Thứ Ba, ngày 19/03/2024, 09:00

Tính độc đáo của nền đối ngoại, ngoại giao mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”

Bùi Giang Nam
Học viện Chính trị khu vực I

(GDLL) - Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, nền đối ngoại, ngoại giao (bao gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân) luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng. Trên cơ sở phân tích đường lối đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới và những thành tựu đã đạt được, bài viết làm sáng tỏ tính độc đáo của nền ngoại giao Việt Nam hiện nay, đó là nền đối ngoại, ngoại giao mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”.

 

Giới thiệu cuốn sách của Tổng Bí thư về xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam

(ảnh minh họa từ Thông tấn xã Việt Nam news.vnanet.vn)

 

Đặt vấn đề

Hiện nay, bối cảnh thế giới vẫn đang diễn biến phức tạp, nhanh chóng và nhiều biến động. Xu hướng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của thế giới. Trật tự thế giới mới tiếp tục biến đổi phức tạp, quá trình và dịch chuyển quyền lực tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong cả kinh tế, chính trị và an ninh toàn cầu. Cạnh tranh giữa các nước lớn tiếp tục trở thành yếu tố bao trùm trong quan hệ quốc tế, tạo ra những biến đổi sâu sắc chưa từng có tiền lệ. Do đó, nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam cần định hình một bản sắc riêng để thực hiện vai trò “đi đầu trong kiến tạo hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và thu hút nguồn lực cho phát triển đất nước”[10].

1. Cơ sở nền tảng cho nền đối ngoại, ngoại giao “Cây tre Việt Nam”

Tính độc đáo của nền đối ngoại, ngoại giao “Cây tre Việt Nam” xuất phát từ những cơ sở nền tảng sau đây:

Một là, triết lý và truyền thống ngoại giao của dân tộc.

Ngay từ khi bắt đầu đặt nền móng xây dựng một quốc gia độc lập, ông cha ta đã sớm ý thức về mối quan hệ bang giao đối với các nước láng giềng. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những bài học phải trải bằng xương máu của nhiều thế hệ đã để lại những triết lý sâu sắc trong đường lối ứng xử với ngoại bang: mềm mỏng, hòa hiếu, nhân nghĩa, khoan dung đầy tính nhân văn. Triết lý, tinh thần đó nằm ngay trong giá trị, chuẩn mực của văn hóa truyền thống như: “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại”, “một điều nhịn, chín điều lành”, “lạt mềm buộc chặt”, “một lần bất tín, vạn lần mất tin”, “có đi có lại mới toại lòng nhau”, “bán anh em xa mua láng giềng gần”; lấy lẽ phải, công lý và chính nghĩa để thuyết phục lòng người. Những giá trị đó đã hòa vào kế sách dựng nước và giữ nước, thể hiện sâu sắc nghệ thuật ngoại giao “công tâm”, “bền bỉ, kiên trì”, “biết người, biết ta”, “biết thời, biết thế”, “cương nhu kết hợp”, “tiến lúc mạnh, thoái lúc yếu”, “khoan hòa, linh hoạt” mềm mỏng nhưng cũng rất quyết liệt để bảo vệ giang sơn xã tắc, độc lập tự chủ. Trần Hưng Đạo đã viết trong tác phẩm Binh thư yếu lược: “Hòa mục là đạo rất hay trong việc trị nước hành binh. Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh, hòa ở ngoài biên thì không sợ báo động” [5, tr.42-43], Nguyễn Trãi cũng dạy trong Bình Ngô đại cáo: “Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tôi; thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh; nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ lòng thú phục; ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi”. “Nghĩ vì kế lâu dài của nhà nước; tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh; sửa hòa hiếu cho hai nước; tắt muôn đời chiến tranh”[4, tr.160]. Đó là tư tưởng, triết lý ngoại giao "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân để thay cường bạo" Trước khi ra lệnh xuất quân ra Bắc, đại phá quân Thanh, vua Quang Trung cũng đã nhận thức: “Quân Thanh sau khi thua, tất lấy làm xấu hổ, quyết không muốn hòa hiếu. Nhưng, hai nước đánh nhau, cũng không phải là phúc cho dân. Nên nay, chỉ có người nào khéo về giấy tờ (giỏi thương lượng, đàm phán), mới có thể ngăn được họa binh đao.[1].

Kiên quyết, khôn khéo, mềm dẻo, biết người biết ta, thể hiện tinh thần hòa hiếu, giữ hòa khí hữu nghị với các nước lân bang, thân thiện với các nước láng giềng là một trong những bản sắc truyền thống nổi bật của ngoại giao Việt Nam.

Hai là, tư duy biện chứng, phát triển của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

Nhận định về xu hướng phát triển xu thế phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB), C.Mác khẳng định, quốc tế hóa là xu thế khách quan, gắn liền với quá trình phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa; cách mạng cộng sản chủ nghĩa là cuộc cách mạng có tính chất toàn thế giới, đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản là tất yếu. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”.

V.I.Lênin chỉ rõ: “Khẩu hiệu của chúng ta: trước đây và bây giờ là chung sống hòa bình với các chính phủ khác... Bản thân cuộc sống đã khiến chúng ta và các nước khác phải xây dựng mối quan hệ lâu dài giữa chính phủ công nông với chính phủ của giai cấp tư sản”[6].

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng, trực tiếp chỉ đạo và dẫn dắt sự phát triển của nền ngoại giao cách mạng của nước Việt Nam hiện đại. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh được hình thành và kết tinh từ thực tiễn hoạt động cách mạng của Người và truyền thống ngoại giao của cha ông, đồng thời nâng những giá trị đó lên tầm cao mới trong dòng chảy thời đại, vừa kiên quyết, vừa khôn khéo, thể hiện phong cách và nghệ thuật ngoại giao độc đáo, riêng biệt. Người đưa ra nguyên tắc: “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “hòa để tiến”, “phân hóa kẻ thù” “tự lực cánh sinh”..., tất cả đều phục vụ cho lợi ích cao nhất của quốc gia, dân tộc, nhân dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước ta là một bộ phận của thế giới. Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta”, trong đó nội lực đóng vai trò quyết định, phải giữ vững độc lập, tự chủ; trên cơ sở nội lực, phải khôn khéo, có những biện pháp để phát huy ngoại lực, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Người quan niệm đối ngoại là một mặt trận, “Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”[5, tr.346].

Những tư tưởng, phương châm và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh góp phần định hình nên trường phái ngoại giao Việt Nam. Đó là nét độc đáo thấm đậm truyền thống dân tộc, bản sắc ngoại giao riêng biệt, mang hơi thở của thời đại và tinh thần bất khuất của nhân dân ta.

Ba là, từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, từ quá trình đấu tranh giành độc lập đến những bài học của thời kỳ mở cửa, hội nhập toàn diện với thế giới.

Trong gần 80 năm qua, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, gắn với sự biến động của thời cuộc và tình hình hình thế giới. Thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước đã khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng trên mặt trận đối ngoại, ngoại giao.

Bước vào thời kỳ đổi mới, mục tiêu của nền đối ngoại Việt Nam là phá thế bao vây cấm vận, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, các nước xã hội chủ nghĩa (XNCH) ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt tan rã và tình hình trong nước rất khó khăn.

Trong bối cảnh đó, tại Đại hội VI (12/1986), Đảng đã đánh giá chính xác cục diện thế giới để xác định lại đường lối, chính sách đối ngoại trong tình hình mới. Chủ trương đối ngoại thay đổi có tính chiến lược của Việt Nam được xác định tại Đại hội VII (1991), theo đó Việt Nam muốn là bạn, là đối tác với các nước trên thế giới và mở rộng, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại. Nhận thức mới về thời đại và cục diện thế giới đã mở đường, tạo điều kiện để Việt Nam phá thế bao vây cô lập, phát triển rộng rãi quan hệ đối ngoại. Việt Nam đã lần lượt bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1991, với Mỹ năm 1995, gia nhập ASEAN năm 1995 và thúc đẩy quan hệ với các nước láng giềng, khu vực và các tổ chức đa phương toàn cầu[7].

Trong sự chuyển biến của thế giới và khu vực ngày càng nhanh, Đại hội VIII (1996) đã khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại. Nền đối ngoại, ngoại giao tiếp tục được đổi mới với quan điểm mới về đối tác - đối tượng, về hợp tác và đấu tranh trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX (2003). Đây là cơ sở để Việt Nam hóa giải điểm bất đồng, gia tăng điểm song trùng lợi ích trong trong quan hệ quốc tế. Một hướng đột phá mới trong giai đoạn này là chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế tại Đại hội VIII, Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006).

Đại hội XI (2011) đã nâng tầm từ hội nhập kinh tế sang “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” một cách toàn diện. Tại Đại hội XII (2016), Đảng có quyết sách chính trị quan trọng về tiếp tục mở rộng phạm vi, lĩnh vực và mức độ hội nhập. Đại hội XIII (2021) đề ra chủ trương “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”; xác định rõ vị trí, vai trò tiên phong của đối ngoại trong "tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước"[9].

Đến nay, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 nước, ký kết và nâng cấp quan hệ với 30 quốc gia, trong đó đối tác chiến lược toàn diện có các nước lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản. Việt Nam cũng là đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 17/20 thành viên G-20, hầu hết các nước ASEAN. Việt Nam chủ động đàm phán nhiều FTA, trong đó có 2 FTA thế thệ mới là Hiệp định CPTPP, Hiệp định EVFTA và ký Hiệp định RCEP[9].

2. Nét độc đáo của ngoại giao “Cây tre Việt Nam”

Tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 14-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát biểu tượng của nền đối ngoại, ngoại giao mang đậm bản sắc dân tộc như “Cây tre Việt Nam”, là sự kết hợp hài hòa giữa gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển. Gốc vững là lợi ích của nhân dân, thân chắc là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cành uyển chuyển là nghệ thuật ngoại giao đúng đắn, hiệu quả, kịp thời.

Tính độc đáo của nền đối ngoại Việt Nam được thể hiện ở một số nội dung cơ bản:

Thứ nhất, cây tre là hình tượng cho sự mềm dẻo linh hoạt như nghệ thuật ngoại giao. Thực tế cho thấy, nền đối ngoại Việt Nam ngay từ khi ra đời, mà Bác Hồ là ngoại trưởng đầu tiên, đã phải đứng trước bao nhiêu thử thách. Nếu không có sự mềm dẻo, linh hoạt thì không thể đối với phó với thù trong giặc ngoài. Ngay trong những ngày đầu của nhà nước Việt Nam non trẻ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất khôn khéo chèo lái cách mạng Việt Nam bằng nghệ thuật đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh ngoại giao, khéo léo đuổi quân Tưởng Giới Thạch về nước, tìm kế hòa hoãn cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi với Pháp bằng Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Tạm ước 14/9/1946, cứu vãn Hội nghị Fontainebleau và kéo dài thêm một khoảng thời gian hòa bình quý giá cho Việt Nam tiếp tục xây dựng, củng cố lực lượng cho tới ngày Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946. Với Hiệp định Geneve và Hiệp định Paris, ta đã tìm cách chấm dứt sự có mặt của Pháp, Mỹ tại Việt Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Việt Nam đã khéo léo hóa giải những mâu thuẫn trong nội bộ khối các nước XHCN, đặc biệt là mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của cả hai nước bạn. Tình hình càng khó khăn hơn sau khi Việt Nam đưa quân tình nguyện, chuyên gia sang giúp Campuchia và căng thẳng biên giới với Trung Quốc hơn 10 năm. Chính sự mềm dẻo và thay đổi chiến lược trong chính sách quan hệ quốc tế và Việt Nam đã từng bước gỡ bỏ được thế bao vây, cấm vận của Mỹ và nước nước phương Tây, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1991, đặt quan hệ đối ngoại với Hàn Quốc năm 1992, bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995, trở thành thành viên các nước ASEAN năm 1995, củng cố mới mối quan hệ tốt đẹp với các nước khối XHCN ở Đông Âu. Từ năm 2011, Đảng xác định Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong quan hệ quốc tế. Trên cơ sở đó, ta chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt giữa tất cả các nước về chế độ chính trị, dân tộc, tôn giáo. Việt Nam mong muốn gác lại quá khứ, hướng tới tương lai trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm căn cốt.

Thứ hai, hình tượng cây tre là biểu tượng của tinh thần đoàn kết.

Cây tre Việt Nam gắn bó với đời sống nhân dân bằng biểu tượng của lũy tre, khóm tre, rừng tre. Cây tre không đứng một mình đơn lẻ mà luôn gắn kết với nhau, đó là biểu tượng của sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam.

Tinh thần đoàn kết vồn là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Những bài học trong quá trình dựng nước và giữ nước đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu để chúng ta vận dụng và phát huy truyền thống này.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, nền ngoại giao phải tận dụng những thế mạnh của Việt Nam để mở rộng hợp tác với tất cả các nước. Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng hoạt động đối ngoại, đó là: “Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương... Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng... Đoàn kết, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác”[8].

Đảng đã đề ra chủ trương xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Trong đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngoại giao nhà nước là lực lượng chủ công, với sự phối hợp nhịp nhàng giữa các binh chủng làm đối ngoại là ngoại giao, quốc phòng, an ninh, kinh tế đối ngoại và các lĩnh vực khác. Chính sự đoàn kết chặt chẽ những trụ cột và binh chủng này đã, đang và sẽ “nên lũy, nên thành”, tạo nên sức mạnh tổng hợp của mặt trận đối ngoại để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Sự thay đổi nhận thức, coi hội nhập là "sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị" đã trở thành "định hướng chiến lược lớn" làm thay đổi về hành động, từ hội nhập kinh tế quốc tế là chủ yếu sang hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện, sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực.

Thứ ba, hình tượng cây tre tiêu biểu cho lợi ích cao nhất của quốc gia dân tộc, đó là nền độc lập tự chủ, tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam.

Cây tre mềm mại luôn gắn với hình ảnh ngả nghiêng trong gió bão, nhưng lại rất kiên cường, bất khuất. Hình tượng cây tre gắn với tinh thần chống giặc ngoại xâm của Phù Đổng Thiên vương, gắn với những chiến lũy, cung tên, giáo mác thô sơ mà anh dũng.

Trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam vẫn không hề mất đi và nền đồi ngoại, ngoại giao Việt Nam cũng luôn thể hiện tinh thần đó, dù các thế lực cường quyền, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dân túy, và cực hữu nổi lên thách thức nền an ninh toàn cầu và kinh tế thế giới. Trước tình hình đó, cách tiếp cận và hướng giải quyết trong đối ngoại mối quan hệ “bạn- thù”, “đối tác - đối tượng”[3] của Việt Nam vừa uyển chuyển linh hoạt vừa trên cơ sở kiên định những nguyên tắc, lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc.

Phương châm đối ngoại của Việt Nam trong mọi hoàn cảnh, với mọi vấn đề, giữa Việt Nam và các đối tác là “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, chuyển hóa linh hoạt giữa đối tác và đối tượng. Thời thế cho chúng ta nhận thức rõ hơn, rằng: “không có kẻ thù vĩnh cửu”, bạn - thù đều có giai đoạn, thời thế lúc thịnh lúc suy, thời cơ và nguy cơ cùng song hành. Do đó, cần biết tranh thủ những mặt xung đột của các “đối tượng” để có lợi cho ta. Bài học lịch sử cho thấy không ai có thể buộc Việt Nam phải “chọn phe”. Chúng ta sẽ chọn lợi ích của quốc gia - dân tộc, chọn lẽ phải, chọn chính nghĩa, chọn công lý để ứng xử trong quan hệ quốc tế, đồng thời làm tất cả để bảo đảm ổn định chế độ chính trị, an ninh quốc gia, khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việt Nam ý thức được rằng, chỉ có sức mạnh nội sinh mới tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Chỉ có độc lập, tự chủ về chính trị - kinh tế - văn hóa, chúng ta mới có thể tự tin đứng vững trước những biến động của thế giới hiện nay.

3. Phát huy mạnh mẽ bản sắc ngoại giao “Cây tre Việt Nam” trong tình hình mới

Nền đối ngoại, ngoại giao mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”, dù đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, nhưng trong tình hình Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, cần phải tiếp tục phát huy những thuận lợi, khắc phục khó khăn để tạo điều kiện cho phát huy sức mạnh nội sinh của quốc gia.

Trước hết, nền đối ngoại, ngoại giao phải đảm bảo giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đặc thù của đối ngoại là sử dụng các phương thức, biện pháp hòa bình để ngăn ngừa, hóa giải và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, qua đó góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia.

Hai là, tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại, không để bị động, bất ngờ. Nhiệm vụ này đòi hỏi tính nhanh nhạy, nắm bắt và phân tích thông tin, tình huống, chủ động nhận diện thời cơ và thách thức, phát hiện các vấn đề mới, tham mưu chiến lược, tìm đối tác và hướng đi thuận lợi cho phát triển đất nước.

Ba là, tìm kiếm, huy động cao nhất sự ủng hộ, các nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước. Bên cạnh nhiệm vụ phát hiện các vấn đề về an ninh quốc gia, đối ngoại cần tiếp tục hỗ trợ trong nước để phát triên kinh tế - thương mại, tranh thủ hiệu quả các yếu tố quốc tế thuận lợi, các hiệp đinh thương mại tự do đã ký và các cam kết, thỏa thuận quốc tế nhằm mở rộng thị trường, thu hút tri thức, công nghệ và đầu tư phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần tăng cường năng lực tự chủ của nền kinh tế và sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đối ngoại cũng tranh thủ các mối quan hệ chính trị tốt đẹp để xử lý các vấn đề phức tạp trong hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế.

Bốn là, dẫn dắt mở đường, đồng hành, phục vụ lợi ích của người dân, địa phương và doanh nghiệp trong hội nhập quốc tế. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030 đề ra định hướng “xây dựng nền ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, lấy người dân, địa phương và doanh nghiệp làm trung tâm”. Đây là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng “lấy dân là gốc” trong đối ngoại, bởi việc thực hiện các nhiệm vụ đối ngoại xét đến cùng là nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Năm là, nâng cao vị thế và uy tín đất nước thông qua phát huy vai trò tiên phong, nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải, đảm nhận tốt các trọng trách quốc tế, đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào quan tâm chung của thế giới.

Kết luận

Hình tượng cây tre Việt Nam là hình tượng tiêu biểu cho nền đối ngoại, ngoại giao trong thời kỳ đổi mới, cho truyền thống, cốt cách, tinh thần, sức sống của dân tộc Việt Nam. Hình tượng đó cũng tiêu biểu cho khát vọng vươn lên sánh vai với các cường quốc, cho vị thế vững vàng, cho mùa Xuân tràn đầy mầm xanh tương lai, hy vọng phát triển của đất nước Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

[1] Trần Ngọc Ánh (2009), “Ngoại giao Tây Sơn - Những tư tưởng đặc sắc và bài học lịch sử”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 1/2009.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[3] Phạm Quang Minh-Nguyễn Hồng Hải (2021), Vấn đề đối tác và đối tượng trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng từ nhận thức đến thực tế, https://www.tapchicongsan.org.vn

[7] Phạm Bình Minh (2021), Những dấu ấn của công tác đối ngoại trong 35 năm đổi mới: Đồng hành cùng dân tộc, phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân, https://baoquocte.vn

[4] Hoàng Khôi (2001), Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.

[5] Lưu Văn Lợi (2000), Ngoại giao Đại Việt, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội.

[6] Thái Văn Long (2021), Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và một số lý thuyết quan hệ quốc tế trong xây dựng đường lối đối ngoại, http://lyluanchinhtri.vn

[8] Bùi Thanh Sơn (2021), Đường lối đối ngoại Đại hội Đảng XIII kế thừa, phát triển và hoàn thiện đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, https://dangcongsan.vn

[9] Thành tựu của đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, https://www.tapchicongsan.org.vn

[10] Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 28, năm 2013, https://tapchiqptd.vn

[11] Nguyễn Phú Trọng (2021), Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số 980, tháng 12-2021.

Đọc thêm

Đảng lãnh đạo đẩy mạnh công tác địch vận, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954

Tác giả: Trần Thị Thúy Hà

(GDLL) - Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 kết tinh cho sức mạnh, trí tuệ và sự đoàn kết toàn dân tộc, sự đóng góp to lớn của các lĩnh vực, các mặt trận trong đó có công tác địch vận. Bài viết nêu lên những đóng góp quan trọng của công tác địch vận dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó rút ra một số kinh nghiệm về nội dung này, có giá trị khơi dậy niềm tự hào, tiếp tục phát huy nghệ thuật quân sự Việt Nam trong đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Phát triển nông nghiệp sinh thái theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Tác giả: Phí Thị Nguyệt

(GDLL) - Ngày nay, phát triển nền nông nghiệp sinh thái là xu hướng của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, để tăng tính chống chịu với các rủi ro khí hậu và phi khí hậu cũng như để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Trên cơ sở nhận diện vị trí, vai trò của phát triển nông nghiệp sinh thái; quan điểm của Đảng về phát triển nông nghiệp sinh thái; đánh giá khái quát một số mô hình phát triển nông nghiệp sinh thái ở Việt Nam, bài viết đề xuất một số giải pháp tiếp tục phát triển mô hình nông nghiệp sinh thái ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Phát huy “Hào khí” Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới

Tác giả: Nguyễn Văn Nghĩa

(GDLL) - Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chiến dịch Điện Biên Phủ (13-3 đến 7-5-1954) đã giành thắng lợi vang dội, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, góp phần đưa hội nghị Giơ-ne-vơ đến thành công; là sự phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự, nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Từ “hào khí” chiến thắng Điện Biên Phủ, bài viết gợi mở những nội dung phát huy "hào khí" đó vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Thực hiện chủ trương của Đảng về khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh

Tác giả: ThS Lê Quốc

(LLCT) - Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng”(1), chủ trương khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các công ty, các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh. Bài viết làm rõ vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự đổi mới trong nhận thức và thực tiễn phát triển doanh nghiệp tư nhân trong thời kỳ đổi mới. Từ đó, đề xuất giải pháp phát triển các công ty và tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao trong những năm tiếp theo.

Nâng cao phúc lợi xã hội cho nhân dân theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII

Tác giả: TS. Đỗ Văn Quân - ThS. Nguyễn Trọng Tuân

(TG) - Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, một trong những giải pháp để bảo đảm cho sự tiến bộ và công bằng xã hội trở thành hiện thực trên đất nước ta là thực hiện tốt phúc lợi xã hội.