những nhiệm vụ cấp bách được khẳng định là: “Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; tăng cường quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân... Phát huy dân chủ đi đôi với giữ gìn kỷ luật trong Đảng”[3, tr.134]; đồng thời rút ra một trong những bài học kinh nghiệm chủ yếu qua 20 năm đổi mới trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng là: Phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật; thường xuyên tự phê bình và phê bình, nói thẳng, nói thật; giữ gìn và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đấu tranh kiên quyết đối với những phần tử cơ hội. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”[4, tr.84-85]. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân”[13]. Kế thừa và phát triển những quan điểm đó, Đại hội XIII của Đảng xác định “thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[5, tr.96]. Do đó, “phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”[6, tr.248] là một trong những điều kiện cần thiết và quan trọng, đáp ứng yêu cầu tiếp tục đổi mới đất nước trong thời gian tới. Vì thế cần “thực hiện đúng đắn, hiệu qủa dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở”[5, tr.173], chú trọng “thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”[5, tr.181].

Để giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh mỗi đảng viên, tổ chức đảng thường xuyên thực hành dân chủ, coi đó là thước đo thang giá trị văn hóa, đạo đức cách mạng của Đảng trong quá trình tự đổi mới về kỷ cương, tính chiến đấu, về tổ chức, nội dung và phương thức lãnh đạo.

Để Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng xứng đáng là đảng cầm quyền vững mạnh, đủ năng lực hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, Nhân dân và đất nước giao phó, mỗi đảng viên cần tiếp tục nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm túc việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gắn việc học tập với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Toàn thể đảng viên và các cấp bộ đảng từ chi bộ cơ sở đến Trung ương cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Cần thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chống quan liêu, bè phái, cục bộ, địa phương, lối làm việc vô nguyên tắc, vi phạm kỷ luật, vi phạm dân chủ. Để mở rộng dân chủ trong công tác sinh hoạt đảng, để Nghị quyết, chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng đi vào cuộc sống, phản ánh đúng và bảo đảm lợi ích của Nhân dân, cần tích cực triển khai và thực hiện tốt Quy chế dân vận, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận tổ quốc Việt Nam; kịp thời ngăn chặn những mầm mống nảy sinh những sai lầm, khuyết điểm của đảng viên, tập thể cấp bộ đảng, nhất là sự sa sút về phẩm chất của một bộ phận không nhỏ đảng viên có chức, có quyền như hiện nay; chủ động và tích cực đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát để đảm báo tính thường trực của thực hành dân chủ trong mọi công tác xây dựng Đảng.

Kết luận

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững chủ trương và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội, mọi vấn đề từ cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược đến chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng đều được tổ chức thảo luận rộng rãi trong Đảng và lấy ý kiến của nhân dân. Tất cả những phương thức và giải pháp thực hành dân chủ ở Việt Nam đã đưa tới kết quả tốt đẹp, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là biểu tượng về dân chủ và vấn đề cốt tử để xây dựng bảo vệ Tổ quốc chính là phải bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, tập1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[7] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[8] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội

[9] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội

[10] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[11] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội

[12] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[13] Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://vanban.chinhphu.vn


Đọc thêm

Phát triển tổ chức cơ sở đảng với vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với Nhân dân

Tác giả: PGS.TS. Lê Văn Cường

(TG) - Khái niệm tổ chức cơ sở đảng được gọi chung cho tất cả Đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở tùy thuộc vào số lượng đảng viên và yêu cầu nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị cơ sở. Thời gian qua, nội dung phát triển tổ chức cơ sở đảng với vai trò là hạt nhân chính trị, cầu nối giữa Đảng với Nhân dân luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng: “Chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên cũng từng bước được nâng lên, trên cơ sở thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, đặc biệt là Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về vấn đề này”(1).

Nâng cao nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên Việt Nam hiện nay

Tác giả: Th.S Lê Đình Dương

(GDLL) - Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Đối tượng mà chúng hướng tới là thanh niên, nhất là sinh viên, những người nhạy bén với cái mới, nhưng còn thiếu vốn sống và kinh nghiệm thực tiễn, kiến thức về chính trị - xã hội. Bài viết nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay.

Phát huy vai trò của công tác tư tưởng trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Tác giả: PGS.TS. Đào Duy Quát

(TG) - Đây là kết quả của bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về quốc phòng an ninh, đối tác đối tượng, về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quan điểm Hồ Chí Minh về điều kiện giữ vững quyền độc lập, tự do của dân tộc và sự vận dụng quan điểm đó trong giai đoạn hiện nay

Tác giả: Lê Văn Thuật

(GDLL) - Quyền độc lập, tự do của dân tộc là một trong những nội dung trọng tâm, xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, trong đó Người đã chỉ rõ những điều kiện cơ bản để giành, giữ và thực thi quyền độc lập, tự do của dân tộc. Trên cơ sở phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về điều kiện giữ vững quyền độc lập, tự do của dân tộc, bài viết luận giải một số vấn đề xây dựng, củng cố và phát huy những điều kiện nhằm giữ vững quyền độc lập tự do của dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Vai trò của Hồ Chí Minh đối với thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thủy

(GDLL) - Cách mạng Tháng Tám 1945 là biểu hiện cao nhất, kết quả minh chứng rõ nhất cho một hành trình dài Hồ Chí Minh chuẩn bị các điều kiện để hiện thực hóa khát vọng đem lại độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân. Bài viết phân tích vai trò của Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đó là: định hình đường lối chiến lược, sách lược cách mạng đúng đắn; dự báo sớm, nhận định đúng thời cơ cách mạng; phân hóa đối tượng, tranh thủ tận dụng hiệu quả sự giúp đỡ của các lực lượng; kiên quyết, kịp thời lãnh đạo nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa thành công.