Thứ Ba, ngày 19/03/2024, 08:50

Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu Chính phủ số ở Việt Nam hiện nay

Vũ Thị Hoài Phương
Học viện Chính trị khu vực I

(GDLL) - Trong quá trình xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam, đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò hết sức quan trọng. Thời gian qua, đội ngũ cán bộ, công chức đã nỗ lực hết mình để thực hiện chuyển đổi số, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại. Bài viết nghiên cứu về thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, góp phần xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam hiện nay.

 

Hội nghị ASEAN về 5G lần thứ 4 và Hội thảo về nền tảng số cho chính phủ số

(ảnh minh họa từ Thông tấn xã Việt Nam news.vnanet.vn)

Đặt vấn đề

Đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò quan trọng vào sự thành công của quá trình chuyển đổi số ở bất kỳ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam. Những năm qua Việt Nam đã nỗ lực xây dựng, đổi mới tổ chức, hoạt động của nhà nước với những biện pháp mạnh và đã đạt được nhiều thành công. Đội ngũ cán bộ, công chức là nhân tố chính quyết định những thành công đó. Vì vậy, cần nhận diện đúng vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong xây dựng Chính phủ số để từ đó có giải pháp xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trong điều kiện hiện nay.

1. Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam hiện nay

Chính phủ số là Chính phủ hoạt động an toàn trên môi trường số, có mô hình hoạt động được thiết kế lại và vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số, để có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, đưa ra quyết định kịp thời hơn, ban hành chính sách tốt hơn, sử dụng nguồn lực tối ưu hơn, kiến tạo phát triển, dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia, giải quyết hiệu quả những vấn đề lớn trong phát triển và quản lý kinh tế - xã hội. Trong xây dựng Chính phủ số nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cán bộ là gốc của mọi công việc, vì họ là người đem những chính sách của Đảng và Chính phủ, giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[5, tr.269]. Trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là các văn kiện từ Đại hội VI đến nay, vấn đề cán bộ, công chức luôn được Đảng quan tâm. Đột phá chiến lược thứ hai được Đại hội XIII của Đảng xác định là: “Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”[4, tr.127]. Thực hiện Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, trong Quyết định số 146/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, đã xác định: “Phát triển nguồn nhân lực là then chốt để thực hiện chuyển đổi số hiệu quả và bền vững, giúp thực hiện thành công các mục tiêu trong Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”[6],Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 67 NQ-CP ngày 15/7/2021, Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030, đã xác định mục tiêu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức: “Tiếp tục xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ nhân dân, trên cơ sở những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong giai đoạn 2021-2030”[2].

Trong xây dựng, phát triển Chính phủ số, đội ngũ cán bộ, công chức thể hiện vai trò là những trụ cột chính: Là nguồn nhân lực chuyên trách về công nghệ số - Đây là nguồn nhân lực đóng vai trò chủ chốt trong chuyển đổi số của mọi tổ chức và cơ quan nhà nước; là những nhân sự chuyên trách về quản lý nguồn nhân lực của các tổ chức nói chung và khu vực nhà nước nói riêng- Chuyển đổi số đòi hỏi phải chuyển đổi số ngay chính bộ phận nhân sự này của từng tổ chức, cơ quan; là người lao động làm việc cho tổ chức và cho nhà nước- Đây là lực lượng đông đảo nhất của tổ chức trong tiến trình chuyển đổi số.

2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam thời gian qua

Những năm qua, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, từng bước được nâng lên, cơ cấu hợp lý hơn. Đội ngũ công chức đã trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn. Đội ngũ công chức có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều công chức năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế... Trên thực tế, đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các bộ, ngành, cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân từng bước được nâng lên về trình độ chuyên môn, chất lượng và hiệu quả công tác. Cùng với tinh gọn bộ máy nhà nước, đội ngũ công chức cũng được sắp xếp lại, bảo đảm chất lượng. Công tác quản lý biên chế công chức được thực hiện thống nhất trên cả nước theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, bảo đảm thống nhất, đồng bộ giữa quản lý biên chế công chức với tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; kết hợp giữa quản lý biên chế công chức với tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm của công chức là cơ bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đa số các bộ, ngành, địa phương chấp hành tốt các quy định của pháp luật, thực hiện quản lý và sử dụng đúng, thậm chí ít hơn số biên chế được giao.

Theo báo cáo của các bộ, ngành địa phương, tính đến tháng 3 năm 2020, tổng số lượt công chức được đào tạo, bồi dưỡng trong cả giai đoạn 2016 - 2020 tại các bộ, ngành là 594.654 lượt người, trong khi đó, tại các tỉnh, thành phố, số lượng là hơn 1.151.654 triệu lượt công chức Tổng số viên chức tại các bộ, ngành trung ương và các tỉnh, thành phố được đào tạo, bồi dưỡng cũng tăng đều qua các năm. Năm 2019 có số lượng viên chức được đào tạo, bồi dưỡng tăng gấp 2,7 lần so với năm 2016, từ hơn 419 nghìn lên hơn 1,1 triệu lượt viên chức [3].

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, đội ngũ công chức còn một số hạn chế nhất định: đội ngũ cán bộ chưa thực sự mạnh, cơ cấu cán bộ công chức, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu công chức xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế. Tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đề ra. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế; một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm[5]. Theo tổng hợp của Bộ Nội vụ, tính đến 31/12/2022, tổng số công chức hành chính cấp huyện trở lên là 254.757 người; Tổng số cán bộ, công chức cấp xã là 256.393; Tổng số viên chức 1.743.326; Số lượng chuyên viên cao cấp là 2.706[9]. Những con số đó cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức dù đã được tinh gọn nhưng chưa thực sự mạnh, chưa đáp ứng yêu cầu của đổi mới mạnh mẽ nền hành chính nhà nước.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu Chính phủ số ở Việt Nam hiện nay

Quá trình chuyển đổi số muốn thành công rất cần đội ngũ cán bộ, công chức đủ về số lượng và bảo đảm về chất lượng. Trong điều kiện chuyển đổi số hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức đòi hỏi phải phát triển toàn diện về thể lực, trí lực và tâm lực. Quá trình chuyển đổi số của Việt Nam hiện nay diễn ra nhanh chóng và cùng với đó là đòi hỏi về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cũng phải thay đổi cho phù hợp. Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định giải pháp: “Rà soát, cập nhật khung năng lực, chuẩn kỹ năng công nghệ thông tin tích hợp kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước...”[8]

Để xây dựng Chính phủ số, cần thực hiện một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức sau:

Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện quan điểm chính sách, pháp luật về phát triển đội ngũ cán bộ, công chức trong bối cảnh Chính phủ số.

 Xác định đội ngũ cán bộ, công chức là nguồn nhân lực quan trọng quyết định sự thành công cũng như hiệu quả của Chính phủ số; Đảng và Nhà nước cần thống nhất quan điểm về vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật phát triển cán bộ, công chức.Trong các văn kiện của Đảng cũng đã nhấn mạnh vai trò của nhân tố con người và phát huy nguồn nhân lực quốc gia. Chính phủ cũng đã phê duyệt Quyết định số 899/QĐ- TTg ngày 31 tháng 7 năm 2023, của Thủ tướng Chính phủ về “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần cụ thể hoá các nghị quyết của Đảng thành chính sách cụ thể nhằm nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn và kỹ năng công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức.

Thứ hai, tuyên truyền, giáo dục đối với đội ngũ cán bộ, công chức về cải cách hành chính và Chính phủ số.

Trước hết, cần nâng cao nhận thức về sự cần thiết cũng như vai trò của cải cách hành chính và chuyển đổi Chính phủ số. Đó vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là nhu cầu thực tế nhằm nâng cao hiệu quả của bộ máy nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, đồng thời phục vụ nhân dân. Cần xây dựng chương trình, nội dung và tiến hành các biện pháp tích cực để nâng cao nhận thức cho cán bộ công chức về Chính phủ số. Thông qua công tác tuyên truyền giáo dục, cán bộ, công chức sẽ nhận thức rõ hơn về Chính phủ số; về chuyển đổi số - Những vấn đề đặt ra; bắt đầu từ đâu và vận hành như thế nào? Đội ngũ cán bộ, công chức phải làm gì và làm như thế nào để vận hành được Chính phủ số? Đây là công việc quan trọng cần được tiến hành trên quy mô toàn quốc, ở mọi cấp, mọi ngành, cơ quan, tổ chức... với nhiều hình thức phong phú, phù hợp với các đối tượng.

Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức. Đào tạo, bồi dưỡng được coi là hoạt động quan trọng nhất trong phát triển nguồn nhân lực của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia.Đào tạo, bồi dưỡng công chức là một thành tố quan trọng trong tổng thể công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực khu vực công nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực, ngang tầm nhiệm vụ. Công tác bồi dưỡng công chức theo năng lực phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước và chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. Để dào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đảm bảo chất lượng cần tiến hành đồng bộ niều công việc cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng như: (a) Trước hết cần rà soát, đánh giá tổng thể về năng lực, kết quả thực hiện nhiệm vụ và phân tích nhu cầu đào tạo để phân loại cán bộ, công chức bồi dưỡng theo năng lực;(b) Hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, các bản mô tả công việc, khung năng lực để làm căn cứ đào tạo, bồi dưỡng theo năng lực; (c) Xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp bồi dưỡng phù hợp, thích ứng với yêu cầu mới của thực tiễn công tác và chính phủ số; (d) Xây dựng và sử dụng đội ngũ giảng viên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có chất lượng.

Thứ tư, nâng cao ý thức, đạo đức nghề nghiệp, ý thức phục vụ nhân dân cho đội ngũ cán bộ, công chức.Cải cách nền hành chính nhà nước được tiến hành đồng bộ trên các lĩnh vực, trong đó nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức được xem là nhiệm vụ quan trọng tác động đến các yếu tố khác của nền hành chính.Chính phủ số đòi hỏi một đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chuyên nghiệp trong thực thi công vụ, tác phong nhanh, tính chính xác, sự nghiêm túc, đam mê và sáng tạo trong công việc; đồng thời có ý thức đạo đức trong sáng, tinh thần phục vụ cao, làm việc tâm huyết, cống hiến hết mình. Công chức phải làn việc với điều kiện áp lực công việc cao, trong khi lương và chế độ đãi ngộ chưa thực sự tương xứng thì đây là một thách thức không nhỏ. Chính vì vậy cần đẩy mạnh giáo dục đạo đức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, công chức đối với công việc, đối với tổ chức, có đạo đức nghề nghiệp, năng động sáng tạo, khả năng thích ứng cao...

Thứ năm, đầu tư cơ sở vật chất cho chuyển đổi số đồng thời hoàn thiện chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ, công chức.

Theo Bộ Nội vụ, tính từ ngày 01/01/2020 đến 30/6/2022, số lượng cán bộ, công chức, viên chức nghỉ việc, thôi việc là 39.552 người, chiếm 1,94% tổng số biên chế được giao. Trong đó, ở Bộ, ngành có 7.102 người, chiếm 17,96% (công chức là 1.505 người, chiếm 21,19%; viên chức là 5.597 người chiếm 78,81%); ở địa phương có 32.450 người, chiếm 82,04% (công chức là 2.524 người, chiếm 7,78%; viên chức là 29.926 người, chiếm 92,22%)[9]. Một trong các lý do khiến cán bộ, công chức rời bỏ khu vực công là do lương thấp, chế độ đãi ngộ chưa phù hợp, đời sống cán bộ, công chức còn gặp nhiều khó khăn. Khắc phục tình trạng này, Đảng và nhà nước cần đầu tư cơ sở vật chất để hiện đại hoá nền hành chính, đảm bảo hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số; tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh lương và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, đời sống được nâng lên sẽ là nguồn động viên để cán bộ, công chức yên tâm cống hiến, đóng góp vào sự thành công của công cuộc chuyển đổi số, nâng ccao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước...

Kết luận

Xây dựng phát triển chính phủ số là xu hướng tất yếu của thời đại, là đòi hỏi khách quan đối với Việt Nam trong điều kiện nhà nước kiến tạo, phát triển. Quá trình xây dựng chính phủ số và vận hành hiệu quả đòi hỏi đội ngũ công chức nhà nước đảm bảo năng lực và chất lượng. Nhận thức đúng vai trò của đội ngũ công chức trong xây dựng chính phủ số và thực hiện đồng bộ một số giải pháp trên sẽ góp phần quan trọng vào nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở Việt Nam hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018), Nghị quyết số 26 - NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ

[2] Chính phủ (2021), Nghị quyết 67/NQ-CP, Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, ngày 15/7/2021

[3] Chính phủ, Báo cáo 128/BC - CP Tổng kết Chương trình tống thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 và định hướng giai đoạn 2021 - 2030

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2,Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội.

[5] Hồ Chí Minh (2011),Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[6] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”

[7] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020, phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

[8] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021,phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030.

[9] Số liệu thống kê ngành nội vụ, https://moha.gov.vn

Tin liên quan

Đọc thêm

Nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Lã Minh Tuyến

(GDLL) - Bảo đảm an sinh xã hội trở thành vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước. Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã cơ bản xây dựng được một hệ thống an sinh xã hội đồng bộ, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập. Bài viết tập trung làm rõ thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối với chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Phát triển nguồn lực lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Lê Quang Hiển

(GDLL) - Nguồn lực lao động có vai trò trọng yếu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trên cơ sở phân tích chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực trạng sử dụng nguồn lực lao động Việt Nam hiện nay trên ba khía cạnh: số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn lực lao động, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.

Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Trần Thị Thanh Mai

(GDLL) - Chính quyền địa phương là chủ thể có vai trò quan trọng trong tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người. Trước yêu cầu bảo vệ, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam, việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương là yêu cầu cấp thiết đang được đặt ra. Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương. Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương trong giai đoạn mới.

Chính sách an sinh xã hội đối với việc làm bền vững của lao động di cư ở Việt Nam - thực trạng và một số vấn đề đặt ra

Tác giả: Nguyễn Đình Quỳnh - Trương Bảo Thanh

(GDLL) - Di cư được xem là cơ hội thúc đẩy sự phát triển đồng đều, rộng khắp và giảm sự khác biệt vốn có giữa các vùng. Lao động di cư được coi là lực lượng rất quan trọng cho nền kinh tế - xã hội của đất nước. Bài viết làm rõ quan điểm về việc làm bền vững và đặc điểm sinh kế của lao động di cư, chính sách của Đảng và Nhà nước cho lao động di cư ở Việt Nam hiện nay, nêu lên một số thành tựu, chỉ ra hạn chế và đưa ra kiến nghị điều chỉnh chính sách giúp lao động di cư tiếp cận với việc làm bền vững.

Giải pháp thực hiện Cam kết của Việt Nam về "Net zero" vào năm 2050

Tác giả: Phạm Tú Tài

(GDLL) - Tại Hội nghị các Bên tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP 26), Việt Nam đã ký cam kết đạt mức phát thải ròng khí nhà kính bằng không vào năm 2050 (Net Zero). Bài viết tập trung phân tích những tác động của phát thải khí nhà kính, dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu; nỗ lực của Việt Nam trong giảm phát thải khí nhà kính và đề xuất một số giải pháp Việt Nam cần thực hiện trong lộ trình "Net Zero" vào năm 2050.